mở đầu bằng nhạc hiệu, kết thúc với lời chào tạm biệt nhằm đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo phát thanh đồng thời mang lại hiệu quả cao nhất đối với người nghe” [6, tr216]. Nhƣ vậy, với một cơ quan báo phát thanh, quá trình sản xuất bắt đầu bằng việc sáng tạo các tác phẩm phát thanh. Một đài phát thanh thƣờng bao gồm bốn bộ phận chính: lãnh đạo quản l , biên tập viên, phóng viên, kỹ thuật viên, trong đó phóng viên là ngƣời trực tiếp sáng tạo những tác phẩm báo phát thanh. Các tác phẩm báo chí này thể hiện bản lĩnh chính trị, năng lực nghiệp vụ và trách nhiệm xã hội của nhà báo phát thanh.
Tuy nhiên, tác phẩm tin, bài không trực tiếp đến với thính giả. Bằng cách lựa chọn chƣơng trình phát thanh các tác phẩm đƣợc sắp xếp, bố trí hợp l giúp thính giả tiếp nhận chƣơng trình một cách đầy đủ, hệ thống, có chiều sâu. Chƣơng trình phát thanh đƣợc coi nhƣ một số báo. Trong thực tế t y theo tiêu chí phân loại mỗi chƣơng trình phát thanh có đối tƣợng tác động riêng, có nội dung phản ánh cũng nhƣ phƣơng thức hoạt động riêng.
Sự phân công và chuyên môn hóa trong quá trình phản ánh hiện thực tạo cho các chƣơng trình phát thanh có sự phân định 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com rõ ràng, tránh đƣợc tình trạng “lấn sân” hoặc “khung trời riêng”. Quá trình tiếp nhận của công chúng gắn liền với chƣơng trình phát thanh. “Người nghe có thể nắm được thông tin thời sự một cách nhanh nhất qua chương trình phát thanh thời sự nhưng họ lại thực sự tin tưởng và chờ đợi những hướng dẫn cụ thể qua chương trình chuyên đề một cách tỷ mỉ hơn”[6, tr217]. Mỗi chƣơng trình phát thanh đều ổn định về cấu trúc.
Với chƣơng trình thời sự gồm có ba phần: trang tin, bài, tiết mục đƣợc phân chia bằng những đoạn nhạc cắt. Chƣơng trình chuyên đề thƣờng có hai phần tiết mục trở lên đƣợc phân cách bằng những nhạc cắt. Với các chƣơng trình có thời lƣợng lớn, số tiết mục có thể tăng vì vậy, số lƣợng nhạc cắt cũng tăng lên. Chƣơng trình phát thanh thể hiện tính chất lao động của tập thể.
Hiệu quả đạt đƣợc của chƣơng trình phát thanh luôn mang dấu ấn của một tập thể. Có thể hiểu, chương trình phát thanh là sự sắp xếp một cách hợp lý các thành phần tin, bài, băng âm thanh trong một chỉnh thể với khoảng thời gian xác định nhằm đáp ứng nhiệm vụ tuyên truyền của cơ quan phát thanh và mang lại hiệu quả cao nhất đối với người nghe. Truyền thông đa phương tiện PGS.TS Nguyễn Văn Dững đƣa ra khái niệm về truyền thông trong cuốn “Truyền thông lý thuyết và kĩ năng cơ bản” nhƣ sau: “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm… chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, của cộng đồng và xã hội”[8]. Đa phƣơng tiện là thuật ngữ xuất phát từ một từ trong tiếng Anh “multimedia”.
Khái niệm “đa phƣơng tiện” xuất hiện từ khoảng giữa thế kỉ XX. Cho đến nay, khái niệm này đã dần trở nên phổ biến để chỉ nhiều loại sản phẩm, phần mềm khác nhau trên máy vi tính và mạng Internet. Thuật ngữ đa 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phương tiện đƣợc Bob Goldstein đặt ra lần đầu tiên để quảng bá chƣơng trình biểu diễn của mình hồi tháng 7/1966 ở Southampton (Long Island, Mỹ). Đa phƣơng tiện (multimedia), theo tác giả hiểu, là một sự kết hợp phƣơng tiện truyền thông (media) và các dạng nội dung (content) khác nhau.
Thuật ngữ này có thể đƣợc sử dụng nhƣ một danh từ (một phƣơng tiện với nhiều hình thức nội dung) hoặc nhƣ một tính từ để mô tả một phƣơng tiện có nhiều hình thức nội dung. Truyền thông đa phƣơng tiện là việc d ng một số phƣơng tiện khác nhau nhƣ văn bản, âm thanh, đồ họa, video và khả năng tƣơng tác để chuyển tải thông tin. Đa phƣơng tiện, theo nghĩa rộng, là việc tổ hợp các phƣơng tiện khác nhau để tạo nên một cách mô tả nhiều mặt tƣởng, khái niệm hay tƣ tƣởng. Đa phƣơng tiện đơn giản có nghĩa là có khả năng liên lạc, giao tiếp theo nhiều hơn một cách thức.
Nhƣ vậy, đa phƣơng tiện thật ra là liên lạc, giao tiếp theo một số cách thức khác nhau. Nhƣ vậy, một sản phẩm thông tin đa phƣơng tiện (multimedia) là sản phẩm đƣợc sản xuất với một số thành phần thông tin đƣợc lƣu trữ với một số dạng dữ liệu là chữ viết (text), ảnh (image/ picture), đồ họa (graphics), âm thanh (audio), hình ảnh động (video). Trong ngành báo chí truyền thông nói riêng, multimedia là một khái niệm mới xuất hiện chục năm trở lại đây. Định nghĩa “truyền thông đa phương tiện” đang dần thay đổi và phát triển.
Nhƣng nhìn chung, có thể hiểu: “Truyền thông đa phương tiện” là sự kết hợp của ngôn ngữ viết, ảnh, video, âm thanh, thiết kế đồ họa và các phƣơng thức tƣơng tác khác trên trang web nhằm truyền tải một câu chuyện/ vấn đề một cách đa diện, mỗi hình thức thể hiện góp phần tạo nên câu chuyện thuyết phục và đầy đủ thông tin nhất. Trong một xã hội hiện đại với sự b ng nổ thông tin, công chúng ngày càng có những nhu cầu cao hơn đối với nội dung cũng nhƣ chất lƣợng thông tin. Phƣơng thức truyền thông đa phƣơng tiện cho phép công chúng thu nhận 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thông tin bằng cả hình ảnh, âm thanh, văn bản làm thay đổi cách tiếp cận thông tin của công chúng, nhất là đối với thế hệ trẻ, thế hệ nhạy bén nhất đối với khoa học và công nghệ tạo ra sự phát triển của một lớp công chúng mới của truyền thông. Trái lại, với các loại hình báo chí truyền thống, công chúng đang ngày càng bị phân tâm bởi nhiều hình thức cung cấp thông tin động, hấp dẫn, tiếp cận trên toàn bộ các giác quan, cảm quan: đọc, nghe, nhìn, đối thoại, tham gia trực tiếp Internet phát triển với sự ra đời của vô vàn các trang tin điện tử, các kênh truyền hình, phát thanh trực tuyến (online) và các giao thức liên lạc (Email, chat) và thoại (voice) đƣợc tích hợp làm thoả mãn tất cả các nhu cầu thông tin của công chúng, bao gồm cả nghe, nhìn, đọc, nói của công chúng.
Internet với đặc trƣng tƣơng tác của nó, đã thu hẹp những giới hạn về không gian và thời gian trong việc tiếp cận thông tin trên quy mô toàn thế giới. C ng với sự phát triển của hệ thống internet, hàng loạt sản phẩm công nghệ truyền thông mới đƣợc phát triển nhƣ công nghệ di động với các phƣơng thức truyền dữ liệu tốc độ cao, hay các thiết bị đầu cuối đƣợc phát triển theo xu hƣớng di động hoá, cá nhân hóa cao độ tạo nên một sức mạnh mới mà các loại hình truyền thông truyền thống khó cạnh tranh nổi. Sự phát triển của công nghệ truyền thông cũng đã tạo cho báo chí một hƣớng đi mới: tích hợp các phƣơng tiện truyền thông. Tính chất đa phƣơng tiện đƣợc biểu hiện rõ ràng nhất qua sự tích hợp này.
Xu hƣớng phát triển này là ph hợp với nhu cầu thông tin của xã hội, do vậy đi theo sự phát triển này là sự lựa chọn đúng đắn của các nhà truyền thông. Hay nói cách khác, truyền thông đa phƣơng tiện là xu hƣớng phát triển mang tính khách quan đáp ứng nhu cầu thông tin của lớp công chúng mới. Người Việt Nam ở nước ngoài Ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài theo pháp luật Việt Nam đƣợc hiểu tƣơng đối thống nhất. Điều 3, khoản 3, Nghị định số 138/2006/NĐ-CP 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quy định “Ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài” là ngƣời có quốc tịch Việt Nam và ngƣời gốc Việt Nam đang cƣ trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nƣớc ngoài.
Khái niệm này đƣợc khẳng định lại tại Điều 3, khoản 3 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 nhƣ sau: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài” [47]. Nhƣ vậy, khái niệm ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài bao gồm hai nhóm chủ thể là công dân Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài và ngƣời gốc Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài. Trong các văn kiện chính thức của nhà nƣớc Việt Nam, cụm từ hay đƣợc sử dụng nhiều nhất là “ngƣời Việt Nam ở nƣớc ngoài”, chẳng hạn: “Ủy ban Nhà nước về Người Việt Nam ở nước ngoài”, “Hội Liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài” Nghị quyết số 36/NQ-TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về ngƣời Việt Nam ở nƣớc ngoài có ghi rõ “Đảng và Nhà nƣớc ta luôn luôn coi cộng đồng ngƣời Việt Nam ở nƣớc ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam”. Ngoài cụm từ “ngƣời Việt Nam ở nƣớc ngoài” đƣợc sử dụng trên các văn bản chính thức, ngƣời dân trong nƣớc c n sử dụng một số cụm từ nhƣ: Việt kiều, kiều bào, ngƣời Việt Nam sống xa Tổ quốc, ngƣời Việt xa xứ, ngƣời Việt xa quê, ngƣời Việt ly hƣơng 1.
Cộng đồng ngƣời Việt Nam ở nƣớc ngoài và quan điểm, chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc về ngƣời Việt Nam ở nƣớc ngoài 1. Diện mạo cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài Với khoảng 4,5 triệu kiều bào sinh sống tại 109 quốc gia và v ng lãnh thổ trên thế giới, Việt Nam đƣợc xếp vào nƣớc có số lƣợng kiều dân đông nhất tính theo tỷ lệ với dân số trong nƣớc, chỉ sau Trung Quốc. Vào cuối thế kỷ 20, khi dân Trung Quốc có khoảng 1,3 tỷ thì Hoa kiều có khoảng 55 triệu, chiếm tỷ lệ 4,23%. C ng thời gian đó, Việt Nam có khoảng 68 triệu dân thì ngƣời Việt Nam ở nƣớc ngoài có khoảng 2,6 triệu, chiếm 3,82% [21].
18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Có khoảng 2,2 triệu ngƣời Việt Nam ở nƣớc ngoài hiện đang làm ăn sinh sống tại Mỹ; 98% tổng số ngƣời Việt Nam ở nƣớc ngoài sống tại 21 nƣớc có đông ngƣời Việt Nam (trên 10.000 ngƣời), tập trung tại 5 khu vực chính: đó là Bắc Mỹ, Tây - Bắc Âu, Nga và Đông Âu, Đông Nam Á – Đông Bắc Á, châu Öc. Hiện có khoảng từ 70% kiều bào đã có quốc tịch nƣớc sở tại.