Chương 1: Những vấn đề lý luận về chuyên đổi công ty nhà nước; Chương 2: Thực trạng pháp luật chuyển đổi công ty nhà nước và thực tiễn chuyên đổi công ty nhà nước; Chương 3: Thực tiễn chuyển đổi tại công ty Thông tin Viễn thông Điện lực. CHUONG I NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE CHUYEN DOI CÔNG TY NHÀ NƯỚC 1. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TY NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm và đặc điểm của công ty nhà nước Để hiểu khái niệm công ty nhà nước, trước hết cần đề cập đến khái niệm Doanh nghiệp nhà nước: Luật về Doanh nghiệp nhà nước được ban hành lần đầu vào năm 1995 và được sửa đổi bé sung tại Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003, theo đó đã thay đổi quan niệm về Doanh nghiệp nhà nước: “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phan, vốn góp chỉ phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phan, công ty TNHH” |2] Còn công ty nhà nước là một trong số các loại hình của doanh nghiệp nhà nước.
Doanh nghiệp nhà nước có thể bao gồm: công ty nhà nước, công ty TNHH nhà nước một thành viên, công ty TNHH nhà nước hai thành viên trở lên, công ty cé phan nhà nước, doanh nghiệp có cỗ phan, vốn góp chi phối của nhà nước. công ty nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, được Nhà nước thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp nhà nước và các văn bản thi hành (trong khi các loại hình khác của doanh nghiệp nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Luật doanh nghiệp). công ty nhà nước có hai hình thức tồn tại, đó là: công ty nhà nước độc lập và Tổng công ty nhà nước. công ty nhà nước là một loại hình của doanh nghiệp nhà nước nên cũng có những đặc điểm chung của doanh nghiệp nhà nước và cũng có những đặc điêm riêng như sau: + Về sở hữu: công ty nhà nước là doanh nghiệp mà toàn bộ vốn điều lệ do Nhà nước nắm giữ 100% và thuộc sở hữu Nhà nước + Về quyền quyết định đối với công ty nhà nước: Vì công ty nhà nước do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ nên Nhà nước có toàn quyền định đoạt đối với doanh nghiệp hoặc quyền định đoạt đối với điều lệ hoạt động, đối với việc b6 nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý chủ chốt, đối với việc tổ chức, quản lý và quyết định quản lý quan trọng khác của doanh nghiệp.
+ Về hình thức tổn tại: công ty nhà nước tồn tại dưới hai hình thức: công ty nhà nước độc lập và Tổng công ty Nhà nước. + Về tư cách pháp lý và trách nhiệm tài sản: công ty nhà nước là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, thực hiện hạch toán kinh doanh, lấy thu bù chi và phải đảm bảo có lãi để tồn tại và phát triển. công ty nhà nước có tài sản riêng và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng đó về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vai trò của công ty nhà nước công ty nhà nước hiện nay vẫn giữ vai trò chủ đạo: mặc dù chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn chuyên sang nền kinh tế nhiều thành phần vẫn là giảm số lượng công ty nhà nước ở những ngành lĩnh vực mà Nhà nước không cần thiết phải chi phối, nhưng vai trò chủ đạo của công ty nhà nước vẫn được khang định ở chỗ: thông qua công ty nhà nước, Nhà nước có thể điều tiết được nền kinh tế, định hướng sự phát triển của các thành phần kinh tế khác.
Vai trò kinh tế: Doanh nghiệp nhà nước nói chung cũng như công ty nhà nước nói riêng giúp khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường, đảm bảo đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh có tính chiên lược đôi với sự phát triên của kinh tê xã hội, nhưng đòi hỏi có vôn đầu tư lớn vượt quá khả năng của tư nhân; tham gia vào những lĩnh vực khoa học công nghệ mũi nhọn, có hệ số rủi ro cao mà các loại hình doanh nghiệp khác không muốn đầu tư; tham gia vào một số ngành có lợi thé cạnh tranh Vai trò chính trị: công ty nhà nước nắm giữ những ngành đặc biệt quan trọng liên quan đến an ninh quốc phòng quốc gia; tham gia chiếm giữ một số vị trí thiết yếu, quan trọng để chủ động định hướng xã hội và làm đối trọng trong phát triển hội nhập quốc tế. Vai trò xã hội: công ty nhà nước gánh vác chức năng và vai trò xã hội khác biệt so với các loại hình doanh nghiệp khác. Đó là đầu tư vào những ngành ở những địa bàn khó khăn có ý nghĩa chính trị - xã hội mà tư nhân không muốn đầu tư, đảm bảo sự cân bằng phát triển vùng miền; đảm nhận sản xuất các hàng hoá công cộng thiết yếu.Ngoài ra các công ty nhà nước là nơi giải quyết van dé lao động xã hội tốt nhất, là nơi người lao động được thực hiện một số quyền chính trị của mình. Tuy nhiên, hiện nay trong xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, Việt Nam gia nhập WTO, mô hình hoạt động của các công ty Nhà nước còn nhiều bat cập.
Cụ thé là: Thứ nhất, trước đây, ở nước ta phần lớn các công ty nhà nước được hình thành do ý chí chủ quan của các cơ quan nhà nước chứ không phải do yêu cầu khách quan của trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Đây là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự hoạt động kém hiệu quả của hầu hết các công ty nhà nước. Chính vì hình thành dựa trên ý chí chủ quan của các cơ quan nhà nước, nên các công ty nhà nước chịu sự chi phối của nhiều tầng lớp quản lý, nhiều mệnh lệnh hành chính trong hoạt động của mình. Cơ chế quản lý công ty nhà nước còn nhiều bất cập, từ quyền tự chủ tuyển chọn nhân sự, điều hành công ty đến tài chính, giá cả, tiền lương.
Đồng thời, những người quản ly trong các công ty nhà nước có nguy cơ tham nhũng. trục lợi rất cao, vì tài sản là của Nhà nước nhưng giao cho họ quản lý, dẫn đến tình trạng hoạt động kinh doanh thua lỗ nhưng họ lại không gánh vác trách nhiệm mà trách nhiệm này lại thuộc về Nhà nước. Thứ hai, quy mô công ty nhà nước chưa lớn, còn nhiều công ty hoạt động trong một số ngành lĩnh vực mà Nhà nước không cần chi phối, trình độ công nghệ còn lạc hậu, sử dụng công nghệ cũ, năng suất lao động và hiệu quả hoạt động còn thấp, sức cạnh tranh chưa đủ đáp ứng yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế. Vì vậy, một số tổng công ty nhà nước chưa phát huy được vai trò chi phối trong ngành, lĩnh vực hoạt động, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh chưa tương xứng với đầu tư của Nhà nước.
Chính vì vẫn còn tổn tại khó tránh khỏi trong hoạt động của công ty nhà nước nên Nhà nước ta đã đề ra chủ trương đổi mới doanh nghiệp nha nước nói chung, trong đó có các công ty nhà nước. Những năm qua, Chính phủ đã tập trung cho việc ban hành các cơ chế, chính sách, tạo khung pháp lý tương đối đồng bộ để sắp xếp, đổi mới và chuyển đổi dé phát triển công ty nhà nước và đã đạt được kết quả quan trọng. Khái quát về chuyển đỗi công ty nhà nước 1. Khái niệm chuyền đổi công ty nhà nước Chuyển đổi công ty nhà nước là việc thay đổi hình thức sở hữu vốn, tài sản trong doanh nghiệp và thay đổi cơ cau tô chức, phương thức hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty nhà nước nhằm tạo ra một cơ chế hoạt động hợp lý hơn, có hiệu quả kinh tế hơn.
Bản chất của việc chuyển đổi này là chuyển phương thức sở hữu, phương thức hoạt động cũ không hợp lý, kém hiệu quả, năng suất chất lượng thấp sang một phương thức mới hợp lý hơn, hiệu quả hơn. Không chỉ riêng các nước XHCN chuyền từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường mới nghĩ đến việc chuyên đối 10 các đơn vị kinh tê thuộc khu vực Nhà nước. Việc này đã và đang diễn ra ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triên. Từ kinh nghiệm của các nước trên thê giới, chưa có một nước nào kinh doanh công cộng mà đạt hiệu quả kinh doanh cao.
Ví dụ, ở Bắc Âu, doanh nghiệp công rất phát triển song đối với các doanh nghiệp công không sinh lợi thì hiệu quả phát triển cao, còn đối vớicác lĩnh vực liên quan đến dịch vụ nếu như để đạt kết quả như những doanh nghiệp tư thi chi phí bỏ ra rất lớn. Ở Nhật Bản, sau chiến tranh thế giới thứ hai, do nền kinh tế chưa phát triển, hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh.để vực dậy nên kinh tế trong nước, Nhà nước đã tiến hành quốc hữu hoá nhưng chỉ trong một thời gian ngắn phải buông tay vì hoạt động không hiệu quả. Ở Việt Nam, trước đây, có thé nói không một lĩnh vực nào từ hàng không, dịch vụ, kinh doanh, lương thực.mà không có sự can thiệp của Nhà nước, Nhà nước dã tham gia tất cả các lĩnh vực nhưng hiệu quả hoạt động của các công ty nhà nước không cao, mặc dù nguồn lực đầu tư lớn hơn gấp 1.5 đến 2 lần so với doanh nghiệp dân doanh. Đặt trong xu thé hội nhập với thé giới, phát triển nền kinh tế thị trường, Việt Nam cũng cần phải lành mạnh hoá các quan hệ kinh tế với cơ cấu kinh tế nhiều thành phan, hình thức tổ chức sản xuất da dạng dựa trên sở hữu toàn dân, sở hữu tập thé, sở hữu tư nhân.Đó là “nền kinh tế đa thành phân.
trong đó kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo” (Hiến pháp 1992 - sửa đổi bổ sung 2001 - điều 15) Chuyển đổi công ty nhà nước có nhiều hình thức khác nhau ở các nước trên thê giới và ở Việt Nam. Đó là các hình thức như: Cé phan hoá công ty nha nước, ban toàn bộ công ty nha nước, giao công ty nhà nước cho tập thé người lao động trong công ty. II Những năm qua, Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước đã ban hành cơ chế, chính sách, tạo khung pháp lý tương đối đồng bộ và phù hợp cho sắp xếp, cổ phan hoá, đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước nói chung và công ty nhà nước nói riêng.