Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan nghiên cứu tài liệu liên quan đến đề tài 1. Những nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới, dạy học tích hợp đã trở thành một trào lưu sư phạm hiện đại từ rất sớm. Tháng 9-1968, “Hội nghị tích hợp về việc giảng dạy các khoa học” đã được Hội đồng Liên quốc gia về giảng dạy khoa học tổ chức tại Varna (Bungari), với sự bảo trợ của UNESCO.
Hội nghị nêu ra hai vấn đề là vì sao phải dạy học tích hợp và tích hợp các khoa học là gì. Theo đó, dạy học tích hợp được UNESCO định nghĩa như sau: “Một cách trình bày các khái niệm và nguyên lí khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau”. Định nghĩa của UNESCO cho thấy dạy học tích hợp xuất phát từ quan niệm về quá trình học tập hình thành ở học sinh (HS) những năng lực ở trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của xã hội. Quá trình dạy học tích hợp bao gồm những hoạt động tích hợp giúp HS biết cách phối hợp các kiến thức, kĩ năng và thao tác một cách có hệ thống.
4 Dạy học tích hợp đã và đang được thực hiện ở nhiều quốc gia có nền giáo dục phát triển hàng đầu của thế giới, mức độ tích hợp khá đa dạng. Số nước có môn Khoa học tự nhiên thay cho 3 môn học riêng rẽ là Vật lí, Hoá học và Sinh học ở cấp THCS chiếm tỉ lệ cao trong số các quốc có nền giáo dục phát triển như Anh, Australia, Hàn Quốc, Mỹ, New Zealand, Nhật Bản, Singapore, Thụy Sỹ,. Việc tích hợp Lịch sử và Địa lí thành một môn học (Lịch sử và Địa lí / Khoa học xã hội / Nghiên cứu xã hội) tuy không phổ biến như môn Khoa học tự nhiên nhưng cũng đã thực hiện ở nhiều quốc gia có nền giáo dục phát triển như Canada, Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Pháp,. Những nghiên cứu tại Việt Nam Lũ Đạt và Chu Mãn Sinh là chủ biên của 7 cuốn sách: “Cải cách giáo dục ở các nước đang phát triển” đã tập trung nghiên cứu về các văn kiện nổi tiếng, quá trình cải cách giáo dục của các nước trên thế giới.
Nội dung các cuốn sách trình bày tư tưởng, quan điểm chủ đạo, những vấn đề cốt lõi, những con đường và những 4 Tạp chí khoa học, Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, Dạy học tích hợp trong trường phổ thông Australia 5 Webside Vietnam.net, Dạy học tích hợp – kinh nghiệm từ thế giới download by : skknchat@gmail.com công việc các nước Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Ôxtrâylia, Nhật Bản đã tiến hành để thay đổi nền giáo dục của mình theo hướng hiện đại hoá, làm cho giáo dục trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, điều kiện bảo đảm phát triển bền vững đất nước, tạo ra năng lực cạnh tranh bình đẳng với các quốc gia trong thời hội nhập. Những cuốn sách này có thể coi là cơ sở lý luận và thực tiễn của công cuộc cải cách nền giáo dục một nước.6 Thực hiện nghị quyết 8 hội nghị XI, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã đón đầu chương trình đào tạo GV, triển khai biên soạn, xuất bản và phát hành bộ sách bồi dưỡng GV, trong đó có bộ sách Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh gồm 2 quyển: Quyển 1 – Khoa học tự nhiên (Vật lí, Hóa học, Sinh học, Địa lí, .); Quyển 2 – Khoa học xã hội (Lịch sử, Giáo dục công dân, Giáo dục quốc phòng an ninh,. Bộ sách cung cấp một số cơ sở lí luận cần thiết về dạy học tích hợp theo định hướng phát triển năng lực, đồng thời giới thiệu các chủ đề tích hợp với các mức độ tích hợp khác nhau, từ tích hợp ở mức độ lồng ghép/liên hệ đến tích hợp ở mức độ chương trình – ở đó coi Khoa học tự nhiên / Khoa học xã hội như một môn học. Các chủ đề minh hoạ trong bộ sách nhằm giúp GV có cơ sở để rèn các kĩ năng cơ bản từ việc lựa chọn chủ đề tích hợp, thiết kế các hoạt động dạy học đến việc xây dựng công cụ kiểm tra, đánh giá.
Mục đích của bộ sách không chỉ cung cấp những chỉ dẫn theo cách “cầm tay chỉ việc”, mà còn giúp GV chủ động, tự tin và sáng tạo trong việc lựa chọn cách thức tổ chức dạy học các chủ đề tích hợp để đáp ứng tốt nhất mục tiêu dạy học, và sự phát triển đa dạng các năng lực của HS. Sách “Hướng dẫn học tập môn Xã hội” được Bộ Giáo dục Nhật Bản ban hành năm 1947 – thời điểm Nhật Bản đang tiến hành cải cách giáo dục mạnh mẽ nhằm tái thiết đất nước sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1945). Bản dịch tiếng Việt do Nguyễn Quốc Vương dịch và TS. Nguyễn Lương Hải Khôi hiệu đính.
Cuốn sách trình bày cụ thể về mục tiêu, nội dung, phương pháp chỉ đạo và đánh giá học tập môn Xã hội, những nguyên lý giáo dục hiện đại và có tính phổ biến đã được người Nhật đề cập và nỗ lực thực hiện từ rất sớm như: giáo dục lấy HS làm trung tâm, coi trọng kinh nghiệm xã hội của HS, coi trọng phân quyền địa phương và tự trị trường học, học tập tổng hợp (tích hợp), học tập theo chủ đề,. 6 Cải cách giáo dục ở các nước đang phát triển, Nxb Giáo dục Việt Nam 7 download by : skknchat@gmail.com Cho tới thời điểm hiện tại có rất nhiều sinh viên, nghiên cứu sinh Việt Nam nghiên cứu về PPDH chuyên đề: Khóa luận tốt nghiệp, Trần Thị Quyên (2016). Thiết kế chuyên đề chuyển hóa vật chất và năng lượng trong tế bào trong dạy học Sinh học 10 theo định hướng phát triển năng lực người học. Sau quá trình nghiên cứu, tác giả đề xuất được kế hoạch dạy học chuyên đề: Chuyển hóa vật chất và năng lượng trong tế bào.
Khóa luận tốt nghiệp, Nguyễn Thị Linh (2016). Thiết kế chuyên đề dạy học vi sinh vật môn Sinh học lớp 10 theo định hướng phát triển năng lực HS. Sau quá trình nghiên cứu, tác giả đề xuất hệ thống các chuyên đề: 1) Chuyên đề 1: Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở vi sinh vật; 2) Chuyên đề 2: Sinh trưởng và sinh sản ở vi sinh vật; 3) Chuyên đề 3: Virus và bệnh truyền nhiễm. Luận văn Thạc sĩ, Trần Thị Hồng Nhung (2015).
Thiết kế một số chủ đề dạy học tích hợp trong hóa học 10 theo định hướng phát triển năng lực. Sau quá trình nghiên cứu, tác giả đề xuất nguyên tắc lựa chọn chủ đề dạy học tích hợp, và một số chuyên đề dạy học bao gồm: 1) Chủ đề nước và cuộc sống; 2) Chủ đề ozon và suy giảm tầng ozon. Tuy nhiên các tác giả đều chưa đề xuất được nguyên tắc, quy trình xây dựng chi tiết chuyên đề dạy học và cho tới nay chưa có công trình nghiên cứu nào xây dựng hệ thống 9 chuyên đề dạy học theo chương trình Sinh học mới (ban hành năm 2018). Qua quá trình ngiên cứu tài liệu, trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã đề cập tới hình thức dạy học tích hợp, vai trò dạy học chuyên đề, cấu trúc chuyên đề dạy học.
Tuy nhiên vẫn chưa làm rõ quy trình thiết kế và tổ chức dạy học theo chuyên đề. Vì vậy, nhóm chúng tôi đi theo hướng nghiên cứu khái niệm, đặc điểm, cấu trúc dạy học chuyên đề; thiết kế chuyên đề dạy học bao gồm: nguyên tắc và quy trình thiết kế tài liệu chuyên đề, thiết kế hoạt động chuyên đề và tổ chức hoạt động chuyên đề. Cơ sở lí luận của đề tài 1. Khái niệm chuyên đề dạy học Dạy học chuyên đề là một chiến lược kết nối tất cả các lĩnh vực chủ đề bằng cách sử dụng một "chủ đề" chung.
Chủ đề này đóng vai trò là trọng tâm hoặc ý tưởng ràng buộc trong đó các mục tiêu và hoạt động của các lĩnh vực học tập khác nhau sẽ được dựa trên. Điều này cung cấp một mục đích, một liên kết làm cho việc 8 download by : skknchat@gmail.com học tích hợp trở nên có ý nghĩa. Để chiến lược này có hiệu quả, GV phải hợp tác để quyết định một chủ đề trung tâm có thể được sử dụng để dạy một bài học hoặc một bài học. Sau đó, họ có thể quyết định những hoạt động trong chủ đề.7 Theo chương trình Sinh học mới, dạy học chuyên đề là một quan điểm dạy học, ở đó người học phải huy động nhiều nguồn lực kiến thức, kĩ năng để giải quyết vấn đề qua đó nâng cao năng lực người học.
Chuyên đề học tập không đơn thuần là sự cộng gộp cơ học nội dung các bài với nhau mà có sự liên kết và hợp nhất để tạo thành một chỉnh thể hoàn chỉnh. Ngày nay, GV nên sử dụng chuyên đề trong dạy học vì bản thân vấn đề trong cuộc sống đã là tích hợp, nếu học riêng lẻ sẽ không đáp ứng được, giúp người học phát triển những năng lực của riêng mình, giúp quá tình học tập gần gũi với thực tiễn, và thông qua chuyên đề GV có nhiều cơ hội tổ chức các hoạt động dạy học tích cực để phát triển năng lực người học cũng như tiết kiệm thời gian và không gây nhàm chán, quá tải cho người học. Một số đặc trưng cơ bản của chương trình đổi mới giáo dục môn Sinh học Chương trình đổi mới giáo dục môn sinh học bám sát theo 4 quan điểm: (1) tuân thủ các quy định nêu trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, (2) tiếp cận xu hướng quốc tế, (3) cụ thể hóa mục tiêu giáo dục định hướng nghề nghiệp, (4) giáo dục phát triển bền vững và gắn liền với cuộc sống hàng ngày của học sinh. Mục tiêu cụ thể của môn Sinh học theo chương trình đổi mới: sau khi học xong chương trình đào tạo lớp 10, lớp 11 và lớp 12 cùng với hệ thống chuyên đề tự chọn, HS tìm hiểu được sâu hơn các tri thức sinh học cốt lõi, các phương pháp nghiên cứu và ứng dụng sinh học, các nguyên lí và quy trình công nghệ sinh học thông qua các chủ đề: sinh học tế bào; sinh học phân tử; sinh học vi sinh vật; sinh lí thực vật; sinh lí động vật; di truyền học; tiến hoá và sinh thái học.
Qua đó HS có thể xác định được định hướng nghề nghiệp sau khi rời khỏi ghế THPT đồng thời cũng hình thành những năng lực cần đáp ứng ở xã hội hiện nay.