Lời mở đầu và Kết luận, Danh mục tham khảo, luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và lý luận về cơ chế, chính sách tài chính áp dụng cho nhà xuất bản Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn Chƣơng 3: Thực trạng cơ chế, chính sách tài chính tại Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội Chƣơng 4: Giải pháp đổi mới cơ chế, chính sách tài chính tại Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội. 3 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH ÁP DỤNG CHO NHÀ XUẤT BẢN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề cơ chế, chính sách tài chính tại các tổ chức và doanh nghiệp ở Việt Nam. Trong những nghiên cứu này, nhìn chung các tác giả đều đi vào khảo sát thực trạng và chỉ ra những bất cập, hạn chế của cơ chế, chính sách tài chính tại một đơn vị cụ thể.
Từ đó đƣa ra những giải pháp phù hợp nhằm đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính trong các đơn vị đó. Sau đây, tác giả tóm tắt một số kết quả nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến lĩnh vực cơ chế, chính sách tài chính. Cơ chế tài chính tại ĐHQGHN đƣợc nghiên cứu tƣơng đối toàn diện trong cuốn sách “Đổi mới cơ chế tài chính tại Đại học Quốc gia Hà Nội trong định hướng chung đổi mới cơ chế tài chính giáo dục Đại học Công lập của Việt Nam” (Phạm Xuân Hoan, 2015). Tác giả cuốn sách đã khái quát đƣợc những vấn đề chung, trình bày bức tranh toàn cảnh về thực trạng cơ chế tài chính trong hệ thống các trƣờng đại học công lập tại Việt Nam.
Bên cạnh đó, công trình đã chỉ ra những ƣu - nhƣợc điểm nội tại trong cơ chế tài chính và tác động của nó vào hoạt động chung của ĐHQGHN. Trên cơ sở đó, tác giả đã đƣa ra những giải pháp phù hợp với tình hình của đơn vị. Luận văn Thạc sĩ ngành Tài chính - Ngân hàng, trƣờng Đại học Kinh Tế Thành phố Hồ Chí Minh “Đổi mới cơ chế tài chính Tập đoàn Điện lực Việt Nam”, đƣợc thực hiện bởi tác giả Hứa Thị Phƣớc Trang (2007). Luận văn đã nghiên cứu một cách có hệ thống về cơ chế, chính sách tài chính trong ngành điện lực Việt Nam với đặc điểm của một mô hình kinh doanh đặc thù.
Tác giả đi sâu phân tích thực trạng của cơ chế tài chính đƣợc áp dụng tại Tập 4 z đoàn, từ đó chỉ ra những tồn tại, hạn chế và đƣa ra những giải pháp có tính thực tiễn đối với ngành điện lực Việt Nam. “Quản lý tài chính ở Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật”, luận văn Thạc sĩ - trƣờng Đại học Kinh Tế của tác giả Lƣu Thị Bình (2014). Đây là một trong số ít các nghiên cứu chuyên sâu liên quan tới công tác tài chính tại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực xuất bản. Tác giả đã làm rõ các vấn đề lý luận và khảo sát chi tiết thực trạng quản lý tài chính tại NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật.
Qua đó đã nêu rõ những hạn chế và bất cập, làm cơ sở đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quản lý tài chính tại đơn vị. Bài viết đăng trên Tạp chí Tài chính của Nguyễn Danh Nguyên và Nguyễn Đạt Minh (2014) với tiêu đề “Thách thức trong quản lý tài chính tại các Nhà xuất bản” đã đánh giá tổng quan thực trạng hoạt động các nhà xuất bản hiện nay, đặc biệt là những nhà xuất bản thuộc trong hệ thống các trƣờng đại học tại Việt Nam. Tác giả đã chỉ ra những khó khăn về nhu cầu vốn của các nhà xuất bản và đề xuất đổi mới cơ chế quản lý tài chính, giúp phát huy tối đa những đóng góp của các nhà xuất bản cho nhà trƣờng và xã hội. Trên thế giới, hoạt động xuất bản đã hình thành từ rất lâu và đƣợc quản lý một cách chặt chẽ và hiệu quả.
Các cơ chế, chính sách tài chính đã đƣợc nghiên cứu và áp dụng vào thực tế một cách phù hợp. Trong khi các quy định pháp luật, cơ chế, chính sách tài chính nói chung ở Việt Nam, đặc biệt là ngành xuất bản, vẫn đang từng bƣớc đƣợc sửa đổi và hoàn thiện. Điều này dẫn đến việc áp dụng các nghiên cứu trên thế giới vào điều kiện thực tế tại Việt Nam là rất khó khăn và chƣa phù hợp. Vì vậy, trong khuôn khổ của luận văn, tác giả xin phép không đề cập và tìm hiểu sâu về hoạt động xuất bản cũng nhƣ các cơ chế, chính sách tài chính trên thế giới.
Nhƣ đã đề cập và khảo sát ở trên, có nhiều công trình nghiên cứu về cơ chế, chính sách tài chính tại các tổ chức và doanh nghiệp ở Việt Nam. Tuy 5 z nhiên, có rất ít các nghiên cứu chuyên sâu liên quan tới cơ chế, chính sách tài chính trong ngành xuất bản - một ngành kinh doanh đặc thù. Đối với Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, đã có một vài nghiên cứu đề cập đến cơ chế, chính sách tài chính nhƣng chỉ mới dừng lại ở các bài viết ngắn, tham luận, các báo cáo Nghành, báo cáo nội bộ, đánh giá tổng kết hay những cuộc họp giao ban của Ngành. Vì vậy việc nghiên cứu toàn diện cơ chế, chính sách tài chính tại NXB ĐHQGHN là hết sức cần thiết.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, nghiên cứu này sẽ chỉ ra những bất cập và hạn chế của cơ chế, chính sách tài chính tại đơn vị, từ đó đề xuất những giải pháp đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính, có cơ sở khoa học, phù hợp với thực tiễn, để thúc đẩy sự phát triển của hoạt động xuất bản tại NXB ĐHQGHN. Lý luận về cơ chế, chính sách tài chính áp dụng cho xuất bản 1. Vài nét về Nhà xuất bản Hình thành và phát triển từ hàng trăm năm nay, xuất bản ra đời là do nhu cầu thông tin và truyền bá thông tin, đáp ứng những nhu cầu về văn hóa tinh thần, giá trị văn hóa, tƣ tƣởng xã hội. Xuất bản, tiếng Anh Publish / Publisher / Publishing – nghề, ngƣời hay công ty xuất bản và phát hành sách, tạp chí, âm nhạc hoặc các ấn phẩm khác.
Xuất bản là việc tổ chức, khai thác bản thảo, biên tập thành bài mẫu để in và phát hành hoặc để phát hành trực tiếp qua các phƣơng tiện điện tử (Luật Xuất bản 2012). Xuất bản đƣợc định nghĩa trong cuốn “Từ điển tiếng Việt” là việc in ra thành sách, báo, tranh ảnh để phát hành (Hoàng Phê, 2008). Cuốn “Từ điển bách khoa Việt Nam” định nghĩa xuất bản là các hoạt động thuộc lĩnh vực văn hóa, tƣ tƣởng, thông qua việc sản xuất, phổ biến các ấn phẩm đến nhiều ngƣời (NXB Từ điển Bách Khoa, 2005). Xuất bản là hoạt động truyền bá, bản thân nó không bao gồm khâu sáng tạo ra tác phẩm.
Xuất 6 z bản khai thác và truyền bá, phổ biến tác phẩm, là khâu nối tiếp, nâng cao giá trị văn hóa, nhân rộng và mang chúng đến với quảng đại quần chúng. Xuất bản gồm ba khâu: biên tập, in, phát hành xuất bản phẩm. Xuất bản phẩm là tác phẩm, tài liệu về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn học, nghệ thuật đƣợc xuất bản bằng tiếng Việt, tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nƣớc ngoài và còn đƣợc thể hiện bằng hình ảnh, âm thanh trên các vật liệu, phƣơng tiện kỹ thuật khác nhau (theo Điều 4, Luật xuất bản). Xuất bản phẩm là những tác phẩm chứa đựng các giá trị văn hóa tinh thần, tƣ tƣởng của con ngƣời sáng tạo ra.
Vì vậy, giá trị cơ bản của xuất bản phẩm nằm ở giá trị văn hóa tinh thần mà nó truyền tải. Đặc điểm của xuất bản: Một là, xuất bản bao gồm các lĩnh vực xuất bản, in, phát hành xuất bản phẩm, là chiếc đòn bẩy mạnh mẽ của văn hóa, của việc giáo dục tinh thần, đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài. Do đó về bản chất xuất bản là hoạt động truyền bá văn hóa. Ngay từ đầu xuất bản là hoạt động phổ biến truyền bá xuất bản phẩm, cung cấp tri thức khoa học, các giá trị thẩm mĩ và mọi nhu cầu tinh thần khác của con ngƣời.
Vì vậy, xuất bản thời đại nào cũng mang tính giáo dục. Hai là, sản phẩm của hoạt động xuất bản là vật thể vật chất nhƣng lại chứa đựng những giá trị tinh thần. Cho nên quá trình biên tập, chế bản, nhân bản,. đều là những khâu vừa mang tính chất khoa học, vừa mang tính văn hóa rõ rệt.
Tính chất văn hóa còn đƣợc biểu hiện qua quá trình lƣu thông, phân phối xuất bản phẩm. Quá trình này mang tính chất hàng hóa nhƣng là hàng hóa đặc biệt mang giá trị sử dụng thuộc văn hóa tinh thần chứ không phải là hàng hóa đơn thuần. Chính điều này làm cho hoạt động xuất bản mang tính chất đặc thù. 7 z Ba là, xuất bản là hoạt động truyền thông nhƣng cũng đƣợc lƣu thông trao đổi trên thị trƣờng nhƣ các loại hàng hóa thông thƣờng khác.
Quá trình xuất bản chịu sự ràng buộc của các chỉ tiêu, định mức chi phí kinh tế - kỹ thuật, doanh nghiệp sản xuất phải hạch toán để có lãi trong sản xuất xuất bản phẩm và để tái sản xuất. Nhà xuất bản, ngƣời làm xuất bản cũng phải hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trƣờng và điều tiết của thị trƣờng giá cả, của quy luật cạnh tranh; phải tính toán chi phí để có lợi nhuận. Nhƣ vậy, xuất bản có tính chất kinh tế. Vì vậy, xuất bản vừa thực hiện sự liên quan đến tƣ tƣởng và truyền thông, lại vừa liên quan đến kinh doanh và lợi nhuận.
Theo Luật Xuất bản, hiện nay các nhà xuất bản đƣợc tổ chức và hoạt động theo 2 loại hình: sự nghiệp và doanh nghiệp. Các nhà xuất bản đại học thuộc loại hình đơn vị sự nghiệp công lập, có chủ quản là các trƣờng đại học, có nhiệm vụ tổ chức biên soạn, in ấn và phát hành giáo trình, tài liệu tham khảo, chuyên khảo phục vụ đào tạo đại học, sau đại học và một phần sách phổ thông (đối với những nhà xuất bản đại học có khối phổ thông),… nhằm phục vụ công tác nghiên cứu của cán bộ giảng dạy, học sinh, sinh viên, học viên và các cán bộ làm công tác nghiên cứu; tài liệu bồi dƣỡng, nâng cao trình độ và các tài liệu khác… 1. Cơ chế, chính sách tài chính áp dụng cho nhà xuất bản 1.