Nghiên cứu cơ cấu bệnh tật và chi phí khám BHYT tại PKĐK An Việt 2021-2023

Luận văn phân tích cơ cấu bệnh tật, chi phí khám chữa bệnh BHYT tại Phòng khám An Việt giai đoạn 2021-2023 và các yếu tố liên quan.

Trường đại học

Đại học Thăng Long

Chuyên ngành

Quản lý bệnh viện

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2024

90
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về cơ cấu bệnh tật tại Phòng khám Đa khoa An Việt 2021 2023

Cơ cấu bệnh tật tại Phòng khám Đa khoa An Việt trong giai đoạn 2021-2023 phản ánh xu hướng morbidity của người bệnh sử dụng bảo hiểm y tế. Nghiên cứu này dựa trên luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thế Hùng, chuyên ngành Quản lý Bệnh viện, phân tích chi tiết các nhóm bệnh chính. Dữ liệu cho thấy sự thay đổi đáng kể trong cơ cấu bệnh tật qua các năm, với các bệnh hệ hô hấp, hệ tuần hoàn và hệ tiêu hóa chiếm tỷ lệ cao nhất. Nghiên cứu sử dụng phân loại ICD-10 để phân loại bệnh tật một cách khoa học và có hệ thống. Đây là tài liệu quan trọng cho việc hiểu rõ nhu cầu y tế của người dân và tình hình chi phí khám chữa bệnh trong thời kỳ này.

1.1. Phương pháp nghiên cứu và thiết kế chọn mẫu

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định tính và định lượng, tập trung vào dữ liệu thực tế từ Phòng khám Đa khoa Quốc tế An Việt. Cỡ mẫu bao gồm toàn bộ người bệnh sử dụng bảo hiểm y tế trong 3 năm liên tiếp. Dữ liệu được thu thập từ hệ thống cơ sở dữ liệu (CSDL) của phòng khám, được xác minh bởi Ban giám đốc. Thiết kế nghiên cứu tuân thủ đạo đức nghiên cứu cao nhất, đảm bảo tính chính xác và trung thực của thông tin.

1.2. Khung phân loại bệnh tật theo ICD 10

Phân loại ICD-10 (International Classification of Diseases) được sử dụng để phân nhóm các bệnh tật thành các chương bệnh rõ ràng. Các nhóm bệnh chính bao gồm: bệnh hệ hô hấp, bệnh hệ tuần hoàn, bệnh hệ tiêu hóa, bệnh truyền nhiễm (BTN), và bệnh không lây nhiễm (BKLN). Mỗi nhóm bệnh được phân tích chi tiết với các bệnh phổ biến nhất, giúp cơ sở y tế hiểu rõ cơ cấu bệnh tật của người bệnh.

II. Cơ cấu bệnh tật chính tại Phòng khám Đa khoa An Việt

Cơ cấu bệnh tật tại Phòng khám Đa khoa An Việt cho thấy sự thống trị của các bệnh mạn tính. Bệnh hệ hô hấp như viêm đường hô hấp trên, viêm phổi là những bệnh phổ biến nhất, đặc biệt trong các mùa thay đổi. Bệnh hệ tuần hoàn bao gồm tăng huyết áp và suy tim cũng chiếm tỷ lệ đáng kể. Bệnh hệ tiêu hóa như viêm dạ dày, trào ngược dạ dày thực quản là những bệnh thường gặp hàng ngày. Chi phí khám chữa bệnh cho các nhóm bệnh này biến động theo thời gian và mức độ phức tạp của bệnh. Các bệnh phổ biến này yêu cầu sự quản lý y tế tốt và bảo hiểm y tế phù hợp.

2.1. Bệnh hệ hô hấp và bệnh mùa vụ

Bệnh hệ hô hấp là nhóm bệnh phổ biến nhất trong 3 năm nghiên cứu. Các bệnh như cảm cúm, viêm phế quản cấp, viêm phổi có tỷ lệ cao nhất vào mùa đông xuân. Phân bố 10 bệnh phổ biến nhất theo mùa cho thấy sự biến thiên rõ ràng. Chi phí khám chữa bệnh cho nhóm này thay đổi tùy theo mức độ nặng của bệnh và các biến chứng liên quan.

2.1. Bệnh hệ tuần hoàn và yếu tố nguy cơ

Bệnh hệ tuần hoàn chủ yếu gồm tăng huyết áp, đau ngực, rối loạn nhịp tim. Những bệnh này thường gặp ở người bệnh trên 60 tuổi và cần chi phí khám chữa bệnh dài hạn. Quản lý bảo hiểm y tế cho nhóm này đòi hỏi sự chú ý đặc biệt về phòng ngừa và điều trị dự phòng.

III. Chi phí khám chữa bệnh theo nhóm tuổi 2021 2023

Chi phí khám chữa bệnh tại Phòng khám Đa khoa An Việt được phân tích chi tiết theo các nhóm tuổi: dưới 18 tuổi, từ 18-60 tuổi và trên 60 tuổi. Mỗi nhóm tuổi có cơ cấu bệnh tật khác nhau, dẫn đến sự khác biệt trong chi phí BHYT. Người bệnh dưới 18 tuổi chủ yếu mắc các bệnh truyền nhiễm và các bệnh thường gặp ở trẻ em. Nhóm từ 18-60 tuổi có chi phí khám chữa bệnh vừa phải, chủ yếu liên quan đến các bệnh công nghiệp và áp lực công việc. Người bệnh trên 60 tuổi phải chịu chi phí y tế cao hơn do mắc nhiều bệnh không lây nhiễm mạn tính. Dữ liệu này quan trọng cho việc lập kế hoạch bảo hiểm y tế phù hợp.

3.1. Chi phí BHYT ở người bệnh dưới 18 tuổi

Nhóm tuổi dưới 18 tuổi có chi phí khám chữa bệnh thấp nhất trong 3 năm. Cơ cấu bệnh tật chủ yếu gồm các bệnh truyền nhiễm, viêm đường hô hấp và các bệnh tiêu chảy. 10 bệnh phổ biến nhất ở nhóm này bao gồm cảm cúm, viêm phế quản, tiêu chảy cấp. Chi phí BHYT được sử dụng hiệu quả cho các dịch vụ khám và điều trị cơ bản.

3.2. Chi phí BHYT ở người bệnh từ 18 60 tuổi

Chi phí khám chữa bệnh ở nhóm tuổi 18-60 tuổi tăng so với trẻ em. Cơ cấu bệnh tật bao gồm cả bệnh không lây nhiễm mạn tính và bệnh liên quan công việc. 10 bệnh phổ biến nhất gồm viêm dạ dày, tăng huyết áp, đau lưng. Chi phí BHYT ở nhóm này cần được quản lý cẩn thận để đảm bảo hiệu quả.

IV. Ảnh hưởng của yếu tố giới tính và tuổi đến cơ cấu bệnh tật

Cơ cấu bệnh tật tại Phòng khám Đa khoa An Việt cho thấy những khác biệt rõ ràng giữa nam giới và nữ giới, cũng như giữa các nhóm tuổi. 10 bệnh phổ biến nhất ở nam giới và nữ giới không hoàn toàn giống nhau, phản ánh sự khác biệt về sinh lý và lối sống. Nghiên cứu của Nguyễn Thế Hùng chỉ ra rằng nam giới có tỷ lệ bệnh liên quan đến hệ hô hấp cao hơn, có thể do tỷ lệ hút thuốc cao. Nữ giới có tỷ lệ bệnh không lây nhiễm mạn tính cao hơn. Việc phân tích chi phí khám chữa bệnh theo giới tính và tuổi tác giúp các cơ sở y tế và công ty bảo hiểm y tế lập kế hoạch tài chính chính xác hơn. Những yếu tố kinh tế xã hội cũng ảnh hưởng đến cơ cấu bệnh tậtchi phí BHYT.

4.1. Đặc điểm cơ cấu bệnh tật ở nam giới

10 bệnh phổ biến nhất ở nam giới bao gồm viêm phế quản, tăng huyết áp, viêm dạ dày. Chi phí khám chữa bệnh của nam giới có xu hướng tăng từ năm 2021 đến 2023. Bệnh truyền nhiễm và các bệnh liên quan sinh thực động lao động chiếm tỷ lệ cao. Chi phí BHYT cho nam giới cần tính đến chi phí điều trị bệnh nặng.

4.2. Khuyến nghị quản lý bảo hiểm y tế dựa trên dữ liệu

Dựa trên cơ cấu bệnh tậtchi phí khám chữa bệnh phân tích trong 3 năm, các khuyến nghị bao gồm: tăng cường chăm sóc sức khỏe dự phòng, nâng cao nhận thức cộng đồng, và điều chỉnh gói bảo hiểm y tế phù hợp với từng nhóm tuổi. Hệ thống cơ sở dữ liệu cần được cập nhật thường xuyên để hỗ trợ quyết định quản lý.

18/12/2025
Cơ cấu bệnh tật và chi phí khám chữa bệnh của người bệnh sử dụng bảo hiểm y tế tại phòng khám đa khoa an việt năm 2021 2022 2023 và một số yếu tố liên quan

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I: bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng. Chương II: bướu tân sinh. Chương III: bệnh của máu, cơ quan tạo máu và các rối loạn liên quan đến cơ chế miễn dịch. 5 Chương IV: bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hóa.

Chương V: rối loạn tâm thần và hành vi. Chương VI: bệnh hệ thần kinh. Chương VII: bệnh mắt và phần phụ. Chương VIII: bệnh tai và xương chũm.

Chương IX: bệnh hệ tuần hoàn. Chương X: bệnh hệ hô hấp. Chương XI: bệnh hệ tiêu hóa. Chương XII: các bệnh da và mô dưới da.

Chương XIII: bệnh hệ cơ - xương - khớp và mô liên kết. Chương XIV: bệnh hệ sinh dục - tiết niệu. Chương XV: thai nghén, sinh đẻ và hậu sản. Chương XVI: một số bệnh lý xuất phát trong thời kỳ chu sinh.

Chương XVII: dị tật bẩm sinh, biến dạng và bất thường về nhiễm sắc thể. Chương XVIII: các triệu chứng, dấu hiệu và những biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng bất thường không phân loại ở phần khác. Chương XIX: chấn thương, ngộ độc và một số hậu quả khác do nguyên nhân bên ngoài. Chương XX: nguyên nhân ngoại sinh của bệnh tật và tử vong.

Chương XXI: các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe và tiếp xúc dịch vụ y tế. Chương XXII: mã phục vụ những mục đích đặc biệt. * ICD 10 đã được Tổ chức Y tế thế giới triển khai xây dựng từ tháng 9 năm 1983. Tài liệu liên quan đến ICD 10 do WHO xuất bản lần đầu tiên năm 1992 bằng tiếng Anh.

Chương XXII không có trong lần ban hành trước. Bảng phân loại tiếng Việt được biên tập lại năm 2013 và ban hành ngày 24 tháng 9 năm 2015 [15]. Bộ mã ICD 10 được quy định như sau: 6 • Ký tự thứ nhất (chữ cái) mã hóa chương bệnh. • Ký tự thứ hai (số thứ nhất) mã hóa nhóm bệnh.

• Ký tự thứ ba (số thứ hai) mã hóa tên bệnh. • Ký tự thứ tư (số thứ 3 sau dấu (.)) mã hóa một bệnh chi tiết theo nguyên nhân hay tính đặc thù của một bệnh. Các bệnh bị chấn thương, ngộ độc và một số hậu quả khác do nguyên nhân bên ngoài thuộc chương XIX; do các nguyên nhân bên ngoài của các bệnh tật và tử vong là tai nạn giao thông, sinh hoạt, tự tử, thiên tai, ẩu đả gây thương tích… thuộc chương XX. Như vậy với một người bệnh bị chấn thương, ngộ độc và một số hậu quả khác do bên ngoài sẽ có chẩn đoán bệnh thuộc chương XIX và chẩn đoán nguyên nhân thuộc chương XX 1.

Các khái niệm về bảo hiểm y tế và các định nghĩa liên quan Hệ thống y tế (HTYT) là một phức hợp bao gồm con người, các tổ chức và nguồn lực được sắp xếp và liên kết với nhau bởi các chính sách nhằm thúc đẩy, phục hồi và duy trì sức khỏe, đồng thời bao gồm các nỗ lực để tác động tới các yếu tố liên quan tới sức khỏe và các hoạt động cải thiện sức khỏe [12]. Dịch vụ y tế (DVYT): bao gồm các dịch vụ liên quan đến chẩn đoán và điều trị bệnh hay các dịch vụ KCB, phòng bệnh, phục hồi chức năng, bao gồm các dịch vụ liên quan trực tiếp và gián tiếp đến con người [25]. Bảo hiểm y tế theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) là một hình thức bảo hiểm theo đó người mua bảo hiểm sẽ được cơ quan bảo hiểm trả thay một phần hoặc toàn bộ chi phí khám chữa bệnh cũng như chi phí mua thuốc men KCB. Bảo hiểm y tế dựa trên nguyên tắc chia sẻ rủi ro, tạo điều kiện cho người bệnh được khám và điều trị dù không có đủ tiền trang trải số chi phí khám chữa bệnh thực tế cho cơ quan y tế [64].

Quỹ BHYT là quỹ tài chính được hình thành từ nguồn đóng BHYT và các nguồn thu hợp pháp khác, được sử dụng để chi trả chi phí KCB cho người tham gia BHYT, chi 7 phí quản lý bộ máy của tổ chức BHYT và những khoản chi phí hợppháp khác liên quan đến BHYT [64]. Phương thức thanh toán (PTTT) chi phí KCB là cách phân bổ nguồn tài chính từ ngân sách của Chính phủ, từ quỹ bảo hiểm hoặc từ những nguồn khác cho các cơ sở y Chi tế Nhà nước và những cơ sở y tế tư nhân. Phương thức thanh toán là công cụ quan trọng đối với bảo hiểm y tế (BHYT) để có được những DVYT có chất lượng và hiệu quả từ nhà cung cấp [64]. Chi phí KCB là khoản tiền mà người dân hay Nhà nước phải bỏ ra để thanh toán (chi trả) cho các cơ sở y tế khi họ đến khám bệnh và điều trị.

Khoản chi này được dùng để trả cho các DVYT, các kĩ thuật y tế, xét nghiệm (XN), vật tư y tế (VTYT) [19], [24]. Chi phí KCB BHYT là chi phí do các CSYT có ký hợp đồng KCB BHYT yêu cầu thanh toán [26]. Chi phí KCB BHYT cùng thanh toán (cùng chi trả) là chi phí mà NB BHYT phải thanh toán theo quy định cho từng nhóm đối tượng. Chi phí KCB BHYT tự trả là chi phí mà NB BHYT phải tự thanh toán cho các DVYT ngoài phạm vi thanh toán của BHYT (không bao gồm chi phí cùng thanh toán) [26].

Cơ sở KCB BHYT ban đầu là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đầu tiên theo đăng ký của người tham gia BHYT và được ghi trong thẻ BHYT. Người tham gia BHYT cư trú hoặc công tác tại huyện nào thì được đăng ký KCB ban đầu tại cơ sở KCB tuyến xã, tuyến huyện và tương đương trên địa bàn đó. Ngoài ra, một số đối tượng tham gia BHYT đặc biệt nếu có yêu cầu thì được lựa chọn nơi đăng ký KCB ban đầu khác [11]. Khám chữa bệnh BHYT tại chỗ là các dịch vụ KCB được thực hiện tại cơ sở đăng ký KCB ban đầu của người có thẻ BHYT.

Khám chữa bệnh BHYT đa tuyến là các dịch vụ KCB được thực hiện tại các tuyến trên tuyến KCB ban đầu [24]. Đa tuyến có thể là chuyển tuyến hoặc vượt tuyến [11]. Chuyển tuyến là việc thực hiện KCB BHYT ở tuyến trên theo chỉ định chuyên môn đúng quy định của y bác sĩ [11]. Vượt tuyến là tình trạng người bệnh tự ý đến cơ sở KCB tuyến trên mà không có chỉ định chuyên môn của y bác sĩ [11].

Các khái niệm về chi phí y tế, chi phí khám chữa bệnh 8 ❖ Chi phí y tế [8], [55], [59]. Chi phí là giá trị hàng hoá, dịch vụ được xác định thông qua việc sử dụng nguồn lực theo các cách khác nhau. Nói cách khác, chi phí là giá trị của nguồn lực được sử dụng để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ. Trong lĩnh vực y tế, chi phí là giá trị của nguồn lực được sử dụng để tạo ra một dịch vụ y tế cụ thể hoặc một loạt các dịch vụ (như một chương trình y tế hay là lần khám sức khỏe cộng đồng).

Chi phí hợp lý cho dịch vụ y tế luôn được quan tâm. Với các quốc gia, mô hình tổng chi cho y tế với đầu ra về sức khỏe chia làm 4 nhóm: chi nhiều kết quả nhiều, chi nhiều kết quả ít, chi ít kết quả nhiều, chi ít kết quả ít. Không có một mô hình rõ ràng nào về chi phí và hiệu quả, tuy nhiên thu nhập của một quốc gia cao hơn thì phần chi cho y tế cũng cao hơn. Ví dụ nước Mỹ luôn chi cho sức khỏe cao nhất nhưng không phải là nước có chỉ số sức khỏe tốt nhất vì một bộ phận người dân không tiếp cận được BHYT (giá BHYT quá đắt).

Srilanka lại là nước luôn có chỉ số sức khỏe vượt mong đợi vì chi phí cho sức khỏe hợp lý. ❖ Phân loại chi phí y tế [8], [55], [59]. Trong phần chi phí cho y tế người ta chia ra bao nhiêu từ nhà nước và bao nhiêu từ cá nhân (chi phí công và chi phí tư). Tỷ lệ chi phí công là tỷ lệ phần trăm các chi phí từ nguồn nhà nước chi trả.

Chi phí tư do người dân tự chi trả. Có xu thế cho rằng chi phí cho y tế tăng do chi phí tư tăng khi người dân tăng thu nhập nhưng điều này không có ý nghĩa công bằng trong y tế. Kết quả tổng hợp cho thấy tỷ lệ chi phí công cho y tế càng cao thì các chỉ số sức khỏe càng tốt. Tổng chi phí là tổng của tất cả các chi phí để sản xuất ra một mức sản phẩm nhất định.

Ví dụ: chi phí để cung cấp dịch vụ bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em. Chi phí trung bình là chi phí cho một đơn vị sản phẩm. Tổng chi phí trung bình bằng tổng chi phí chia cho số lượng sản phẩm. Chi phí trực tiếp: Trong lĩnh vực y tế, chi phí trực tiếp là những chi phí nảy sinh cho hệ thống y tế, cho cộng đồng và cho gia đình người bệnh trong giải quyết trực tiếp bệnh tật.

Chi phí này có hai loại: 9 Chi phí trực tiếp cho điều trị là những chi phí liên hệ trực tiếp đến việc chăm sóc sức khỏe như chi cho phòng bệnh, cho điều trị, cho chăm sóc và phục hồi chức năng,… Chi phí trực tiếp không cho điều trị là những chi phí trực tiếp không liên quan đến khám chữa bệnh nhưng có liên quan đến quá trình khám và điều trị bệnh như chi phí đi lại, ở trọ, ăn uống. Chi phí gián tiếp là giá trị của năng suất lao động bị mất hoặc bị giảm do vấn đề sức khoẻ hoặc do can thiệp. Năng suất lao động mất đi đồng nghĩa với thời gian mất đi. Ví dụ: giảm năng suất lao động do bị ốm; thời gian sử dụng vào việc đi lại; thời gian để được khám bệnh và điều trị; thời gian đi mua thuốc men; năng suất lao động tiềm tàng bị mất đi do chết hoặc tàn tật; thời gian chăm sóc người bệnh của người nhà tại gia đình; thời gian của người đi theo phục vụ người bệnh khi chữa bệnh; thời gian điều trị do phản ứng phụ gây ra; thời gian mất năng suất lao động do phản ứng phụ.

Phân tích chi phí do ốm đau đã được sử dụng trong đánh giá gánh nặng kinh tế của bệnh tật đối với toàn xã hội về sử dụng nguồn lực cho chăm sóc bệnh tật và mất thu nhập trong thời gian bị bệnh. Những chi phí vô hình của bệnh nhân như đau khổ, lo lắng. là không tính được. ❖ Cách tính chi phí trực tiếp cho điều trị của người sử dụng dịch vụ y tế [8], [57].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ