PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam đang là một trong những quốc gia thu hút đầu tư nước ngoài trực tiếp (foreign direct investment, FDI) từ các quốc gia phát triển trên thế giới, trong đó có Liên minh châu Âu (European Union, EU)1. Để xúc tiến hoạt động đầu tư tương xứng với tiềm năng của các bên2, trong những năm gần đây, Việt Nam và EU đã thực hiện ký kết hai hiệp định mang tính toàn diện và tổng thể là Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (European-Vietnam Free Trade Agreement, EVFTA) và Hiệp định bảo hộ đầu tư Việt Nam-EU (European-Vietnam Investment Protection Agreement, EVIPA). Đây là hai hiệp định tự do thương mại và đầu tư thế hệ mới.
Trong đó, EVIPA ra đời trên cơ sở tách ra độc lập từ EVFTA nhằm tạo lập một cơ chế đảm bảo đầu tư và giải quyết tranh chấp đầu tư hiệu quả. Các nội dung của EVIPA, đặc biệt là cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, là một kết quả tất yếu, phản ánh quan điểm của EU về việc tạo ra một thế hệ hiệp định bảo hộ đầu tư mới, có sự cân bằng lợi ích giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước tiếp nhận đầu tư, đảm bảo lợi ích của cả hai bên một cách khách quan nhằm hướng đến mục tiêu phát triển bền vững không chỉ cho quốc gia có nhà đầu tư nước ngoài mà cả quốc gia tiếp nhận đầu tư và rộng hơn là cho cả thế giới. Nhìn nhận một cách tổng thể, chúng ta sẽ thấy rằng, sự tiến triển và phát triển của đầu tư quốc tế diễn ra một cách rất có hệ thống. Ban đầu, có thể nhìn thấy mối quan hệ đầu tư quốc tế được hiểu là giữa các quốc gia với nhau và, do vậy, vấn đề giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế được diễn giải theo hướng giữa quốc gia với quốc gia với cơ chế thường được áp dụng theo các quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization, WTO).
Tuy nhiên, trong quá trình thực thi, những yếu kém bộc lộ vì cơ chế này không phản ánh được bản chất của hoạt động 1 Lê Duy Bình, Trần Thị Phương (2020), EVFTA, EVIPA và sự hội nhập của Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu trong thế giới hậu Covid-19, Phái đoàn EU tại Việt Nam. 2 “FDI của EU vào Việt Nam chỉ chiếm khoảng chưa tới 6,41% tổng số vốn Việt Nam thu hút được. Xét về mặt dự án, chỉ chiếm khoảng 6,69%. Đây là một tỷ lệ rất nhỏ so với tiềm năng hợp tác giữa Việt Nam và EU.
Đặc biệt, tính toán theo số liệu thống kê của Eurostat và Tổng cục Thống kê, tỷ trọng đầu tư vào Việt Nam chỉ dao động từ 2-5% so với tổng số vốn FDI mà EU phân bổ trên thế giới”; Báo Công Thương, “FDI của EU vào Việt Nam ra sao trong bối cảnh thực thi EVFTA và EVIPA”, https://vntr.vn/vi/news/fdi-cua-eu-vao-viet-nam-ra-sao-trong-boi-canh-thuc-thi- evfta-va-evipa, 01/07/2023. 2 đầu tư quốc tế và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, là một loại tranh chấp đặc biệt vừa thuộc lĩnh vực công pháp quốc tế vì liên quan đến chủ thể quốc gia, vừa thuộc lĩnh vực tư pháp quốc tế vì liên quan đến chủ thể là nhà đầu tư nước ngoài. Điều này dẫn đến sự quan ngại và ảnh hưởng tâm lý của nhà đầu tư nước ngoài. Do vậy, cơ chế mới ra đời, cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước tiếp nhận đầu tư bằng trọng tài (Investor-State Disputes Settlement, ISDS).
Cơ chế trọng tài ISDS được ghi nhận trong các hiệp định tự do thương mại và hiệp định đầu tư nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, đến lượt mình cơ chế này cũng bộc lộ nhiều hạn chế cần được khắc phục. EU là chủ thể đi đầu trong việc khắc phục các hạn chế đó thông qua việc tạo ra một cơ chế mới thay thế cho cơ chế trọng tài ISDS đang sử dụng, cơ chế Tòa đầu tư thường trực, là một cơ chế phù hợp hơn đối với loại tranh chấp mang tính đặc thù này. Cách tiếp cận này của EU được thể hiện rõ trong các hiệp định đàm phán về tự do thương mại và hiệp định đầu tư cả với các quốc gia từ châu Mỹ cho đến châu Á, từ Canada đến Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore và Việt Nam.
Trong số các quốc gia này, tính đến thời điểm hiện nay, Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên 3 chấp thuận cơ chế giải quyết tranh chấp Tòa đầu tư thường trực của EVIPA thông qua việc phê chuẩn EVIPA. Ngoài ra, EVIPA vẫn tiếp tục kế thừa và giữ lại các cơ chế truyền thống không có tính chất tố tụng như thương lượng, hòa giải và tham vấn. Đồng thời, đối với tranh chấp giữa các quốc gia liên quan đến việc áp dụng và giải thích hiệp định, EVIPA vẫn cho phép áp dụng cơ chế trọng tài để giải quyết. Đối với tranh chấp đầu tư quốc tế giữa nhà đầu tư và nhà nước tiếp nhận đầu tư thì sẽ được giải quyết thông qua Tòa đầu tư thường trực nếu thương lượng, hòa giải và tham vấn không có kết quả.
Đến nay, EVIPA đang trong quá trình hoàn tất việc phê chuẩn bởi các thành viên của EU. Để chuẩn bị cho quá trình thực thi và áp dụng EVIPA cần thiết phải có sự nghiên cứu một cách toàn diện, tổng thể các vấn đề về tranh chấp đầu tư quốc tế, các cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế theo EVIPA và các quy định pháp luật liên quan về cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và chính phủ 3 European Commission, “Negotiations and agreements” (Các đàm phán và thỏa thuận), https://policy.eu/eu-trade-relationships-country-and-region/negotiations- and-agreements_en, 01/10/2023. Vì thế, tác giả lựa chọn đề tài: “Cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế theo Hiệp định EVIPA” làm luận văn thạc sỹ. Tình hình nghiên cứu đề tài Liên quan đến cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế nói chung và cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế theo hiệp định EVIPA nói riêng, đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện bởi các tổ chức, cơ quan nhà nước như Bộ Kế hoạch Đầu tư 4, Bộ Tư pháp và các học giả, chuyên gia trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế.
Thực tế, đa số các nghiên cứu này được thực hiện trước khi Việt Nam phê chuẩn EVIPA. Theo đó, các nghiên cứu thường chỉ ra các cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế theo cơ chế sử dụng trọng tài quốc tế là chủ yếu. Đồng thời, các nghiên cứu này cũng đã chỉ ra xu hướng hình thành tòa đầu tư để giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế theo một cơ chế mới. Cụ thể: Một loạt các nghiên cứu như: Nguyễn Minh Hằng (2012) với "Giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và chính phủ nước tiếp nhận đầu tư - Một vài suy nghĩ đối với Việt Nam 5, Nguyễn Thu Thủy (2013) với "Địa vị của quốc gia với tư cách là một bên tranh chấp trong thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại và đầu tư quốc tế"6, Nguyễn Thị Việt Hoa, Cao Thị Hồng Vinh (2017) với “Tác động của các Hiệp định đầu tư song phương tới dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam”7, Trần Ngọc Thuý (2018) với “Thực tiễn giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế của trọng tài ICSID và kinh nghiệm cho Việt Nam”8, Nguyễn Thị Anh Thơ (2019) với "Cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam là thành viên"9, Trần Thị Hồng Nhung (2019) với “Lý luận và thực tiễn giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và quốc gia tiếp 4 Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2022), Báo cáo nghiên cứu giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong bối cảnh thực thi Hiệp định EVFTA, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
5 Nguyễn Minh Hằng (2012), "Giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và chính phủ nước tiếp nhận đầu tư - Một vài suy nghĩ đối với Việt Nam", Tạp chí Luật học, số 10/2012. 6 Nguyễn Thu Thủy (2013), "Địa vị của quốc gia với tư cách là một bên tranh chấp trong thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại và đầu tư quốc tế", Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 4/2013. 7 Nguyễn Thị Việt Hoa, Cao Thị Hồng Vinh (2017), “Tác động của các Hiệp định đầu tư song phương tới dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam”, Tạp chí quản lý và kinh tế quốc tế, số 91/2017. 8 Trần Ngọc Thuý (2018), “Thực tiễn giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế của trọng tài ICSID và kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí Pháp luật và thực tiễn, Số 01/2018.
9 Nguyễn Thị Anh Thơ (2019), "Cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam là thành viên", Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 21 T11/2019. 4 nhận đầu tư: Áp dụng đối với Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay”10 đều nêu những vấn đề chung như: Phân tích các cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư, trong đó, tập trung vào cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế bởi trọng tài, chỉ ra các thách thức cho Việt Nam, cũng như tác động của hiệp định đối với dòng vốn FDI. Trần Việt Dũng, Nguyễn Thị Lan Hương (2018) với nghiên cứu “Giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế: một số vấn đề pháp lý và thực tiễn trong bối cảnh hội nhập” có những điểm mới. Theo đó, nghiên cứu tập hợp các bài viết của các tác giả là những chuyên gia nghiên cứu trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế.
Nghiên cứu chỉ ra những tồn tại của cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế bởi trọng tài, những thách thức pháp lý trong thời đại mới, cũng như đề cập đến sự hình thành của tòa án đầu tư quốc tế11 .Cụ thể, nghiên cứu nêu rõ: Cơ chế tòa án đầu tư được thiết kế sẽ xoay quanh bốn yếu tố cốt lõi12, bao gồm: (i) Đề cao tính độc lập và gắn liền trách nhiệm của thành viên hội đồng thành viên xét xử; (ii) Đề cao tính minh bạch; (iii) Tính hệ thống và ổn định, thể hiện ở khâu tổ chức, quy trình tố tụng, quy chế hoạt động, công nhận và thi hành phán quyết; và (iv) Quy định về thời gian xét xử cho từng giai đoạn một cách cố định. Nguyễn Văn Cương (2022) với “Cơ chế giải quyết tranh chấp Thương mại và Đầu tư ở các quốc gia thành viên hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương”.