Luận văn thạc sĩ ueh các nhân tố tác động đến việc chuyển đổi cơ sở kế toán tiền mặt sang cơ sở kế toán dồn tích ở khu vực công việt nam

Luận văn thạc sĩ UEH phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi từ kế toán tiền mặt sang kế toán dồn tích trong khu vực công Việt Nam.

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

133
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI

1.2. TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

1.3. KHE HỔNG NGHIÊN CỨU VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ

1.3.1. Xác định khe hổng cần nghiên cứu

1.3.2. Hướng nghiên cứu của tác giả

1.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KẾ TOÁN KHU VỰC CÔNG

2.1. TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC CÔNG

2.1.1. Vai trò của Khu vực công

2.1.2. Đặc điểm và phạm vi hoạt động của Khu vực công

2.1.3. Cơ cấu tổ chức của Khu vực công

2.2. TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT KẾ TOÁN CÔNG

2.2.1. Vai trò của Kế toán công

2.2.2. Đặc điểm Kế toán công

2.2.3. Cơ sở kế toán áp dụng trong kế toán công

2.2.4. Chuẩn mực kế toán công

2.3. LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU

2.3.1. Nội dung lý thuyết

2.3.2. Ứng dụng lý thuyết vào Luận văn

2.4. MÔ HÌNH LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU

2.4.1. Lý do chọn mô hình lý thuyết

2.4.2. Mô hình lý thuyết của Hasan (2004)

2.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. KHUNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN

3.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH

3.2.1. Lý thuyết phương pháp nghiên cứu tình huống

3.2.2. Cách thức thu thập dữ liệu định tính

3.2.3. Thống kê mô tả

3.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG

3.4. MÔ HÌNH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC CHUYỂN ĐỔI CƠ SỞ KẾ TOÁN TIỀN MẶT SANG CƠ SỞ KẾ TOÁN DỒN TÍCH Ở KHU VỰC CÔNG

3.5. PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC CHUYỂN ĐỔI CƠ SỞ KẾ TOÁN TIỀN MẶT SANG CƠ SỞ KẾ TOÁN DỒN TÍCH Ở KHU VỰC CÔNG VIỆT NAM

3.5.1. Nhân tố Chính trị

3.5.2. Nhân tố con người

3.5.3. Nhân tố Kinh tế

3.5.4. Nhân tố Pháp lý

3.5.5. Nhân tố Quốc tế

3.6. CÔNG CỤ PHÂN TÍCH ĐỂ XÁC ĐỊNH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC CHUYỂN ĐỔI CƠ SỞ KẾ TOÁN TIỀN MẶT SANG CƠ SỞ KẾ TOÁN DỒN TÍCH Ở KHU VỰC CÔNG

3.7. PHƯƠNG THỨC KHẢO SÁT

3.7.1. Phương thức khảo sát

3.7.2. Kiểm định mô hình

3.8. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

4.1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1.1. Kết quả nghiên cứu thực trạng kế toán khu vực công

4.1.2. Kết quả kiểm định mô hình

4.2. PHÂN TÍCH VÀ BÀN LUẬN

4.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. KẾT LUẬN VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

5.1.1. Tác động của nhân tố kinh tế đến việc chuyển đổi cơ sở kế toán dồn tích ở khu vực công – Kiến nghị

5.1.2. Tác động của nhân tố Quốc tế đến việc chuyển đổi cơ sở kế toán dồn tích trong khu vực công – Kiến nghị

5.1.3. Tác động của nhân tố Pháp lý đến việc chuyển đổi cơ sở kế toán dồn tích trong khu vực công – Kiến nghị

5.1.4. Tác động của nhân tố Chính trị đến việc chuyển đổi cơ sở kế toán dồn tích trong khu vực công – Kiến nghị

5.2. HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TRONG TƯƠNG LAI

5.2.1. Hạn chế của đề tài

5.2.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

5.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 5

Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ Lục

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Chuyển Đổi Kế Toán Tiền Mặt Sang Dồn Tích

Chuyển đổi từ kế toán tiền mặt sang kế toán dồn tích là một bước tiến quan trọng trong việc cải cách hệ thống kế toán ở khu vực công Việt Nam. Việc này không chỉ giúp nâng cao tính minh bạch trong báo cáo tài chính mà còn đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Nghiên cứu này sẽ phân tích các nhân tố tác động đến quá trình chuyển đổi này, từ đó đưa ra những giải pháp khả thi.

1.1. Tầm Quan Trọng Của Kế Toán Dồn Tích

Kế toán dồn tích cung cấp thông tin tài chính chính xác hơn, giúp các nhà quản lý đưa ra quyết định đúng đắn. Hệ thống này cho phép ghi nhận các khoản chi phí và doanh thu khi chúng phát sinh, thay vì khi tiền được nhận hoặc chi ra.

1.2. Lịch Sử Phát Triển Kế Toán Ở Việt Nam

Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển trong lĩnh vực kế toán. Từ những năm đầu đổi mới, hệ thống kế toán đã dần được cải cách để phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, trong đó có việc chuyển đổi sang kế toán dồn tích.

II. Các Thách Thức Trong Việc Chuyển Đổi Kế Toán

Việc chuyển đổi kế toán tiền mặt sang kế toán dồn tích gặp phải nhiều thách thức. Những thách thức này bao gồm sự thiếu hụt về nguồn lực, sự kháng cự từ các nhân viên kế toán, và sự không đồng bộ trong chính sách quản lý tài chính công.

2.1. Khó Khăn Về Nguồn Lực

Nhiều đơn vị công thiếu nguồn lực tài chính và nhân lực để thực hiện chuyển đổi. Việc đào tạo nhân viên về kế toán dồn tích cũng là một thách thức lớn.

2.2. Sự Kháng Cự Từ Nhân Viên

Sự kháng cự từ nhân viên kế toán có thể làm chậm quá trình chuyển đổi. Nhiều người có thể cảm thấy không thoải mái với những thay đổi trong quy trình làm việc của họ.

III. Phương Pháp Chuyển Đổi Kế Toán Hiệu Quả

Để thực hiện chuyển đổi thành công, cần có một phương pháp rõ ràng và hiệu quả. Các bước cần thiết bao gồm việc đánh giá hiện trạng, xây dựng kế hoạch chuyển đổi, và thực hiện đào tạo cho nhân viên.

3.1. Đánh Giá Hiện Trạng Kế Toán

Đánh giá hiện trạng giúp xác định những điểm mạnh và yếu trong hệ thống kế toán hiện tại. Điều này là cần thiết để xây dựng một kế hoạch chuyển đổi phù hợp.

3.2. Xây Dựng Kế Hoạch Chuyển Đổi

Kế hoạch chuyển đổi cần phải chi tiết và rõ ràng, bao gồm các bước cụ thể, thời gian thực hiện, và nguồn lực cần thiết.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Kế Toán Dồn Tích

Việc áp dụng kế toán dồn tích trong khu vực công đã mang lại nhiều lợi ích. Các đơn vị công có thể quản lý tài chính hiệu quả hơn, từ đó nâng cao trách nhiệm giải trình và tính minh bạch.

4.1. Cải Thiện Quản Lý Tài Chính

Kế toán dồn tích giúp các đơn vị công theo dõi chi phí và doanh thu một cách chính xác hơn, từ đó cải thiện khả năng quản lý tài chính.

4.2. Tăng Cường Trách Nhiệm Giải Trình

Với hệ thống kế toán dồn tích, các đơn vị công có thể cung cấp thông tin tài chính minh bạch hơn, từ đó tăng cường trách nhiệm giải trình trước công chúng.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Kế Toán Khu Vực Công

Chuyển đổi từ kế toán tiền mặt sang kế toán dồn tích là một xu hướng tất yếu trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Tương lai của kế toán khu vực công Việt Nam sẽ phụ thuộc vào khả năng thích ứng và cải cách của các đơn vị công.

5.1. Xu Hướng Toàn Cầu Hóa

Việt Nam cần tiếp tục cải cách hệ thống kế toán để phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, từ đó thu hút đầu tư và nâng cao hiệu quả hoạt động.

5.2. Đề Xuất Chính Sách Cải Cách

Cần có các chính sách hỗ trợ từ Chính phủ để thúc đẩy quá trình chuyển đổi, bao gồm việc đào tạo nhân lực và cung cấp nguồn lực tài chính.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh các nhân tố tác động đến việc chuyển đổi cơ sở kế toán tiền mặt sang cơ sở kế toán dồn tích ở khu vực công việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu.  Chương 2: Cơ sở lý thuyết kế toán khu vực công.  Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.  Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận.

 Chương 5: Kết luận và kiến nghị. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Thông tin kế toán khu vực công luôn là vấn đề được nhiều đối tượng quan tâm nghiên cứu ở các góc độ khác nhau. Để nghiên cứu sự đổi mới, chuyển đổi từ kế toán cơ sở tiền mặt sang kế toán trên cơ sở dồn tích, cần thiết phải nghiên cứu các điều kiện, các nhân tố tác động đến việc đổi mới kế toán khu vực công và thực hiện các biện pháp nhằm giảm thiểu các trở ngại cho việc đổi mới. Trong chương này, tác giả sẽ trình bày tổng quan các nghiên cứu về kế toán khu vực công ở nước ngoài và trong nước.1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƢỚC NGOÀI Với mục tiêu hợp nhất BCTC toàn Chính phủ Hoa Kỳ, phát triển các chỉ số đánh giá hoạt động ở cấp độ từng đơn vị công.

Với mục tiêu này, theo Ball và Cộng sự (1999) đã cho rằng, Chính phủ Hoa Kỳ đã không lập dự toán và hạch toán theo cơ sở kế toán dồn tích hoàn toàn mà đã chuyển sang áp dụng cơ sở kế toán dồn tích có điều chỉnh bằng cách thực hiện hệ thống kế toán quỹ và kế toán tổng hợp cho toàn khu vực công. Đối với kế toán quỹ dùng để theo dõi riêng BCTC toàn chính quyền và theo Ball và Cộng sự (1999) cho rằng: “gần như là thực hiện hai hệ thống sổ”. Lý do của việc thực hiện này là sự thống nhất giữa kế toán cho từng đơn vị công và kế toán tổng hợp cho toàn khu vực công. BCTC của khu vực công được lập trên cơ sở dồn tích hoàn toàn, còn kế toán trong các cấp thấp hơn lại sử dụng cơ sở dồn tích có điều chỉnh.

Như vậy, thông qua nghiên cứu của Ball.I và công sự (1999) cho thấy rằng, việc thực hiện kế toán công trên cơ sở dồn tích có điều chỉnh là việc làm nhằm giúp cải thiện thông tin báo cáo khu vực công minh bạch và theo chuẩn quốc tế, bên cạnh đó Chính phủ Hoa Kỳ có sự linh hoạt trong việc áp dụng cơ sở kế toán cho từng đơn vị HCSN. Jack Diamond (2002) đã nghiên cứu về lĩnh vực công tại các quốc gia có nền kinh tế mới nổi, các quốc gia thành viên của Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD) đã xem xét và chuyển đổi mô hình cải cách hệ thống quản lý chi tiêu công của họ. Trước đó, trong các nước này đã có một sự căng thẳng liên tục về thông tin LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 kế toán khu vực công và cần phải cải cách hệ thống kế toán. Theo đó, các nền kinh tế mới nổi đã tìm cách để nhân rộng các cải cách kế toán trong OECD tiên tiến hơn các nước bình thường trong việc chuyển đổi kế toán trên cơ sở tiền mặt sang kế toán trên cơ sở dồn tích.

Jack Diamond đã đưa ra một số chi tiết quan trọng về mối quan hệ giữa hệ thống cải cách của Chính phủ và hệ thống Ngân sách. Đầu tiên, việc chuyển sang kế toán trên cơ sở dồn tích, sẽ đưa ra các chi phí liên quan, chỉ có giá trị trong bối cảnh áp dụng cải cách quản lý khu vực công trên diện rộng. Thứ hai, quá trình cải cách không tránh khỏi việc mất thời gian, cần được thực hiện trong một giai đoạn dài khi chuyển sang cơ sở kế toán dồn tích. Thông qua bài viết này, Jack Diamond đã xem xét một số giải pháp để đạt được các lợi ích nhất định khi chuyển từ cơ sở kế toán tiền mặt sang cơ sở kế toán dồn tích một cách toàn diện và cung cấp thông tin kế toán hữu ích.

Như vậy, việc nêu cao tinh thần thực hiện cơ sở kế toán dồn tích trong nghiên cứu của Jack Diamond nhằm hướng tới quá trình cải cách để thực hiện cơ sở kế toán dồn tích trong khu vực công tại các nước trong tổ chức OECD là điều cần thiết. Tyrone M Carlin, (2003) tổng hợp bài viết dựa trên các cuộc tranh luận trước đây về việc áp dụng kế toán trên cơ sở dồn tích vào khu vực công. Carline đã tổng hợp lại các quan điểm ủng hộ cơ sở kế toán dồn tích và quan điểm không ủng hộ cơ sở kế toán dồn tích. Cuối cùng, Tyrone M Carlin đã ủng hộ xu hướng chuyển đổi cơ sở kế toán dồn tích là tất yếu và chỉ có cơ sở kế toán dồn tích mới có thể đưa ra thông tin kế toán chuẩn xác và mang tính hữu ích cho người sử dụng thông tin.

Việc thực hiện thực nghiệm này đã diễn ra tại Úc, nhưng với mô hình thực hiện đầy đủ, diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của khu vực công nước Úc thì mới có thể đưa ra kết quả tốt. Tyrone M Carlin cho rằng việc áp dụng cơ sở kế toán dồn tích trong thực tế sẽ đưa ra các thay đổi cho một số quyết định quan trọng của Chính phủ đến các vấn đề gia công phần mềm và đấu thầu cạnh tranh vì nó làm thay đổi phương pháp tính và các thông tin kế toán cũng bị thay đổi. Tuy nhiên, nếu Chính phủ Úc chấp nhận mức chi phí cao trong việc chuyển đổi sang cơ sở kế toán dồn tích thì sẽ nhận được kết quả thông tin kế toán tốt hơn. Tương tự như nghiên cứu của Jack Diamond LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 (2002), thì Tyrone M Carlin, (2003) lại nghĩ ngay đến các chi phí có liên quan đến việc thực hiện cải cách kế toán khu vực công sang cơ sở dồn tích.

Nhưng với nghiên cứu của Carlin, thì việc áp dụng cơ sở kế toán dồn tích này cần thực hiện đảm bảo hoàn chỉnh và đồng bộ cho các lĩnh vực công tại nước Úc, do đó cần hợp nhất BCTC toàn chính quyền mới có thể đảm bảo thông tin đáng tin cậy. Bên cạnh đó, Hasan (2004) cho rằng hệ thống kế toán truyền thống của Chính phủ là một hệ thống tiền tệ được sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên, hệ thống chi tiêu Chính phủ dựa trên cơ sở kế toán tiền mặt hàng năm không cung cấp thông tin thích hợp cho các nhà quản lý khu vực công để tận dụng cho việc sử dụng tốt nhất các nguồn lực có sẵn. Ngoài ra, cơ sở kế toán tiền mặt không cung cấp một tài khoản đầy đủ và chính xác các hoạt động, đặc biệt là khi tài sản vốn được sử dụng, nó không có tài khoản để cam kết trong tương lai, hoặc bảo lãnh các khoản nợ khác, cơ sở kế toán chỉ điều khiển đầu mua vào chứ không kiểm soát sản lượng sản xuất và đồng thời không cung cấp thông tin về tình trạng tài chính của chính phủ.

Trong khi đó, việc sử dụng cơ sở kế toán dồn tích sẽ cung cấp thông tin về tổng chi phí của đầu ra và hỗ trợ trong việc đo hiệu suất và hiệu quả hoạt động. Trách nhiệm của cơ sở kế toán dồn tích là kết hợp chặt chẽ với việc quản lý công và các ứng dụng của tích lũy kế toán trong khu vực công để tăng cường trách nhiệm giải trình là một trong những mục tiêu rõ ràng của tất cả các cuộc cải cách quản lý về kế toán. Việc thực hiện kế toán trên cơ sở dồn tích của khu vực công thành công sẽ giúp cải thiện BCTC, cải thiện việc đánh giá kết quả thực hiện, trình bày thông tin kế toán, quản lý tài sản và nợ tốt hơn cho Chính phủ. Nhưng mặt khác, việc thực hiện kế toán dồn tích trong khu vực công không phải là một nhiệm vụ dễ dàng do tính chất cụ thể và yêu cầu của nó.

Do đó, việc thực hiện cơ sở kế toán dồn tích cần sự hợp tác của một loạt các yếu tố để tạo điều kiện thích hợp nhằm giới thiệu và đưa nó vào thực tế. Những yếu tố này được phản ánh trong phương trình sau: AC (ps) = f (MC + PBS + PAS + CS + WC + CC + BAC + SAI + ITC) Trong đó : LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 AC (ps) : Sự thay đổi kế toán theo phương pháp áp dụng kế toán dồn tích trong khu vực công.  F : Chức năng  MC : Quản lý thay đổi.  PBS : Hỗ trợ chính trị, hàm ý là hỗ trợ pháp lý và điều hành.

 PAS : Hỗ trợ chuyên nghiệp và học thuật trong lĩnh vực kế toán và kiểm toán.  CS : Chiến lược truyền thông bao gồm : sách, tạp chí, hội nghị.  WC : Sẵn sàng để thay đổi.  CC : Tư vấn và phối hợp với cơ quan chính quyền để áp dụng kế toán dồn tích.

 BAC : Ngân sách và các chi phí cập nhật kế toán theo thông lệ quốc tế.  SAI : Thực hiện các vấn đề kế toán cụ thể như xác định và định giá tài sản, sổ đăng ký, tổ chức báo cáo…  ITC : Khả năng công nghệ thông tin. Dựa trên các nhân tố này, Hassan (2004) cũng đưa ra các câu hỏi để trả lời cho việc quyết định cải cách : 1.Lợi ích từ việc thực hiện kế toán dồn tích trong khu vực công; 2.Chi phí ước tính của việc thực hiện quá trình cải cách; 3.Năng lực của một quốc gia để thực hiện những thay đổi này, không phải tất cả các nước đều có thể thực hiện được các thay đổi; 4.Sự phức tạp của những thay đổi này; 5.Những thay đổi này phụ thuộc hay độc lập nhau, quá trình thay đổi có thể được thực hiện một mình hoặc nó phụ thuộc vào việc thực hiện của các thay đổi khác; 6.Đến mức độ nào chính phủ khuyến khích các hoạt động quản lý; 7.Thực hiện các hàng rào cản; 8.Mức độ sẵn sàng của Chính phủ chấp nhận sự thay đổi. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Mô hình dựa trên việc xem xét các tài liệu kế toán, thông qua kinh nghiệm nghiên cứu chuyên sâu ở New Zealand, Vương quốc Anh và Úc liên quan đến kế toán dồn tích trong khu vực công của họ, mà Hasan (2004) có thể phát triển nghiên cứu liên quan đến việc thực hiện các rào cản của kế toán cơ sở dồn tích trong khu vực công tại các nước đang phát triển.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ