Chương 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ THEO HƯỚNG CNH-HĐH 1. Lý luận về cơ cấu kinh tế 1. Khái niệm cơ cấu kinh tế Có nhiều khái niệm khác nhau về cơ cấu kinh tế, nhưng về cơ bản thì những khái niệm khác nhau đó không mâu thuẫn, mà chỉ bao hàm nội dung rộng hẹp, nông sâu khác nhau. Xin được điểm qua một vài khái niệm tiêu biểu sau đây: “Cơ cấu kinh tế là tổng thể các bộ phận hợp thành kết cấu của một nền kinh tế.
Các bộ phận đó gắn bó, tác động qua lại lẫn nhau và biểu hiện ở các quan hệ tỉ lệ về số lượng, tương quan về chất lượng trong những không gian và thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiện kinh tế-xã hội nhất định nhằm đạt tới hiệu quả kinh tế- xã hội” (Đinh Sơn Hùng và cộng sự, 2005, tr5). Theo khái niệm này, khi nghiên cứu xem xét về cơ cấu kinh tế, cần chú ý cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế vùng (hoặc vùng lãnh thổ) và cơ cấu kinh tế thành phần (hoặc sở hữu). (1) Cơ cấu kinh tế ngành: là tổ hợp các ngành hợp thành, các ngành quan hệ gắn bó với nhau theo những tỷ lệ nhất định. Ngành có thể hiểu là tổng thể các đơn vị kinh tế cùng thực hiện một chức năng trong hệ thống phân công lao động xã hội, phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và khoa học công nghệ của nền kinh tế.
CCKT ngành biểu hiện mối quan hệ kinh tế giữa các ngành trên cơ sở phân công lao động xã hội. Cơ cấu ngành là bộ phận then chốt của nền kinh tế quốc dân vì cơ cấu ngành quyết định trạng thái chung và tỷ lệ đầu vào, đầu ra của nền kinh tế. Thay đổi mạnh mẽ cơ cấu ngành là nét đặc trưng của các nước đang phát triển. Theo nhà kinh tế học người Anh, Colin Clark đã phân loại toàn bộ hoạt động nền kinh tế thành ba ngành: - Ngành thứ I: Sản phẩm được sản xuất ra có nguồn gốc tự nhiên (nông, lâm, ngư nghiệp, khai khoáng).
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 22 - Ngành thứ II: Gia công các sản phẩm được sản xuất ra có nguồn gốc tự nhiên (công nghiệp và xây dựng). - Ngành thứ III: Ngành sản xuất ra của cải vô hình (dịch vụ). Để thống nhất tiêu chuẩn phân loại ngành giữa các nước. Liên Hiệp quốc đã ban hành “Hướng dẫn phân loại ngành theo tiêu chuẩn quốc tế đối với toàn bộ các hoạt động kinh tế”.
Tiêu chuẩn này được gom lại thành ba bộ phận, nó trùng hợp với phương pháp phân loại của Colin Clark gồm 3 nhóm ngành chính: - Nhóm ngành nông nghiệp, bao gồm: các ngành nông, lâm, ngư nghiệp - Nhóm ngành công nghiệp, bao gồm: các ngành công nghiệp và xây dựng - Nhóm ngành dịch vụ, bao gồm: thương mại, du lịch, tài chính, ngân hàng, bưu chính viễn thông,… Khi phân tích cơ cấu kinh tế ngành của một quốc gia, người ta thường phân tích theo ba nhóm ngành chính: - Nhóm ngành nông nghiệp gồm: nông, lâm, ngư nghiệp. - Nhóm ngành công nghiệp gồm: công nghiệp và xây dựng. - Nhóm ngành dịch vụ gồm: thương mại, dịch vụ, bưu điện. (2) Cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ: loại CCKT này phản ánh mối quan hệ giữa các vùng lãnh thổ trên cả nước hoặc ở phạm vi của một tỉnh trong hoạt động kinh tế tổng thể.
Phân tích CCKT vùng có ý nghĩa cho xây dựng chính sách phát triển vùng trên cơ sở phát huy tiềm năng của từng vùng và đóng góp của vùng vào nền kinh tế. Ngoài ra, CCKT vùng thường được sử dụng để nghiên cứu về sự chênh lệch phát triển giữa các vùng, theo dõi xu hướng thay đổi mối tương quan giữa vùng động lực với vùng nghèo và các vùng khác. Từ đó gợi mở chính sách hướng tới giảm mức độ chênh lệch về phát triển giữa các vùng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 23 Cơ cấu vùng lãnh thổ hình thành gắn liền với cơ cấu ngành và thống nhất trong vùng kinh tế.
Trong cơ cấu vùng kinh tế, có sự biểu hiện của cơ cấu ngành trong điều kiện cụ thể của không gian lãnh thổ. Việc chuyển dịch cơ cấu vùng kinh tế phải bảo đảm sự hình thành và phát triển có hiệu quả các ngành kinh tế, các thành phần kinh tế theo lãnh thổ và trên phạm vi cả nước, phù hợp với đặc điểm tự nhiên, KT-XH, phong tục tập quán, truyền thống của mỗi vùng, nhằm khai thác triệt để thế mạnh của vùng đó. (3) Cơ cấu thành phần kinh tế (TPKT): nếu như phân công lao động sản xuất là cơ sở hình thành cơ cấu ngành và cơ cấu vùng lãnh thổ, thì chế độ sở hữu là cơ sở hình thành cơ cấu TPKT. Cơ cấu TPKT cũng là nhân tố tác động đến cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu vùng lãnh thổ.
Sự tác động đó là biểu hiện mối quan hệ giữa con người trong quá trình sản xuất trong đó nổi bật lên hàng đầu là quan hệ sở hữu đối với các tư liệu sản xuất. Mô hình về số lượng các TPKT trong nền kinh tế của Việt Nam cũng giống như các nước bao gồm: kinh tế nhà nước, kinh tế ngoài nhà nước (kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và kinh tế cá thể) và kinh tế vốn đầu tư nước ngoài. Tỷ lệ giữa các TPKT này thường không giống nhau. Điều này tạo ra tính đặc thù trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia cũng như trong mỗi giai đoạn phát triển của từng quốc gia.
Ba yếu tố cơ bản hợp thành cơ cấu kinh tế là cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế vùng và cơ cấu kinh tế thành phần có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong đó CCKT ngành có vai trò quan trọng hơn cả vì nó quyết định sự thay đổi các cơ cấu kinh tế khác. Những tiêu chí đánh giá sự phù hợp của cơ cấu kinh tế và những chỉ tiêu cơ bản đánh giá cơ cấu kinh tế 1. Những tiêu chí đánh giá sự phù hợp của cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế được xem là phù hợp khi đáp ứng được các tiêu chí sau: - Một là, phản ánh được và đúng các quy luật khách quan bao gồm các quy luật tự nhiên, KT-XH, nhất là các quy luật kinh tế như: quy luật quan hệ sản xuất TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 24 phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, những quy luật của kinh tế thị trường như: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ, các quy luật tái sản xuất như: quy luật năng suất lao động, quy luật tích lũy, phân phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân.
- Hai là, đảm bảo khai thác tối đa những ưu thế và những thuận lợi về các nguồn lực như: vị thế, đất đai, khí hậu, truyền thống và các tiềm năng vốn có về xã hội, lao động. Bảo đảm và tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của mỗi ngành, mỗi vùng và các thành phần kinh tế. - Ba là, cơ cấu kinh tế đó tạo được những điều kiện thuận lợi cho các ngành kinh tế phát triển với số lượng và chủng loại sản phẩm đặc trưng, đa dạng, phong phú, đảm bảo tiêu dùng của dân cư và xuất khẩu. - Bốn là, phù hợp với xu hướng tiến bộ của khoa học – công nghệ đã và đang diễn ra như vũ bão trên thế giới.
Nghĩa là CCKT vừa là điều kiện môi trường để thúc đẩy tiến bộ khoa học-công nghệ, vừa là địa bàn có thể ứng dụng nhanh chóng hiệu quả tiến bộ khoa học-công nghệ vào chuyển dịch CCKT và vào phát triển. - Năm là, lấy hiệu quả KT-XH làm thước đo kết quả cuối cùng của một cơ cấu kinh tế tối ưu. Những tiêu chí trên mang tính định tính, nhưng có khả năng phản ánh đầy đủ tính chất của cơ cấu kinh tế. Những chỉ tiêu cơ bản đánh giá cơ cấu kinh tế (1) Chỉ tiêu lao động biểu hiện trên phương diện sử dụng lao động và năng suất lao động.
Chuyển dịch lao động là từ nơi có năng suất lao động thấp sang nơi có năng suất lao động cao. (2) Chỉ tiêu giá trị sản xuất phản ánh hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào trong sản xuất kinh doanh của CCKT và cũng phản ánh năng suất của các yếu tố đầu vào và cơ cấu giá trị các ngành trong GDP. (3) Chỉ tiêu kỹ thuật phản ánh quá trình thay thế công cụ lao động thủ công bằng công cụ lao động có trình độ kỹ thuật ngày càng hiện đại. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Chuyển dịch CCKT là sự thay đổi của cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trường phát triển. Về thực chất đó là sự điều chỉnh cơ cấu trên ba mặt biểu hiện (ngành, lãnh thổ và thành phần kinh tế) nhằm hướng sự phát triển của cả nền kinh tế vào các chiến lược kinh tế - xã hội đã được đề ra cho từng thời kỳ cụ thể (Nguyễn Minh Tuệ, 2005, tr. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải đáp ứng các yêu cầu sau: - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải đảm bảo sự ổn định, tạo ra sự cân đối trong phát triển sản xuất của các ngành kinh tế, đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của xã hội.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm khai thác tốt hơn tiềm lực kinh tế, tài nguyên, lao động, kỹ thuật hiện có trong vùng, trong nước, nhanh chóng thích ứng với nhu cầu hội nhập và mở rộng hợp tác quốc tế (Chuyển dịch CCKT vùng, lãnh thổ). - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải nhằm duy trì có hiệu quả nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, tạo điều kiện huy động tối đa sự đóng góp của mọi thành viên trong xã hội vào quá trình phát triển nền kinh tế đất nước (Chuyển dịch CCKT thành phần). - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải đảm bảo triển khai thành công quá trình CNH-HĐH. - Chuyển dịch CCKT phải xét trên phương diện là số lượng và chất lượng trong đó trọng tâm là chất lượng chuyển dịch CCKT vì chuyển dịch CCKT ngành kỹ thuật giữ vai trò chủ yếu, có ý nghĩa quyết định đến chuyển dịch CCKT nói chung.
Những tính chất chủ yếu của CCKT và chuyển dịch CCKT TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tính khách quan.