phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của đề tài đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng. CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN MÔ HÌNH MỘT SỐ NHÀ XUẤT BẢN CHƢƠNG 2: PHƢƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 7 z CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH HOẠT ĐỘNG TẠI NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG XÃ HỘI CHƢƠNG 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN MÔ HÌNH HOẠT ĐỘNG VÀ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT 8 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN MÔ HÌNH MỘT SỐ NHÀ XUẤT BẢN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Đảng và Chính phủ đã chú trọng nhiều đến công tác tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nƣớc, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nƣớc, năm 2014, công tác này đã đƣợc đẩy mạnh và đạt đƣợc kết quả tích cực, vƣợt bậc so với những năm gần đây. Cơ chế, chính sách về đổi mới tổ chức, hoạt động và quản lý, sắp xếp, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nƣớc đã đƣợc ban hành tƣơng đối đầy đủ, đồng bộ, tạo khung pháp lý thuận lợi cho việc triển khai thực hiện. Chính phủ đã ban hành các Nghị định về chế độ giám sát, kiểm tra việc thực hiện chiến lƣợc, kế hoạch, mục tiêu, nhiệm vụ đƣợc giao của doanh nghiệp; giám sát, kiểm tra, thanh tra đối với doanh nghiệp nhà nƣớc trong chấp hành pháp luật và tuân thủ các quy định của chủ sở hữu; Điều lệ mẫu của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nƣớc làm chủ sở hữu.
Nhƣng hiện tại hầu hết các tài liệu, nghiên cứu tập trung vào công tác sắp xếp, cổ phần hoá doanh nghiệp mà ít chú trọng đến việc chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nƣớc thành Công ty TNHH một thành viên. Rất ít luận văn viết về đề tài này, hầu hết mọi ngƣời tập trung vào đề tài cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nƣớc. Sách viết riêng về đề tài này cũng rất ít, việc thực hiện chuyển đổi chủ yếu dựa vào các nghị định, thông tƣ hƣớng dẫn và chính sách chung của nhà nƣớc. Trên phƣơng diện nghiên cứu khoa học, việc chuyển đổi doanh nghiệp nhà nƣớc thành công ty TNHH một thành viên là một chủ đề ít đƣợc đề cập riêng, chủ yếu là đi kèm với công tác cổ phần hoá kể cả các thể loại nhƣ sách, đề tài nghiên cứu khoa học, luận văn, luận án, báo, tạp chí .1 Ở thể loại sách Một số công trình nghiên cứu đã đƣợc công bố có liên quan đến vấn đề nghiên cứu mà tác giả đƣợc biết đến nhƣ: + Nguyễn Thanh Vân (2006), “Hỏi đáp Luật doanh nghiệp nhà nước” Nxb.
Thống kê; + Thạc sỹ. Hoàng Anh Tuyên (2007), “ Luật doanh nghiệp và 134 câu hỏi đáp “, Nxb. Lao động Xã hội; + Thạc sỹ. Nguyễn Thị Khế (2007), “Pháp luật về tổ chức các hình thức kinh doanh”, Nxb.
Tƣ pháp; Các sách trên chủ yếu chỉ đƣa ra các lý luận chung về việc áp dụng Luật Doanh nghiệp cho các doanh nghiệp.2 Ở thể loại luận văn, luận án Công tác chuyển đổi doanh nghiệp nhà nƣớc cũng mang nhiều tính lý luận và mang tính định hƣớng nhƣ: + Nguyễn Thị Tú Anh (2008), Những giải pháp sắp xếp lại CTNN nhằm thực hiện LDN 2005, Luận văn Thạc sỹ luật học; + Lê Thị Tú Hồng (2006), “CTTNHH một thành viên theo LDN 2005 – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”; Luận văn Thạc sỹ luật học Trƣờng Đại học Luật Hà Nội. Các luận văn chỉ mang tính định hƣớng và giải pháp chung mà không chỉ ra đƣợc một mô hình cụ thể.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn mô hình hoạt động một số nhà xuất bản hiện nay Hoạt động xuất bản bao gồm các lĩnh vực xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm. Hoạt động xuất bản thuộc lĩnh vực văn hóa, tƣ tƣởng thông qua việc sản xuất, phổ biến những xuất bản phẩm đến nhiều ngƣời nhằm giới thiệu tri 10 z thức thuộc các lĩnh vực của đời sống xã hội, giá trị văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân, nâng cao dân trí, xây dựng đạo đức và lối sống tốt đẹp của ngƣời Việt Nam, mở rộng giao lƣu văn hóa với các nƣớc, phát triển kinh tế - xã hội, đấu tranh chống mọi tƣ tƣởng và hành vi làm tổn hại lợi ích quốc gia, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Ngành xuất bản Việt Nam có thể đƣợc tính kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập tờ báo Thanh niên và xuất bản tác phẩm Đường Kách mệnh , khai sinh nền báo chí - xuấ t bản cách mạng Việt Nam , giới xuất bản, báo chí nƣớc ta luôn luôn gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, đã có đóng góp quan trọng vào những thắng lợi vô cùng oanh liệt của dân tộc.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ngành xuất bản cách mạng đã hình thành và trở thành vũ khí sắc bén góp phần đắc lực cho công tác tƣ tƣởng của Đảng, nhằm tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân hăng hái tham gia xây dựng và bảo vệ chính quyền non trẻ. Trƣớc yêu cầu về sách báo của cán bộ và nhân dân, các nhà xuất bản, các xí nghiệp in, cơ sở phát hành lần lƣợt đƣợc thành lập nhƣ: Nhà xuất bản Sự thật, Văn hoá cứu quốc, Lao động, Vệ quốc quân; các cơ sở in nhƣ Việt Nam quốc gia ấn thƣ cục, Cứu quốc lao động. Công tác phát hành trƣớc còn riêng lẻ sau đƣợc tập trung thành Tổng phát hành sách báo cứu quốc. Năm 1952 cuộc kháng chiến trƣờng kỳ của dân tộc chuyển sang giai đoạn mới, đòi hỏi về sách báo ngày càng tăng cả về số lƣợng và chất lƣợng, trong bối cảnh cần có một tổ chức thống nhất điều hành để đáp ứng đƣợc yêu cầu của nhiệm vụ mới, theo đề nghị của Nha Tuyên truyền Văn nghệ (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch), ngày 10/10/1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 122/SL thành lập Nhà In quốc gia, mở ra thời kỳ mới cho sự 11 z nghiệp xuất bản ở nƣớc ta.
Đến nay ngày 10/10/1952 đƣợc coi là ngày thành lập ngành xuất bản – in – phát hành. Trải qua hơn 60 năm xây dựng và phát triển, ngành Xuất bản, In và Phát hành sách đƣợc đánh dấu bằng các mốc thời gian: - Thời kỳ thứ nhất (1952-1975): Đây là thời kỳ tạo dựng nền móng, hình thành và từng bƣớc phát triển nền xuất bản cách mạng. Các xuất bản phẩm đã góp phần vào chiến thắng của toàn dân tộc, thống nhất đất nƣớc. Thời kỳ này đã xuất bản đƣợc 31.215 tên sách với 529.
Trong đó, có nhiều tác phẩm tiêu biểu: Sống nhƣ anh; Bất Khuất; Bộ sách ngƣời tốt, việc tốt; Những lá thƣ từ tuyến đầu Tổ quốc… - Thời kỳ thứ hai (1976-1985): Sau khi đất nƣớc thống nhất, các xuất bản phẩm xuất bản đã góp phần có hiệu quả trong việc khôi phục và phát triển kinh tế, phản ánh cuộc đấu tranh về sự lựa chọn con đƣờng XHCN. Thời kỳ này, sách đã góp phần khẳng định chân lý độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, phản ánh đƣờng lối, chính sách, quan điểm của Đảng trong nhiệm vụ xây dựng CNXH, bảo vệ Tổ quốc và nhiệm vụ quốc tế. Sau khi đất nƣớc thống nhất, các xuất bản phẩm đã góp phần có hiệu quả trong việc khôi phục và phát triển kinh tế. Số sách xuất bản 22.000 tên sách với 533.
Những tác phẩm tiêu biểu nhƣ: Tuyển tập Hồ Chí Minh; Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì CNXH… - Thời kỳ thứ ba (1986-2001): Đây là thời kỳ đổi mới đất dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các xuất bản phẩm đã góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, nâng cao dân trí, phát triển kinh tế. Tốc độ phát triển của ngành năm sau cao hơn năm trƣớc. Năm 2001, Xuất bản, phát hành tăng gấp 3,2 lần về bản; in tăng 4,4 lần về trang in so với năm 1986. Nhiều bộ sách có giá trị cao, các công trình nghiên cứu về chính trị, văn hóa, nghệ thuật, khoa học công nghệ, quản lý kinh tế…đã đƣợc xuất bản.
Các tác phẩm 12 z tiêu biểu: Trọn bộ Hồ Chí Minh toàn tập; Bộ tuyển tập văn học Việt Nam thế kỷ XX; Từ điển bách khoa Việt Nam… - Thời kỳ thứ tư (2002-2008): Đây là thời kỳ phát triển vƣợt bậc của ngành xuất bản, các xuất bản phẩm đã phục vụ đắc lực công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế của đất nƣớc, làm giàu thêm các giá trị văn hoá Việt Nam. Hiện nay cả nƣớc đã có 64 nhà xuất bản, khoảng 1.500 cơ sở in và khoảng 13.700 nhà sách, hiệu sách, trung tâm sách…; 119 công ty phát hành sách cấp tỉnh thuộc lĩnh vực thông tin – truyền thông, văn hóa, giáo dục – đào tạo; 75 công ty trách nhiệm hữu hạn kinh doanh xuất bản phẩm. Sự phát triển nhanh về số lƣợng nhà sách, công ty phát hành sách trên phạm vi toàn quốc đã góp phần đáp ứng nhu cầu nâng cao dân trí, về văn hóa đọc ngày càng đa dạng của xã hội. - Thời kỳ thứ năm (2009-2014): Chịu ảnh hƣởng chung của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đồng thời chịu tác động mạnh mẽ từ sự bùng nổ công nghệ số và ebook, thị trƣờng xuất bản phẩm truyền thống bị thu hẹp trong bố i cảnh hàng loạt doanh nghiệp rơi vào tình trạng đóng băng , ngƣ̀ng hoa ̣t đô ̣ng và phá sản , thì các doanh nghiệp xuất bản cũng chịu ảnh hƣởng không n hỏ.
Mặt khác Chính phủ thắt chặt chi tiêu công, nguồn ngân sách chi cho công tác thông tin tuyên truyền cũng bị giảm mạnh do vậy ngành xuất bản gặp vô vàn khó khăn và chƣa tìm đƣợc hƣớng tháo gỡ! Trong 64 NXB của cả nƣớc, chỉ có 4 đơn vị làm ăn thực sự ổn định, có lãi, nộp đủ nghĩa vụ thuế đối với nhà nƣớc. Đó là NXB Giáo dục, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, NXB Trẻ và NXB Kim Đồng. Một vài NXB khác cũng có thể trụ vững đƣợc. Còn lại phần lớn các NXB đều ít nhiều gặp khó khăn, thậm chí có NXB tồn tại lay lắt, bên bờ vực thẳm và có NXB chuẩn bị “cáo phó”! 13 z Không ít cơ quan chủ quản lúng túng, bị động, chƣa điều chỉnh đƣợc mô hình và cơ chế hoạt động NXB phù hợp.
Lâu nay, mô hình và cơ chế hoạt động NXB luôn là vấn đề "nóng" của ngành.