Cơ cấu chi ngân sách nhà nước thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững tại Việt Nam

Chuyên khảo kinh tế phân tích Cơ cấu chi ngân sách nhà nước thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững ở việt nam, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Trường đại học

Học viện Tài chính

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

163
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Hiểu đúng cơ cấu chi ngân sách cho kinh tế bền vững

Phát triển kinh tế bền vững là một mục tiêu chiến lược của mọi quốc gia, bao gồm ba trụ cột chính: tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Để đạt được mục tiêu này, vai trò của nhà nước trong kinh tế là vô cùng quan trọng, đặc biệt thông qua công cụ chính sách tài khóa. Trong đó, cơ cấu chi ngân sách nhà nước thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững đóng vai trò then chốt, quyết định việc phân bổ nguồn lực quốc gia vào các lĩnh vực ưu tiên. Một cơ cấu chi hợp lý không chỉ kích thích tăng trưởng mà còn đảm bảo an sinh xã hội và hướng tới tăng trưởng xanh. Về bản chất, chi tiêu công là quá trình nhà nước sử dụng quỹ ngân sách để thực hiện các chức năng của mình. Cơ cấu chi phản ánh cách thức tổ chức, sắp xếp các khoản chi theo thứ tự ưu tiên, thể hiện qua tỷ trọng chi cho các lĩnh vực khác nhau. Luận án tiến sĩ của Dương Tiến Dũng (2021) nhấn mạnh, việc điều chỉnh cơ cấu chi theo từng thời kỳ là yếu tố cốt lõi của chính sách tài khóa. Thay vì chỉ tập trung vào tăng trưởng GDP đơn thuần, một cơ cấu chi hiệu quả phải hướng đến sự phát triển toàn diện, nơi con người là trung tâm và môi trường được bảo tồn. Điều này đòi hỏi sự cân bằng giữa chi đầu tư phát triểnchi thường xuyên, cũng như ưu tiên nguồn lực cho các ngành mang lại giá trị dài hạn. Việc nghiên cứu và hoàn thiện cơ cấu chi ngân sách không chỉ là vấn đề kỹ thuật tài chính, mà còn là một quyết sách chính trị, phản ánh tầm nhìn và định hướng phát triển của đất nước trong dài hạn.

1.1. Khái niệm cốt lõi về phát triển kinh tế bền vững

Phát triển kinh tế bền vững được định nghĩa là sự phát triển đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Đặc trưng của nó bao gồm ba yếu tố không thể tách rời. Thứ nhất là tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định, thể hiện qua các chỉ số GDP và thu nhập bình quân đầu người. Thứ hai là phát triển bao trùm, đảm bảo công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo và mọi người dân đều được hưởng thành quả từ sự phát triển. Thứ ba là bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, kiểm soát ô nhiễm và ứng phó với biến đổi khí hậu. Mục tiêu này đòi hỏi một cách tiếp cận tổng thể, nơi các chính sách kinh tế, xã hội và môi trường phải được lồng ghép chặt chẽ với nhau.

1.2. Vai trò của nhà nước trong kinh tế qua chi tiêu công

Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước sử dụng chi tiêu công như một công cụ điều tiết vĩ mô hữu hiệu. Vai trò của nhà nước trong kinh tế không chỉ giới hạn ở việc duy trì bộ máy hành chính mà còn mở rộng ra việc cung cấp hàng hóa công cộng, khắc phục các thất bại của thị trường và định hướng phát triển. Thông qua việc phân bổ ngân sách nhà nước, chính phủ có thể tác động trực tiếp đến tổng cầu, thúc đẩy đầu tư vào cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ, giáo dục và y tế. Một cơ cấu chi hợp lý sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho khu vực tư nhân phát triển, đồng thời đảm bảo các mục tiêu xã hội và môi trường, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và xây dựng nền tảng cho sự thịnh vượng lâu dài.

II. Top thách thức cơ cấu chi ngân sách tại Việt Nam nay

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, cơ cấu chi ngân sách nhà nước của Việt Nam vẫn đối mặt với không ít thách thức trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững. Giai đoạn 2011-2020 cho thấy những tồn tại, hạn chế cần được khắc phục. Một trong những vấn đề lớn nhất là hiệu quả chi ngân sách chưa cao, đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư công. Tình trạng đầu tư dàn trải, chậm tiến độ, và lãng phí vẫn còn tồn tại, làm giảm tác động lan tỏa đến tăng trưởng. Bên cạnh đó, áp lực từ nợ công và phát triển bền vững ngày càng gia tăng. Việc duy trì bội chi ngân sách để đáp ứng nhu cầu phát triển đã làm nợ công tăng nhanh, gây rủi ro cho an ninh tài chính quốc gia. Cơ cấu chi vẫn còn nặng về chi thường xuyên, đặc biệt là chi cho bộ máy hành chính, trong khi nguồn lực dành cho các lĩnh vực then chốt như chi cho khoa học và công nghệ hay bảo vệ môi trường còn hạn chế. Sự mất cân đối trong phân bổ ngân sách nhà nước giữa các ngành và các địa phương cũng là một thách thức, có thể dẫn đến chênh lệch phát triển và ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển bao trùm. Việc tuân thủ Luật Ngân sách nhà nước và các quy định về quản lý tài chính công cần được siết chặt hơn nữa để đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm giải trình.

2.1. Phân bổ ngân sách nhà nước chưa tối ưu cho tăng trưởng

Thực trạng cho thấy việc phân bổ ngân sách nhà nước còn tồn tại một số bất cập. Tỷ trọng chi đầu tư phát triển trong tổng chi có xu hướng giảm trong một số giai đoạn, ảnh hưởng đến việc hiện đại hóa kết cấu hạ tầng. Nguồn vốn đầu tư công chưa thực sự đóng vai trò là "vốn mồi", dẫn dắt và thu hút các nguồn lực xã hội khác. Hơn nữa, cơ cấu chi tiêu trong nội bộ ngành kinh tế đôi khi chưa hợp lý, chưa tập trung vào các ngành có giá trị gia tăng cao và công nghệ tiên tiến, làm chậm quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu.

2.2. Áp lực nợ công và phát triển bền vững trong dài hạn

Vấn đề nợ công và phát triển bền vững là một thách thức nghiêm trọng. Khi nợ công tăng cao, nghĩa vụ trả nợ (cả gốc và lãi) sẽ chiếm một tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng chi ngân sách. Điều này làm thu hẹp không gian tài khóa, khiến chính phủ có ít nguồn lực hơn để chi cho các dịch vụ công thiết yếu như giáo dục, y tế và cơ sở hạ tầng. Nếu hiệu quả sử dụng vốn vay không cao, nợ công có thể trở thành gánh nặng, đe dọa sự ổn định kinh tế vĩ mô và làm suy giảm tiềm năng phát triển trong tương lai, đi ngược lại nguyên tắc bền vững.

2.3. Hiệu quả chi ngân sách cho an sinh xã hội và môi trường

Mặc dù chi cho an sinh xã hộibảo vệ môi trường đã được quan tâm, nhưng hiệu quả chi ngân sách trong các lĩnh vực này cần được cải thiện. Các chính sách an sinh đôi khi còn chồng chéo, độ bao phủ chưa đồng đều. Trong khi đó, nguồn lực chi cho môi trường vẫn còn khiêm tốn so với yêu cầu thực tế, đặc biệt trong bối cảnh ô nhiễm và biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp. Việc nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách trong các lĩnh vực này là yêu cầu cấp thiết để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển bền vững về xã hội và môi trường.

III. Phương pháp tái cơ cấu chi ngân sách theo nội dung kinh tế

Để giải quyết các thách thức hiện hữu, việc tái cơ cấu chi ngân sách theo nội dung kinh tế là giải pháp nền tảng. Trọng tâm của phương pháp này là điều chỉnh hợp lý mối quan hệ giữa chi đầu tư phát triểnchi thường xuyên. Mục tiêu là từng bước giảm tỷ trọng chi thường xuyên, tăng tỷ trọng chi đầu tư, nhưng phải đảm bảo chi đầu tư có trọng tâm, trọng điểm và hiệu quả. Việc quản lý ngân sách nhà nước cần được siết chặt, đặc biệt là kiểm soát chi thường xuyên thông qua cải cách bộ máy, tinh giản biên chế và đẩy mạnh tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập. Đối với chi đầu tư, cần ưu tiên nguồn lực cho các dự án hạ tầng chiến lược, đặc biệt là hạ tầng giao thông, năng lượng sạch, và hạ tầng số để tạo nền tảng cho tăng trưởng xanh và kinh tế số. Quá trình phân bổ ngân sách nhà nước phải dựa trên các nguyên tắc thị trường, giảm dần sự can thiệp hành chính và tăng cường cơ chế cạnh tranh, minh bạch. Theo Luận án của Dương Tiến Dũng, việc cơ cấu lại chi ngân sách theo hướng này sẽ giúp giải phóng nguồn lực, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tạo động lực mạnh mẽ cho một giai đoạn phát triển mới, bền vững hơn. Đây là một cấu phần quan trọng của chính sách tài khóa trong bối cảnh mới.

3.1. Tăng tỷ trọng chi đầu tư phát triển cho hạ tầng xanh

Ưu tiên hàng đầu là nâng cao tỷ trọng và hiệu quả chi ngân sách cho đầu tư. Chi đầu tư phát triển cần tập trung vào các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội quan trọng, có sức lan tỏa lớn, đặc biệt là các dự án thúc đẩy tăng trưởng xanh. Điều này bao gồm đầu tư vào năng lượng tái tạo, hệ thống giao thông công cộng, hạ tầng xử lý nước thải và chất thải rắn. Việc phân bổ vốn phải tuân thủ nghiêm ngặt Luật Ngân sách nhà nước và Luật Đầu tư công, chấm dứt tình trạng đầu tư dàn trải, thiếu hiệu quả. Đồng thời, cần có cơ chế giám sát chặt chẽ để đảm bảo các dự án được thực hiện đúng tiến độ và chất lượng.

3.2. Tối ưu hóa chi thường xuyên và quản lý ngân sách hiệu quả

Để có nguồn lực cho đầu tư, việc kiểm soát và tối ưu hóa chi thường xuyên là bắt buộc. Các giải pháp bao gồm đẩy mạnh cải cách hành chính, tinh gọn bộ máy, và ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý. Cần rà soát, cắt giảm các khoản chi không cần thiết như hội họp, công tác phí. Đặc biệt, việc đẩy nhanh lộ trình tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công có thu (như bệnh viện, trường học) sẽ giúp giảm gánh nặng cho ngân sách. Một hệ thống quản lý ngân sách nhà nước hiện đại, minh bạch và dựa trên kết quả đầu ra sẽ là chìa khóa để nâng cao hiệu quả của các khoản chi thường xuyên.

IV. Bí quyết cơ cấu chi ngân sách thúc đẩy phát triển bao trùm

Một cơ cấu chi ngân sách nhà nước hiệu quả không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn phải đảm bảo phát triển bao trùm. Điều này có nghĩa là mọi người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế, đều được hưởng lợi từ quá trình phát triển. Giải pháp cốt lõi là ưu tiên phân bổ nguồn lực cho các lĩnh vực xã hội thiết yếu. Tăng cường chi cho giáo dục và y tế là đầu tư trực tiếp cho vốn con người – yếu tố quyết định năng suất và sự thịnh vượng dài hạn. Ngân sách cần đảm bảo đủ nguồn lực để thực hiện phổ cập giáo dục chất lượng cao và xây dựng hệ thống y tế toàn dân, có khả năng chống chịu với các cú sốc như dịch bệnh. Bên cạnh đó, chi cho khoa học và công nghệ phải được xem là một khoản đầu tư chiến lược, tạo ra nền tảng cho đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Cuối cùng, một mạng lưới an sinh xã hội toàn diện và hiệu quả, được đảm bảo bằng ngân sách nhà nước, sẽ giúp giảm bất bình đẳng, ổn định xã hội và tạo ra một xã hội phát triển hài hòa. Đây chính là cách chính sách tài khóa hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững.

4.1. Ưu tiên chi cho giáo dục và y tế để nâng cao nhân lực

Đầu tư cho con người là đầu tư cho tương lai. Ngân sách nhà nước phải đảm bảo tỷ lệ chi cho giáo dục và y tế ở mức hợp lý so với tổng chi, tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế. Trong giáo dục, cần tập trung vào đổi mới chương trình, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và đầu tư cơ sở vật chất, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa. Trong y tế, cần ưu tiên cho y tế dự phòng, y tế cơ sở và hiện đại hóa các bệnh viện tuyến trên. Việc phân bổ ngân sách hiệu quả cho hai lĩnh vực này sẽ tạo ra một lực lượng lao động khỏe mạnh, có kỹ năng, đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

4.2. Phân bổ ngân sách cho khoa học công nghệ và đổi mới

Để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và phát triển bền vững, Việt Nam cần chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo. Do đó, chi cho khoa học và công nghệ phải trở thành ưu tiên hàng đầu. Ngân sách cần tài trợ cho các nghiên cứu cơ bản, các dự án ứng dụng công nghệ cao và hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Cần có cơ chế tài chính linh hoạt, chấp nhận rủi ro để khuyến khích các nhà khoa học và doanh nghiệp theo đuổi các ý tưởng đột phá, góp phần nâng cao năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP).

4.3. Đảm bảo nguồn lực cho chính sách an sinh xã hội toàn diện

Một hệ thống an sinh xã hội mạnh mẽ là trụ cột của phát triển bao trùm. Ngân sách nhà nước cần đảm bảo nguồn lực để thực hiện các chính sách an sinh xã hội cốt lõi như bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội cho người nghèo, người khuyết tật và các đối tượng yếu thế khác. Việc thiết kế chính sách cần hướng đến sự đơn giản, minh bạch và dễ tiếp cận. Tăng cường ứng dụng công nghệ trong quản lý và chi trả sẽ giúp nâng cao hiệu quả, giảm thiểu thất thoát và đảm bảo các khoản hỗ trợ đến đúng đối tượng, góp phần giảm bất bình đẳng và củng cố đoàn kết xã hội.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/10/2025
Cơ cấu chi ngân sách nhà nước thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NHỮNG NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Các nghiên cứu ở ngoài nước 1.1 Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (2007) về chính sách tài khóa và tăng trưởng kinh tế [62] Nghiên cứu các nước Đông Âu và Trung Á trong giai đoạn 1996-2005, báo cáo của WB đã đánh giá tổng quan về cơ cấu ngân sách, nợ công tác động đến tăng trưởng kinh tế của một số nước như Hàn Quốc, Chilê, Phần Lan, Hà Lan, Nga,… từ đó cho thấy xu hướng điều chỉnh chi tiêu công của các nước trên thế giới trong những năm gần đây; đồng thời, đưa ra một số khuyến nghị thể hiện tầm quan trọng của chi tiêu công trong quá trình cải cách tổng thể tài chính công. Nghiên cứu đã tập trung thực hiện giải quyết 3 vấn đề cơ bản của NSNN với tăng trưởng kinh tế, đó là: (i) Quy mô NSNN và vấn đề thâm hụt NSNN tác động đến tăng trưởng kinh tế của các nước trong từng giai đoạn; (ii) Nâng cao hiệu quả chi tiêu công; (iii) Các giải pháp tăng cường tính bền vững của hệ thống thuế, hướng tới bền vững NSNN. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng tập trung giải quyết vấn đề chi ngân sách cho lương hưu, chi ngân sách ở một số lĩnh vực cung ứng dịch vụ công (giáo dục, y tế, …), chi ngân sách cho ĐTPT cơ sở hạ tầng KT-XH.2 Nghiên cứu của Miller và Lopez (2007) về “Cơ cấu chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế” [56]. Nghiên cứu khẳng định việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ công cộng có đóng góp vào việc giảm thiểu những thiếu sót của thị trường và là nguồn lực chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

7 Tăng chi cung cấp hàng hóa dịch vụ công trong tổng chi tiêu của Chính phủ thường xuyên lên 10% có thể làm tỷ lệ tăng trưởng bình quân đầu người tăng từ 2,2% đến 2,9%. Thất bại thị trường được bù đắp thông qua việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ công cộng. Tăng cung cấp hàng hóa và dịch vụ công cộng cũng là một trong những công cụ hữu hiệu để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là ở những nước thu nhập trung bình.3 Nghiên cứu của Ủy ban Chính sách kinh tế của Liên minh châu Âu (2008) về cơ cấu chi tiêu công: thành tựu và những thách thức [47] Nghiên cứu của Ủy ban Chính sách kinh tế của EU về cơ cấu chi tiêu công của các EU đã cho thấy việc thiết lập cơ cấu chi ngân sách hiệu quả có vai trò quan trọng trong bối cảnh các nước đang chịu áp lực về tăng cường kỷ luật tài khóa, bền vững ngân sách. Căn cứ vào bối cảnh và tình hình cụ thể, các nước thực hiện cơ cấu chi ngân sách thông qua việc điều chỉnh quy mô tổng chi NSNN, điều chỉnh cơ cấu các khoản chi trong từng lĩnh vực hoặc điều chuyển từ lĩnh vực này sang các lĩnh vực khác được ưu tiên trong từng giai đoạn, nhằm mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an ninh tài chính quốc gia, giải quyết các vấn đề xã hội.4 Nghiên cứu của Ravinder Rena và Ghirmai T.Kefela (2011) về “Cơ cấu lại chính sách tài khóa nhằm khuyến khích thúc đẩy tăng trưởng tại các nước châu Phi” [58] Nghiên cứu đã đưa ra kết luận chính sách tài khóa chỉ thực sự là một chính sách mạnh, có hiệu quả khi các chính sách được đưa ra dựa trên sự bền vững và được áp dụng trong việc phân phối vào các dịch vụ công cộng.

Cơ cấu chi NSNN là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả chi NSNN và nâng cao hiệu quả của chính sách tài khóa của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ.5 Báo cáo nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ quốc tế (2014) về cơ cấu chi tiêu công tại một số nước trên thế giới [54] 8 Cơ cấu chi tiêu công của các quốc gia giải thích về việc lựa chọn khác nhau liên quan đến việc phân bổ lại nguồn lực và những ưu tiên của chính phủ trong từng giai đoạn. Trong hơn một thập kỷ qua, bối cảnh kinh tế thế giới đã biến động mạnh. Do tác động của khủng hoảng kinh tế, tăng trưởng GDP toàn cầu đã giảm mạnh, từ 5,6% năm 2006 xuống còn 3% năm 2008 và âm (-) 0,1% vào năm 2009. Với nỗ lực phục hồi kinh tế, nhiều nước đã đưa ra các chương trình kích thích kinh tế, thực hiện chính sách tài khóa nới lỏng thông qua cắt giảm thuế, tăng chi ngân sách để hỗ trợ doanh nghiệp.

Mặc dù đã đạt được mức tăng trưởng 5,4% trong năm 2010, song kinh tế thế giới lại tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro, bất ổn, hệ lụy từ các chương trình kích thích kinh tế, nới lỏng tài khóa mang lại. Việc gia tăng liên tục của bội chi NSNN và kéo theo đó là nợ công tăng, lạm phát ở mức cao, các nước phát triển, nhất là các nước thuộc EU đã buộc phải đưa ra các chương trình củng cố tài khóa, điều chỉnh chính sách chi ngân sách để giảm dần bội chi ngân sách, cơ cấu chi ngân sách theo hướng hiệu quả hơn, tăng cường kỷ luật tài khóa, đảm bảo an ninh tài chính quốc gia, kiềm chế sự gia tăng của nợ công. Theo báo cáo nghiên cứu của IMF công bố năm 2014, nhiều nước đã có sự điều chỉnh mạnh mẽ cơ cấu chi tiêu công nhằm khắc phục những hệ lụy, tác động tiêu cực của chính sách tài khóa nới lỏng và các chương trình kích thích kinh tế quy mô lớn sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008. Trong đó: Các nước phát triển đã thực thi khuôn khổ chi tiêu trung hạn theo hướng thắt chặt, kết hợp với cơ cấu các khoản chi tiêu công, để giảm nợ công, đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.

Trong khi đó, tại một số nước đang phát triển, việc cơ cấu chi ngân sách chủ yếu tập trung để giải quyết các nhu cầu tăng ngày càng lớn cho dịch vụ công (bao gồm dịch vụ giáo dục, y tế và cơ sở hạ tầng), hướng tới yêu cầu bền vững nguồn thu ngân sách và thực hiện các ưu tiên chi tiêu công.6 Nghiên cứu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (2015) về cơ cấu chi tiêu công theo chức năng của Chính phủ [57] 9 Nghiên cứu về cơ cấu chi tiêu công theo chức năng của Chính phủ ở các nước thuộc thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) trong giai đoạn 2007-2013 cho thấy đã có sự điều chỉnh mạnh cơ cấu chi tiêu công sau giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, nhằm phục hồi đà tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội, đảm bảo đời sống cho người lao động. Cùng với thực thi chính sách tài khóa mở rộng, tăng chi ngân sách cho các chương trình kích thích kinh tế, Chính phủ các nước đã dành một phần lớn tăng chi ngân sách cho ASXH, đặc biệt là ở những nước có tỷ lệ thất nghiệp tăng mạnh (như: Tây Ban Nha, Ireland, Bồ Đào Nha và Ý); chi cho y tế tăng bình quân 0,8%/năm, trong đó một số nước có mức tăng lớn như Hy Lạp (15,9%/năm), Slovenia (14,8%/năm),… Đồng thời, cũng có sự điều chỉnh giảm các khoản chi cho một số lĩnh vực khác, như: chi giáo dục (giảm bình quân 0,8%/năm), chi về dịch vụ công (giảm 0,6%/năm) và chi quốc phòng (giảm 0,5%/năm). Bình quân chi NSNN năm 2013 tại các nước OECD chiếm khoảng 41,9%GDP, trong đó, một số nước có tỷ trọng chi NSNN so với GDP tương đối cao như: Hy Lạp (60,1%), Slovenia (59,7%) và Phần Lan (57,8%); tuy nhiên, một số nước có tỷ trọng chi NSNN so với GDP ở mức tương đối thấp, như: Hàn Quốc (31,8%), Mexico (24,4%),.7 Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới về chi tiêu công đối với trường hợp Ukraina và Việt Nam - Nghiên cứu “Tổng quan chi tiêu công: Cơ cấu lại các khoản chi tiêu của Chính phủ” (2017) [63] cho thấy việc cơ cấu chi tiêu công của Ukraina gắn liền với mục tiêu tái cơ cấu nền kinh tế, phân bổ nguồn lực ngân sách gắn với vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế thị trường. Những thay đổi trong chính sách chi ngân sách được thực hiện cùng với cải cách hệ thống khu vực công nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực này.

- Nghiên cứu “Đánh giá chi tiêu công Việt Nam: Chính sách tài khóa hướng tới bền vững, hiệu quả và công bằng” (2017) [61] đã đề cập đến xu hướng điều chỉnh chi tiêu công của các nước trên thế giới; phân tích, đánh giá thực trạng chi tiêu công của Việt Nam, các vấn đề đặt ra đối với chi của các ngành giáo dục, y tế, 10 chi của địa phương và đưa ra những khuyến nghị điều chỉnh chính sách chi tiêu công đối với Việt Nam.2 Các nghiên cứu ở trong nước 1.1 Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Khắc Đức (2002), đề tài “Đổi mới cơ cấu chi ngân sách nhà nước trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam” [18] Luận án đã hệ thống hóa số liệu chi NSNN của Việt Nam qua các giai đoạn 1989-1995, 1996-2000, tương ứng với các giai đoạn trước và sau khi có Luật Ngân sách nhà nước (1996), làm cơ sở phân tích cơ cấu chi NSNN trong thời kỳ chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường. Tác giả đã đưa ra các quan điểm về đổi mới cơ cấu chi NSNN trong điều kiện phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường và đề xuất 03 nhóm giải pháp đổi mới cơ cấu chi NSNN giai đoạn 2001-2010. Tuy nhiên, Luận án nghiên cứu về đổi mới cơ cấu chi NSNN, nhưng không gắn với các mục tiêu cụ thể về phát triển KT-XH. Luận án của tác giả được thực hiện từ năm 2002, hệ thống các số liệu tác giả nghiên cứu trong giai đoạn 1989-2000, hệ thống các kiến nghị, giải pháp đưa ra để áp dụng cho giai đoạn 2001-2010.

Bối cảnh KT-XH trong nước và ngoài nước đến nay có nhiều thay đổi, nên các giải pháp của Luận án không còn phù hợp trong tình hình mới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ