Tài liệu tìm hiểu Chương trình môn Mỹ thuật Giáo dục phổ thông 2018 - Đại học Sư phạm Hà Nội

Khám phá chương trình Giáo dục phổ thông môn Mỹ thuật, tập trung vào mục tiêu, nội dung giảng dạy, phương pháp đổi mới và đánh giá học sinh theo chương trình

Trường đại học

Đại học Sư phạm Hà Nội

Chuyên ngành

Mĩ thuật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Tài liệu

2019

63
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Chương trình GDPT Môn Mỹ thuật 2018

Chương trình Giáo dục phổ thông Môn Mỹ thuật 2018 là văn bản pháp quy do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, đánh dấu bước chuyển đổi căn bản trong giáo dục nghệ thuật tại Việt Nam. Tài liệu tìm hiểu được biên soạn bởi Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2019, với các tác giả Nguyễn Thị Đông, Vương Trọng Đức và Nguyễn Minh Quang. Chương trình xác định vị trí môn Mỹ thuật thuộc lĩnh vực Giáo dục Nghệ thuật, giảng dạy xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 12. Điểm nổi bật so với chương trình cũ là phạm vi mở rộng đến cấp trung học phổ thông. Chương trình đặt mục tiêu trọng tâm hình thành và phát triển năng lực mỹ thuật cho học sinh thông qua ba thành phần cốt lõi: quan sát và nhận thức thẩm mỹ, sáng tạo và ứng dụng thẩm mỹ, phân tích và đánh giá thẩm mỹ. Đồng thời, chương trình hướng đến phát triển các phẩm chất yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm và các năng lực chung cần thiết cho công dân thời đại mới.

1.1. Vị trí và vai trò của môn Mỹ thuật trong GDPT 2018

Trong Chương trình GDPT 2018, môn Mỹ thuật giữ vị trí quan trọng thuộc lĩnh vực Giáo dục Nghệ thuật. Giai đoạn giáo dục cơ bản từ lớp 1 đến lớp 9, đây là môn học bắt buộc với 35 tiết mỗi năm học. Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp từ lớp 10 đến lớp 12, môn học trở thành lựa chọn theo nguyện vọng học sinh với 70 tiết mỗi năm cho nội dung lựa chọn. Chương trình bảo đảm trang bị học vấn cốt lõi đồng thời giáo dục định hướng nghề nghiệp, giúp học sinh phát triển khả năng quan sát, cảm thụ nghệ thuật và nhận thức thế giới xung quanh.

1.2. Mục tiêu và yêu cầu cần đạt về phẩm chất năng lực

Chương trình đặt mục tiêu kép: phát triển phẩm chất và năng lực học sinh. Về phẩm chất, chương trình nhấn mạnh năm giá trị cốt lõi gồm yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm. Về năng lực, học sinh cần đạt ba thành phần chính: quan sát và nhận thức thẩm mỹ, sáng tạo và ứng dụng thẩm mỹ, phân tích và đánh giá thẩm mỹ. Các năng lực chung bao gồm tự chủ tự học, giao tiếp hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo được tích hợp xuyên suốt quá trình học tập mỹ thuật.

II. Phân tích đặc điểm nội dung chương trình Mỹ thuật 2018

Chương trình GDPT Môn Mỹ thuật 2018 có nhiều đặc điểm nổi bật về cấu trúc nội dung. Chương trình phát triển theo hai mạch song song: Mỹ thuật tạo hình và Mỹ thuật ứng dụng. Kiến thức nền tảng dựa trên các yếu tố và nguyên lý tạo hình, bảo đảm tính tích hợp và phân hóa trong dạy học. Một điểm đáng chú ý là chương trình không quy định cụ thể nội dung theo bài hay theo tiết. Việc lựa chọn nội dung dạy học và xác định thời lượng thuộc quyền chủ động của giáo viên cùng tác giả sách giáo khoa. Điều kiện tiên quyết là đáp ứng yêu cầu cần đạt quy định trong chương trình. Chương trình thể hiện mối quan hệ tác động qua lại giữa mỹ thuật với các môn học khác trong GDPT và thực tiễn đời sống. Cách tiếp cận này tạo không gian sáng tạo cho giáo viên đồng thời bảo đảm tính thống nhất mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh.

2.1. Hai mạch nội dung Mỹ thuật tạo hình và Mỹ thuật ứng dụng

Chương trình phân chia nội dung thành hai mạch chính. Mỹ thuật tạo hình tập trung vào các yếu tố hình khối, đường nét, màu sắc, bố cục và nguyên lý tạo hình cơ bản. Mỹ thuật ứng dụng hướng đến việc vận dụng kiến thức thẩm mỹ vào đời sống thực tiễn như thiết kế đồ họa, thủ công mỹ nghệ, trang trí. Hai mạch nội dung này có mối liên hệ mật thiết, bổ trợ cho nhau. Học sinh vừa được trang bị nền tảng lý thuyết tạo hình vừa phát triển khả năng ứng dụng sáng tạo vào thực tế.

2.2. Quan điểm xây dựng chương trình theo định hướng năng lực

Chương trình được xây dựng theo quan điểm phát triển năng lực thay vì tiếp cận nội dung thuần túy. Chương trình quy định yêu cầu cần đạt cụ thể cho từng lớp, từng cấp học mà không ép buộc nội dung chi tiết. Giáo viên và tác giả sách giáo khoa có quyền chủ động thiết kế bài học phù hợp. Quan điểm này giúp chương trình linh hoạt, dễ thích ứng với điều kiện thực tế vùng miền. Việc tích hợp hoạt động thực hành và thảo luận mỹ thuật giúp học sinh vừa là người sáng tạo vừa là người thưởng thức nghệ thuật.

III. Phương pháp dạy học và đánh giá trong chương trình mới

Phương pháp giáo dục trong Chương trình GDPT Môn Mỹ thuật 2018 có nhiều đổi mới căn bản. Chương trình xác định phương pháp dựa trên đặc trưng môn học, mục tiêu phát triển năng lực và điều kiện thực tế. Việc kết hợp lồng ghép hoạt động thực hành với thảo luận mỹ thuật được coi trọng. Học sinh đồng thời vừa là người sáng tạo nghệ thuật vừa là người thưởng thức nghệ thuật trong quá trình học tập. Về đánh giá, chương trình áp dụng cách tiếp cận toàn diện. Đánh giá kết hợp thường xuyên với tổng kết, định tính với định lượng. Đặc biệt, chương trình nhấn mạnh đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh. Giáo viên không so sánh giữa các học sinh mà tập trung khích lệ sự phát triển cá nhân. Đánh giá năng lực mỹ thuật bao gồm ba thành phần tương ứng với ba năng lực cốt lõi, mỗi thành phần có tiêu chí riêng phù hợp đặc thù môn học.

3.1. Phương pháp giáo dục và hình thức tổ chức dạy học

Chương trình xác định phương pháp giáo dục dựa trên đặc trưng hoạt động mỹ thuật, mục tiêu phát triển năng lực và điều kiện cơ sở vật chất. Phương pháp chủ đạo bao gồm thực hành sáng tạo, thảo luận phân tích, quan sát khám phá và trải nghiệm thực tế. Hình thức tổ chức đa dạng từ cá nhân đến nhóm, từ lớp học đến ngoài trời. Chương trình khuyến khích giáo viên vận dụng phương pháp phù hợp với từng dạng bài và chủ đề dạy học. Sự kết hợp giữa thực hành và thảo luận giúp học sinh phát triển đồng thời kỹ năng sáng tạo lẫn khả năng cảm thụ nghệ thuật.

3.2. Đánh giá kết quả giáo dục theo định hướng phát triển năng lực

Hệ thống đánh giá trong chương trình mới chú trọng nhiều khía cạnh. Đánh giá quan sát và nhận thức thẩm mỹ dựa trên khả năng cảm nhận, chia sẻ và liên hệ thực tiễn. Đánh giá sáng tạo và ứng dụng thẩm mỹ tập trung vào quá trình hiện thực hóa ý tưởng, khả năng làm việc độc lập và hợp tác. Đánh giá phân tích và đánh giá thẩm mỹ dựa trên kết quả thực hành kết hợp thảo luận, phân tích. Chương trình khuyến khích học sinh tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng, tạo môi trường học tập dân chủ hỗ trợ sự phát triển cá nhân từng học sinh.

IV. Kết luận và hướng ứng dụng chương trình Mỹ thuật 2018

Chương trình GDPT Môn Mỹ thuật 2018 đánh dấu bước tiến quan trọng trong giáo dục nghệ thuật Việt Nam. Chương trình chuyển từ mô hình tiếp cận nội dung sang phát triển năng lực, tạo nền tảng vững chắc cho giáo dục thẩm mỹ toàn diện. Tài liệu tìm hiểu của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cung cấp cái nhìn tổng thể và chi tiết về cấu trúc, mục tiêu, phương pháp đánh giá của chương trình. Đối với giáo viên, tài liệu là nguồn tham khảo quý giá trong việc xây dựng kế hoạch bài học phù hợp. Đối với tác giả sách giáo khoa, đây là cơ sở quan trọng để thiết kế nội dung đáp ứng yêu cầu cần đạt. Hướng phát triển chương trình cần tập trung nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, đầu tư cơ sở vật chất và phát triển tài nguyên dạy học số. Chương trình mở ra cơ hội lớn để thế hệ học sinh phát triển tư duy sáng tạo, cảm thụ nghệ thuật và ứng dụng thẩm mỹ trong đời sống.

4.1. Ứng dụng trong thực tiễn giảng dạy mỹ thuật

Trong thực tiễn giảng dạy, chương trình yêu cầu giáo viên thay đổi vai trò từ người truyền thụ kiến thức sang người hướng dẫn và tổ chức hoạt động học tập. Giáo viên cần nghiên cứu kỹ yêu cầu cần đạt để thiết kế bài học sáng tạo, phù hợp điều kiện địa phương. Việc xây dựng kế hoạch giáo dục cần linh hoạt, tận dụng tài nguyên bản địa và ứng dụng công nghệ. Sách giáo khoa đóng vai trò tài liệu tham khảo chính, giáo viên có thể điều chỉnh nội dung cho phù hợp thực tế. Đánh giá cần hướng đến sự tiến bộ cá nhân, tạo động lực học tập tích cực cho học sinh.

4.2. Hướng phát triển và cải tiến chương trình trong tương lai

Chương trình cần tiếp tục được hoàn thiện trong quá trình triển khai. Việc bồi dưỡng giáo viên về năng lực thẩm mỹ và phương pháp dạy học mới là ưu tiên hàng đầu. Đầu tư cơ sở vật chất phòng học mỹ thuật và trang thiết bị dạy học cần được tăng cường ở các trường. Phát triển tài nguyên dạy học số giúp mở rộng khả năng tiếp cận cho giáo viên và học sinh vùng khó khăn. Chương trình cũng cần cập nhật xu hướng nghệ thuật đương đại, gắn kết giáo dục mỹ thuật với phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

19/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI TÀI LIỆU TÌM HIỂU CHƯƠNG TRÌNH MÔN MĨ THUẬT Trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 HÀ NỘI, 0 2019 Người biên soạn: 1. Nguyễn Thị Đông 2. Vương Trọng Đức 3. Nguyễn Minh Quang 1 MỤC LỤC I.

ĐẶC ĐIỂM CỦA MÔN HỌC. QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC. MỤC TIÊU CỦA CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC. YÊU CẦU CẦN ĐẠT VỀ PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC.

NỘI DUNG GIÁO DỤC. PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ GIÁO DỤC. PHƯƠNG TIỆN, THIẾT BỊ DẠY HỌC.

59 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 62 2 KÝ HIỆU VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ CT Chương trình DH Dạy học GD Giáo dục GDPT Giáo dục phổ thông GV Giáo viên HS Học sinh NL Năng lực NQ Nghị quyết PC Phẩm chất QH Quốc hội SGK Sách giáo khoa THCS Trung học cơ sở THPT Trung học phổ thông TW Trung ương YCCĐ Yêu cầu cần đạt 3 I. ĐẶC ĐIỂM CỦA MÔN HỌC 1. Vị trí và tên môn học trong chương trình GDPT Trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018, môn Mĩ thuật là môn học thuộc lĩnh vực Giáo dục Nghệ thuật, được dạy học từ lớp 1 đến lớp 12.

So với chương trình hiện hành, tên môn học không có gì thay đổi nhưng nội dung môn học không chỉ dạy học ở cấp tiểu học và trung học cơ sở, mà chương trình được mở rộng thêm phạm vi dạy học ở cấp trung học phổ thông. Theo đó, cùng với các môn học và hoạt động giáo dục khác trong Chương trình giáo dục phổ thông, môn Mĩ thuật vừa bảo đảm trang bị học vấn cốt lõi cho học sinh ở giai đoạn giáo dục cơ bản, vừa bảo đảm giáo dục định hướng nghề nghiệp cho học sinh ở giai đoạn giáo dục nghề nghiệp trên cơ sở thống nhất mục tiêu hình thành, phát triển các phẩm chất (yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm) và các năng lực chung (tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo); đồng thời, môn học đặt mục tiêu trọng tâm là hình thành, phát triển ở học sinh năng lực mĩ thuật với các thành phần: quan sát và nhận thức thẩm mĩ, sáng tạo và ứng dụng thẩm mĩ, phân tích và đánh giá thẩm mĩ trong tiến trình giáo dục. Vai trò và tính chất nổi bật của môn học trong giai đoạn GD cơ bản và GD định hướng nghề nghiệp Nội dung giáo dục mĩ thuật được phân chia theo hai giai đoạn: giáo dục cơ bản và giáo dục định hướng nghề nghiệp. Ở giai đoạn giáo dục cơ bản, Mĩ thuật là nội dung giáo dục bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 9, thời lượng dành cho môn học là 35 tiết/ năm học; chương trình tạo cơ hội cho học sinh làm quen và trải nghiệm kiến thức mĩ thuật thông qua nhiều hình thức hoạt động; hình thành, phát triển ở học sinh khả năng quan sát và cảm thụ nghệ thuật, nhận thức và biểu đạt thế giới xung quanh; khả năng cảm nhận và tìm hiểu, thể nghiệm các giá trị văn hoá, thẩm mĩ trong đời sống và nghệ thuật.

Ở giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, Mĩ thuật là môn học được lựa chọn theo nguyện vọng và định hướng nghề nghiệp của học sinh, thời lượng dành cho môn học là 70/ năm học đối với các nội dung lựa chọn và 35 tiết/ năm học đối với các chuyên đề học tập. Nội dung giáo dục mĩ thuật được mở rộng, phát triển kiến thức, kĩ năng mĩ thuật đã hình thành ở giai đoạn giáo dục cơ bản, tiếp cận một số ngành nghề liên quan đến nghệ thuật thị giác và có tính ứng dụng trong thực tiễn; giúp học sinh phát triển tư duy độc lập, khả năng phản biện, phân 4 tích và sáng tạo nghệ thuật; hiểu được vai trò và ứng dụng của mĩ thuật trong đời sống; tạo cơ sở cho học sinh được tìm hiểu và có định hướng nghề nghiệp phù hợp với bản thân dựa trên nhu cầu thực tế, thích ứng với xã hội. Quan hệ với môn học/ hoạt động giáo dục khác Chương trình hiện hành (CT 2006) đặt mục tiêu bồi dưỡng, giáo dục thẩm mĩ cho học sinh; tuy nhiên, chương trình chưa giải quyết tốt mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa môn Mĩ thuật với các môn học/ hoạt động giáo dục khác, cũng như tính ứng dụng của mĩ thuật vào đời sống thực tiễn. Trong Chương trình môn Mĩ thuật 2018, nội dung giáo dục bao gồm cả tri thức văn hóa, đạo đức, tự nhiên, xã hội, khoa học công nghệ,… nên liên quan tới nhiều môn học và hoạt động giáo dục khác như môn Ngữ văn, Tự nhiên và Xã hội, Đạo đức, Lịch sử, Địa lí, Toán, Công nghệ, Tin học, Âm nhạc, Hoạt động trải nghiệm,.

Các thành phần của năng lực mĩ thuật là những biểu hiện của năng lực thẩm mĩ trong lĩnh vực mĩ thuật, sự tác động của nội dung giáo dục mĩ thuật với nội dung giáo dục các môn học/ hoạt động giáo dục khác là sự tác động qua lại, có liên hệ với đời sống văn hóa xã hội. Do vậy, việc dạy học mĩ thuật cần quan tâm đến dạy học tích hợp liên môn, cũng như kết hợp lồng ghép giáo dục mĩ thuật với các vấn đề mang tính xã hội và đề cao tính ứng dụng của mĩ thuật vào thực tiễn đời sống, góp phần phát triển đời sống thẩm mĩ của mỗi cá nhân và cộng đồng. QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC Việc xây dựng Chương trình môn Mĩ thuật 2018 được tiến hành dựa trên các quan điểm cơ bản sau đây: 1. Tuân thủ các quy định cơ bản được nêu trong Chương trình tổng thể, gồm: - Định hướng chung cho tất cả các môn học như: quan điểm, mục tiêu, yêu cầu cần đạt, kế hoạch giáo dục và các định hướng về nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục, điều kiện thực hiện và phát triển chương trình.

- Định hướng xây dựng Chương trình môn Mĩ thuật ở cả hai giai đoạn giáo dục cơ bản và giáo dục định hướng nghề nghiệp. Quan điểm này giúp cho việc xây dựng Chương trình môn Mĩ thuật thống nhất với chương trình tổng thể, nhất quán với chương trình tất cả các môn học và hoạt động giáo dục khác trong việc xác lập định hướng nội dung, cũng như cách thức diễn giải, trình bày. Tạo cơ hội cho học sinh tiếp cận văn hoá, nghệ thuật dân tộc và thế giới trên cơ 5 sở vận dụng những kiến thức cơ bản của mĩ thuật, kết hợp với khoa học giáo dục. Quan điểm này chú trọng đến việc thông qua nền tảng kiến thức cơ bản của mĩ thuật, hướng học sinh đến nhận thức về những giá trị thẩm mĩ trong đời sống, xã hội dựa trên tiếp cận các thành tựu văn hóa, nghệ thuật dân tộc và thế giới, kết hợp với sự phát triển về khoa học giáo dục, như giáo dục học, tâm lí học và phương pháp giáo dục hiện đại trong dạy - học mĩ thuật; qua đó, hình thành, phát triển ở học sinh năng lực mĩ thuật, góp phần hình thành, phát triển các phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam và những giá trị phổ quát của công dân toàn cầu, đó là lòng yêu nước, niềm tự hào về truyền thống văn hóa nghệ thuật dân tộc, ý thức giữ gìn, phát huy những giá trị nghệ thuật dân tộc, tinh hoa văn hóa và những giá trị thẩm mĩ của thời đại trong thực hành, sáng tạo sản phẩm mĩ thuật và vận dụng thực tiễn; đóng góp vào việc hình thành, phát triển năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo ở học sinh trong giáo dục mĩ thuật.

Chương trình môn Mĩ thuật chọn lọc những kiến thức phù hợp với mục tiêu giáo dục phổ thông, đặc điểm tâm - sinh lí lứa tuổi học sinh và điều kiện dạy học. Quan điểm này dựa trên cơ sở kế thừa mục tiêu, nội dung dạy học và phương pháp giáo dục, phương pháp đánh giá kết quả của Chương trình môn Mĩ thuật và môn Thủ công Kĩ thuật (phần Thủ công) hiện hành; đồng thời, tham khảo chương trình của một số quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, từ đó chương trình môn học xác định cấu trúc nội dung và kiến thức nền tảng phù hợp với mục tiêu giáo dục phổ thông, tương thích với xu hướng chung của khu vực và thế giới về giáo dục mĩ thuật. Thông qua các nội dung, hình thức tổ chức dạy học, trên cơ sở bảo đảm các yêu cầu cần đạt, chương trình được thiết kế linh hoạt, có thể điều chỉnh phù hợp với các nhóm đối tượng học sinh, các cơ sở giáo dục và địa phương. Trong quá trình thực hiện, chương trình thường xuyên được cập nhật, phát triển phù hợp với sự phát triển nghệ thuật và yêu cầu của thực tiễn.

Tính linh hoạt và tính cập nhật của Chương trình môn Mĩ thuật được thể hiện ở nội dung chương trình thiết kế theo hướng mở, đặc điểm này cho phép giáo viên và nhà trường lựa chọn một số nội dung giáo dục mĩ thuật phù hợp với địa phương, triển khai kế hoạch giáo dục môn Mĩ thuật phù hợp với điều kiện vùng miền và cơ sở giáo dục, thực hiện dạy học tích hợp, lồng ghép các nội dung ưu tiên, các vấn đề mang tính toàn cầu như bình đẳng giới, biến đổi khí 6 hậu, bảo vệ môi trường, an toàn giao thông, giáo dục tài chính,… trong dạy học một cách phù hợp và thiết thực; cũng như phát hiện những yếu tố cần bổ sung, điều chỉnh chương trình để phù hợp với sự phát triển của văn hóa, nghệ thuật và thực tiễn đời sống. MỤC TIÊU CỦA CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC 1. Căn cứ xác định mục tiêu chương trình Chương trình môn Mĩ thuật xác định mục tiêu dựa trên một số căn cứ sau: - Yêu cầu của đất nước về giáo dục thể hiện trong các văn kiện chính trị, những nghị quyết về chủ trương, đường lối phát triển đất nước của Đảng, Chính phủ, Quốc hội. Cụ thể việc đổi mới CT giáo dục phổ thông lần này, cũng như các môn học khác, mục tiêu CT môn Mĩ thuật được xác định dựa vào yêu cầu của các Nghị quyết 29 của Ban chấp hành TW về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo, Nghị quyết 88 của Quốc hội và quyết định 404 của Chính phủ về Đổi mới CT và SGK phổ thông.

Các yêu cầu mới của đất nước cũng đã được thể hiện trong mục tiêu giáo dục nói chung của CT giáo dục tổng thể.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ