Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Sự gia tăng nhanh chóng của chất thải rắn sinh hoạt cả về khối lượng lẫn tính chất phức tạp trong thành phần đang tạo ra áp lực lớn đối với công tác thu gom và xử lý môi trường tại các đô thị của Việt Nam. Tại thành phố Hòa Bình—trung tâm chính trị, văn hóa và xã hội của tỉnh Hòa Bình—lực lượng học sinh trung học cơ sở (THCS) chiếm tỷ lệ dân cư đáng kể. Tuy nhiên, nhận thức của lứa tuổi học sinh về tác động của rác thải đối với sức khỏe và môi trường sống còn hạn chế; các hoạt động bảo vệ môi trường trong trường học trước đây chủ yếu dừng lại ở mức độ phong trào ngắn hạn, thiếu tính thường xuyên và chưa tạo ra sự chuyển biến thực chất trong thói quen hàng ngày. Trước thực trạng đó, khóa luận tốt nghiệp ngành Khoa học Môi trường (mã số 7440301) do sinh viên Nguyễn Việt Hùng thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Thanh An tại Trường Đại học Lâm nghiệp (năm 2021) đã lựa chọn đề tài: "Nghiên cứu xây dựng chương trình giáo dục truyền thông môi trường về quản lý rác thải tại trường Tiểu học và Trung học cơ sở Cù Chính Lan, thành phố Hòa Bình".
Mục tiêu chung của nghiên cứu là xây dựng chương trình truyền thông nhằm nâng cao hiểu biết về chất thải rắn cho học sinh, từ đó thúc đẩy hành động giảm thiểu và phân loại rác thải, góp phần bảo vệ môi trường học đường và nơi cư trú. Nghiên cứu xác định ba mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá thực trạng nhận thức của học sinh tại trường THCS Cù Chính Lan về chất thải rắn sinh hoạt.
- Thiết kế và xây dựng chương trình truyền thông về chất thải rắn phục vụ đối tượng học sinh.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức, hiểu biết và hành động cụ thể của học sinh về giảm thiểu chất thải rắn nói riêng và bảo vệ môi trường nói chung.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:
- Đối tượng nghiên cứu: Khối học sinh THCS tại trường Tiểu học và Trung học cơ sở Cù Chính Lan, tập trung khảo sát mẫu gồm 60 em trên tổng số 256 học sinh toàn khối (phân bổ ngẫu nhiên 15 học sinh cho mỗi khối từ lớp 6 đến lớp 9; toàn khối có 50 học sinh người dân tộc thiểu số, chiếm 19,5%).
- Phạm vi không gian: Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Cù Chính Lan, nằm tại tổ 3, phường Thống Nhất, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
- Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành thu thập dữ liệu và triển khai thực nghiệm từ tháng 2/2021 đến tháng 5/2021.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập nền tảng lý luận dựa trên các định nghĩa học thuật và văn bản quản lý nhà nước về quản lý chất thải rắn cũng như giáo dục - truyền thông môi trường. Về mặt quản lý chất thải, tác giả tổng thuật các khái niệm nền tảng: chất thải rắn, chất thải rắn sinh hoạt, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, xử lý, chôn lấp hợp vệ sinh, phân loại rác tại nguồn, tái chế và tái sử dụng chất thải. Các dẫn chứng thực tiễn được trích dẫn gồm Quyết định số 44/2018/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn; mô hình cấm túi nilon tại Cù Lao Chàm (Quảng Nam); các dữ liệu từ Tổng cục Môi trường về lượng chất thải nguy hại (800.000 tấn năm 2015), dự báo phát sinh chất thải rắn công nghiệp (20,8 triệu tấn năm 2020), 400 lò đốt rác y tế quy mô nhỏ và thực trạng 114 doanh nghiệp được cấp phép xử lý chất thải nguy hại trên cả nước. Về bình diện quốc tế, đề tài tham khảo kinh nghiệm đổi vỏ chai nhựa lấy vé xe buýt tại Surabaya (Indonesia), trả tiền vé tàu điện ngầm bằng chai nhựa tại Bắc Kinh (Trung Quốc), cùng tỷ lệ tái chế chai nhựa đạt 97% từ năm 1992 tại Na Uy và các nước Bắc Âu.
Về cơ sở giáo dục môi trường (GDMT) và truyền thông môi trường (TTMT), tác giả kế thừa các định nghĩa kinh điển:
- Định nghĩa GDMT của Hội nghị quốc tế IUCN/UNESCO năm 1970 tại Nevada (Hoa Kỳ) và định nghĩa mở rộng tiếp cận dạy/học tình huống của Jonathon Wigley (2000), cùng giáo trình của Nguyễn Thị Bích Hảo (2011).
- Định nghĩa TTMT là quá trình tương tác xã hội hai chiều chia sẻ thông tin để cùng chịu trách nhiệm bảo vệ môi trường của TS. Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2014) và công cụ quản lý thay đổi hành vi cộng đồng của Nguyễn Thị Bích Hảo (2011).
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả phối hợp ba phương pháp cụ thể:
- Phương pháp kế thừa số liệu: Thu thập thông tin từ các chương trình truyền thông và giáo dục môi trường đã diễn ra tại trường TH & THCS Cù Chính Lan, cùng tài liệu quản lý của nhà trường.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Phỏng vấn bằng bảng hỏi in sẵn với cỡ mẫu $n = 60$ học sinh THCS (chọn ngẫu nhiên 15 học sinh/khối từ khối 6 đến khối 9). Bảng hỏi được thực hiện qua hai đợt: đợt 1 trước khi triển khai truyền thông nhằm khảo sát thực trạng nhận thức, và đợt 2 sau khi can thiệp truyền thông nhằm đo lường mức độ thay đổi nhận thức và hành vi.
- Phương pháp thực nghiệm thông qua xây dựng chương trình truyền thông: Triển khai theo quy trình 4 giai đoạn (Giai đoạn 1: Xác định vấn đề nghiên cứu và phân tích đối tượng; Giai đoạn 2: Lập kế hoạch truyền thông và chọn phương tiện; Giai đoạn 3: Tạo sản phẩm truyền thông; Giai đoạn 4: Thực hiện, giám sát bằng quan sát thực địa, tư liệu hóa qua hình ảnh và đánh giá phản hồi).
Các công cụ kỹ thuật phục vụ sản phẩm truyền thông gồm phần mềm đồ họa Photoshop và Paint để thiết kế poster kích thước 70 x 70 cm; hệ thống phát thanh nội bộ của nhà trường để phát sóng bài tuyên truyền âm thanh thời lượng 10 phút.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương này hệ thống hóa các vấn đề lý luận về chất thải rắn sinh hoạt, bao gồm định nghĩa, phân loại theo nguồn phát sinh (khu dân cư, cơ quan - trường học, công nghiệp, thương mại, dịch vụ công cộng đô thị) và các thành phần lý - hóa học có khả năng tái chế. Tác giả phân tích bản chất của giáo dục môi trường và truyền thông môi trường, nhấn mạnh truyền thông là quá trình tương tác hai chiều nhằm chia sẻ nhận thức và thúc đẩy hành vi ứng xử bền vững. Chương 1 cũng điểm lại các mô hình truyền thông thu gom và tái chế rác thải trên thế giới (Surabaya - Indonesia, Bắc Kinh - Trung Quốc, Na Uy, Đức, Hoa Kỳ) và bức tranh quản lý chất thải tại Việt Nam, đồng thời phân tích các yếu tố tác động đến nhận thức môi trường của học sinh gồm điều kiện cơ sở vật chất học đường, phương pháp giáo dục của giáo viên, nề nếp gia đình và sự tương tác từ bạn bè.
Chương 2: Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 xác lập mục tiêu tổng quát, ba mục tiêu cụ thể và bốn nội dung nghiên cứu tương ứng. Tác giả trình bày phương pháp chọn mẫu điều tra 60 học sinh thuộc 4 khối lớp của trường TH & THCS Cù Chính Lan và cấu trúc bảng hỏi thu thập thông tin hai giai đoạn. Nội dung trọng tâm của chương là thiết kế quy trình 4 giai đoạn thực nghiệm chương trình truyền thông:
- Xác định hiện trạng hiểu biết của học sinh và phân loại đối tượng thành 3 nhóm nhận thức (chưa biết/không quan tâm; đã biết nhưng chưa quan tâm; đã biết và có quan tâm).
- Lập kế hoạch can thiệp, lựa chọn phương tiện truyền thông trực tiếp (trò chuyện 15 phút đầu giờ) và gián tiếp (poster, bài phát thanh).
- Thiết kế sản phẩm truyền thông: Poster kích thước 70 x 70 cm với thông điệp "HÀNH ĐỘNG NHỎ - Ý NGHĨA LỚN" và bài phát thanh cấu trúc 3 phần (Mở đầu, Nội dung 3 phân đoạn, Kết thúc).
- Tổ chức triển khai, treo poster tại cổng trường trong 2 tuần (15/3 - 30/3/2021) và phát bài phát thanh vào tiết cuối ngày thứ 7 (thời lượng 10 phút), sau đó phỏng vấn đánh giá chuyển biến nhận thức.
Chương 3: Đặc điểm địa điểm nghiên cứu
Chương 3 mô tả địa bàn nghiên cứu: Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Cù Chính Lan nằm tại tổ 3, phường Thống Nhất, thành phố Hòa Bình, đối diện trường mầm non Chăm Mát. Trường nằm trong ngõ, cách trục đường chính An Dương Vương 500m nên có không gian yên tĩnh. Trường mới được sáp nhập từ đầu năm học 2020 - 2021; Ban giám hiệu gồm Hiệu trưởng Nguyễn Quang Huy cùng hai Phó hiệu trưởng Cấn Thị Thu Hiền và Lê Thị Thanh Tâm. Đội ngũ cán bộ giáo viên gồm 32 người (trong đó có 11 giáo viên người dân tộc). Khối THCS có 256 học sinh chia thành 4 khối (mỗi khối gồm 2 lớp a và b, sĩ số 30 - 35 em/lớp), trong đó có 50 học sinh người dân tộc (chiếm 19,5%). Về công tác quản lý chất thải, bộ máy của trường gồm Ban giám hiệu chỉ đạo trực tiếp Tổ vệ sinh môi trường; hoạt động vệ sinh được duy trì hàng ngày nhưng việc phân loại và giảm thiểu rác thải mới chỉ mang tính phong trào ngắn hạn, chưa giáo dục học sinh chủ động phân loại tại nguồn.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương này trình bày các phát hiện định lượng từ khảo sát thực tế và đánh giá hiệu quả can thiệp truyền thông:
- Thực trạng trước can thiệp: 65% học sinh đánh giá việc giảm thiểu và phân loại rác là quan trọng, 25% đánh giá rất quan trọng, 10% cho là không quan trọng (Bảng 4.1). 61% học sinh từng tham gia phân loại rác, 22% rất ít khi và 17% không bao giờ (Bảng 4.2). 77% học sinh nhận biết được nguồn gốc phát sinh rác thải sinh hoạt (Bảng 4.3). 85% học sinh nhận thức được rác thải có tác động xấu đến môi trường và đời sống (Bảng 4.4).
- Khảo sát nhu cầu phương tiện truyền thông (Hình 4.1): Học sinh mong muốn hình thức ngoại khóa nhiều nhất (27 phiếu), tiếp theo là poster (23 phiếu) và loa phát thanh (10 phiếu).
- Đánh giá thực nghiệm: Khảo sát 60 học sinh sau 1 tuần tiếp xúc cho thấy 95% học sinh hài lòng với poster nhờ hình ảnh nổi bật và thông điệp dễ nhớ (Bảng 4.7); 88% học sinh hài lòng với bài phát thanh (Bảng 4.8).
- Đo lường trước - sau truyền thông (Bảng 4.9 & Hình 4.3): Tỷ lệ học sinh nhận thức được việc phân loại và giảm thiểu rác tăng từ 75% lên 90%; học sinh có thái độ quan tâm đạt 90%; tỷ lệ có hành vi tích cực tăng từ hơn 60% lên hơn 80% (tự giác bỏ túi nilon vào thùng rác quy định, thu gom và phân loại rác lớp học cuối mỗi tiết).
- Đề xuất giải pháp: Bổ sung poster trực quan; lồng ghép kiến thức môi trường vào môn Địa lý và Giáo dục công dân; chiếu phim tài liệu qua tivi/máy chiếu; tăng cường nhắc nhở hàng tuần trong giờ sinh hoạt và ban hành quy định trực nhật gắn với chế tài trách phạt.
Chương 5: Kết luận, tồn tại, kiến nghị
Chương 5 đúc kết kết quả đạt được: Nghiên cứu đã làm rõ thực trạng nhận thức của học sinh trường TH & THCS Cù Chính Lan; thiết kế và thử nghiệm thành công 2 sản phẩm truyền thông (poster và bài phát thanh) mang lại chuyển biến tích cực về nhận thức và hành vi. Tác giả chỉ ra các mặt tồn tại: Nhận thức của một bộ phận học sinh chưa đồng đều do yếu tố lứa tuổi và gia đình; cơ sở vật chất thu gom rác của trường chưa đồng bộ; thời gian can thiệp còn ngắn. Từ đó, tác giả kiến nghị nhà trường cần đầu tư hệ thống thùng rác phân loại, đa dạng hóa các buổi sinh hoạt ngoại khóa và duy trì phát thanh chuyên đề định kỳ.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu cung cấp hệ thống số liệu định lượng chi tiết phản ánh nhận thức và hành vi của học sinh THCS trước và sau khi triển khai các biện pháp truyền thông môi trường học đường:
| Tiêu chí khảo sát |
Trước truyền thông |
Sau truyền thông |
Ghi chú theo dữ liệu tác giả |
| Nhận thức về giảm thiểu & phân loại CTR |
75% nhận thức được |
90% nhận thức được |
Tăng 15% sau 2 tuần can thiệp |
| Mức độ quan tâm đến vấn đề rác thải |
90% quan tâm |
Hơn 95% quan tâm |
90% rất quan tâm (Hình 4.3) |
| Mức độ hiểu biết nguồn gốc CTR |
77% nắm được (Bảng 4.3) |
Đa số nắm vững |
Cung cấp kiến thức cơ bản qua phát thanh |
| Nhận thức về tác hại của CTR |
85% nhận thấy tác động |
Củng cố rõ rệt |
Đã khắc phục nhận thức xem nhẹ tác hại |
| Tỷ lệ có hành vi tích cực |
Hơn 60% |
Hơn 80% |
Học sinh tự phân loại rác cuối tiết học |
| Mức độ hài lòng với Poster (Bảng 4.7) |
— |
95% hài lòng |
5% không hài lòng (thông điệp ngắn, ảnh nhỏ) |
| Mức độ hài lòng với Phát thanh (Bảng 4.8) |
— |
88% hài lòng |
12% không hài lòng (2% thấy dài, 10% thích giải trí) |
Về mặt giải pháp, tác giả đưa ra các nhóm khuyến nghị khả thi:
- Giải pháp phương tiện: Bổ sung hệ thống poster chuyên đề môi trường thay vì chỉ tập trung vào an toàn giao thông; khai thác tivi, máy chiếu sẵn có trong lớp học để chiếu phóng sự, phim tài liệu môi trường trực quan.
- Giải pháp nội dung và phương pháp: Lồng ghép nội dung rác thải vào bài giảng Địa lý (liên hệ hiện tượng thiên tai, sóng thần Đông Á với rác thải) và môn Giáo dục công dân (xử lý tình huống khi thấy người khác xả rác bừa bãi); tổ chức các buổi ngoại khóa dọn dẹp vệ sinh khuôn viên.
- Giải pháp quản lý: Ban hành quy định trực nhật gắn trách nhiệm bảo vệ môi trường; giáo viên chủ nhiệm duy trì nhắc nhở trong 10-15 phút giờ sinh hoạt hàng tuần; thiết lập cơ chế biểu dương hành vi tốt và nhắc nhở, xử phạt học sinh vi phạm xả rác bừa bãi.
Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc xây dựng một mô hình can thiệp truyền thông môi trường quy mô học đường có căn cứ thực nghiệm, kết hợp công cụ trực quan (poster) và truyền thanh nội bộ, cung cấp bộ dẫn liệu khảo sát trước - sau cụ thể tại một trường liên cấp trên địa bàn miền núi.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận chỉ ra một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện:
- Quy mô mẫu khảo sát giới hạn ở 60 học sinh khối THCS trong tổng số 256 học sinh của một trường đơn lẻ; chưa khảo sát khối tiểu học dù trường là mô hình liên cấp TH & THCS.
- Thời gian can thiệp thực nghiệm ngắn (treo poster và phát thanh trong 2 tuần, từ ngày 15/3 đến ngày 30/3/2021; tổng thời gian nghiên cứu từ tháng 2 đến tháng 5/2021), do đó chưa đánh giá được tính bền vững dài hạn của thói quen phân loại rác khi không còn hoạt động nhắc nhở thường xuyên.
- Chưa tổ chức được các buổi ngoại khóa thực tế dù đây là hình thức truyền thông được học sinh mong muốn nhất qua khảo sát (đạt 27/60 phiếu lựa chọn), nguyên nhân do hạn chế về nguồn lực và thời gian thực hiện của cá nhân sinh viên.
- Cơ sở hạ tầng của nhà trường còn thiếu hệ thống thùng rác phân loại nhiều ngăn đồng bộ, khiến việc thực hành phân loại rác tại nguồn của học sinh sau khi tiếp nhận thông tin còn gặp trở ngại vật lý.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát trên toàn bộ học sinh các cấp học, thử nghiệm mô hình câu lạc bộ môi trường học đường kết hợp các buổi ngoại khóa trải nghiệm, và thiết lập cơ chế giám sát hành vi phân loại rác dài hạn theo từng học kỳ.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên các ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Sư phạm và Công tác xã hội khi thực hiện các đề tài về giáo dục môi trường học đường hoặc truyền thông thay đổi hành vi cộng đồng.
Nội dung có giá trị tham khảo ứng dụng cao nhất bao gồm:
- Quy trình 4 giai đoạn thiết kế chương trình truyền thông học đường (từ khảo sát, lập kế hoạch, chế tác sản phẩm đến kiểm soát phản hồi).
- Khung cấu trúc bài phát thanh học đường 3 phần với thời lượng 10 phút, phù hợp với khung giờ chuyển tiết hoặc sinh hoạt cuối tuần.
- Bộ tiêu chí bảng hỏi điều tra xã hội học đo lường trước và sau can thiệp để đánh giá chuyển biến nhận thức và hành vi của học sinh đối với chất thải rắn sinh hoạt.
Câu hỏi thường gặp
1. Mẫu khảo sát điều tra xã hội học trong khóa luận được phân bổ như thế nào?
Mẫu gồm 60 học sinh khối THCS tại trường TH & THCS Cù Chính Lan, được chọn ngẫu nhiên với tỷ lệ đồng đều 15 học sinh cho mỗi khối lớp (khối 6, 7, 8 và 9) trên tổng số 256 học sinh toàn khối (trong đó có 50 học sinh người dân tộc thiểu số, chiếm 19,5%).
2. Hình thức truyền thông nào được học sinh trong trường mong muốn nhất khi khảo sát ban đầu?
Kết quả phỏng vấn 60 học sinh cho thấy hình thức được ưa chuộng nhất là các buổi ngoại khóa với 27 phiếu, tiếp theo là poster với 23 phiếu, và cuối cùng là loa phát thanh với 10 phiếu.
3. Quy cách và thời gian triển khai hai sản phẩm truyền thông thực nghiệm trong nghiên cứu là gì?
Sản phẩm poster được thiết kế kích thước 70 x 70 cm bằng Photoshop/Paint với thông điệp "HÀNH ĐỘNG NHỎ - Ý NGHĨA LỚN", treo ở 2 bên cổng trường trong 2 tuần (15/3 - 30/3/2021). Bài phát thanh có thời lượng 10 phút, phát qua hệ thống loa trường vào 11 giờ trưa ngày thứ 7 (tiết cuối tuần) trong cùng khoảng thời gian 2 tuần trên.
4. Hành vi phân loại và thu gom rác của học sinh thay đổi như thế nào sau khi tiếp xúc với chương trình truyền thông?
Tỷ lệ học sinh có hành vi tích cực tăng từ hơn 60% lên hơn 80%; các em tự giác bỏ túi nilon vào thùng rác phân loại và chủ động gom giữ, phân loại rác phát sinh trong lớp học vào cuối mỗi tiết học thay vì vứt lẫn lộn vào một thùng như trước.
5. Cơ cấu quản lý chất thải rắn của trường TH & THCS Cù Chính Lan được tổ chức ra sao tại thời điểm nghiên cứu?
Bộ máy quản lý rác của nhà trường vận hành theo cấu trúc trực tiếp: Ban giám hiệu (gồm Hiệu trưởng Nguyễn Quang Huy và 2 Phó hiệu trưởng) chỉ đạo trực tiếp Tổ vệ sinh môi trường của trường thực hiện công tác thu gom và dọn dẹp hàng ngày.
Kết luận
Khóa luận của sinh viên Nguyễn Việt Hùng đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu thông qua việc đánh giá thực trạng nhận thức về chất thải rắn của 60 học sinh THCS tại trường TH & THCS Cù Chính Lan, thành phố Hòa Bình. Nghiên cứu đã thiết kế và thử nghiệm thành công hai kênh truyền thông trực quan và truyền thanh nội bộ, tạo ra sự cải thiện rõ rệt về nhận thức (từ 75% lên 90%) và hành vi phân loại rác tích cực (từ trên 60% lên trên 80%). Các giải pháp đề xuất về phương tiện, phương pháp lồng ghép bài giảng và chế tài quản lý học đường có giá trị thực tiễn cao, đóng góp một mô hình mẫu về giáo dục môi trường cơ sở.