LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong nhiều năm qua, mục tiêu giảm nghèo luôn là một chủ trương lớn, quan trọng của Đảng và Nhà nước. Nhiệm vụ xóa đói, giảm nghèo đã từng bước được thể chế hóa địa phươngqua việc xây dựng pháp luật, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, mục tiêu và Chương trình cụ thể với phương châm mang tính nguyên tắc đó là kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng, tiến bộ xã hội, thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển, về mức sống giữa các vùng, giữa các dân tộc, giữa các tầng lớp dân cư Huyện Thanh Chương là huyện trung du của Nghệ An còn nhiều khó khăn như xuất phát điểm thấp, cơ sở hạ tầng, giao thông địa phương không thuận lợi; trình độ dân trí không đồng đều, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm; thiên tai và dịch bệnh luôn tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến đói nghèo. Mặt khác, huyện Thanh Chương cũng là nơi cư trú của nhiều đồng bào dân tộc thiểu số tập trung tại hai địa phương Thanh Sơn và Ngọc Lâm trong đó có dân tộc Thái, Khơ Mú, H’Mông,…Huyện Thanh Chương hiện đang là một huyện nghèo của tỉnh Nghệ An với số lượng hộ nghèo cao trong toàn tỉnh.
Do vậy, trong quá trình thực hiện công tác giảm nghèo trên địa bàn toàn huyện thì chính quyền huyện rất chú trọng trong giảm nghèo đối với các hộ thuộc đối tượng hộ nghèo. Trong quá trình tổ chức thực thi các chương trình cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ nghèo, bên cạnh những kết quả đã đạt được ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Thanh Chương vẫn đang vướng phải một số những khó khăn nhất định mà khó khăn lớn nhất là nguồn vốn vẫn còn hạn chế, quá trình làm hồ sơ vay vốn còn mắc nhiều lỗi, hiệu quả sử dụng vốn vay ở một số xã còn kém.Nguồn vốn cho vay chương trình phát triển sản xuất đối với hộ nghèo từ Ngân hàng Chính sách Xã hộihuyện Thanh Chương mới đáp ứng một phần nhu cầu vay, hạn chế khả năng thoát nghèo bền vững. Ngoài ra, mặc dù chương trình đã bao phủ tới từng địa phương, từng bản ở vùng sâu, vùng xa, nhưng do thiếu nguồn lực trongthực hiện vay vốn sản xuất đối với nghèo nên mức độ bao 2 phủ vẫn chưa thật sự toàn diện. Bên cạnh đó do việc hỗ trợ mới chỉ dừng lại ở việc rót vốn mà chưa thực sự gắn kết tốt với chuyển giao khoa học kỹ thuật, hướng dẫn cách thức sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi, chưa kết nối sản xuất với thị trường hàng hóa.Công tác kiểm tra giám sát của tổ chức Hội một số xã còn chưa sát sao nên hiệu quả của việc sử dụng vốn chưa cao.
Qua đó cho thấy những hạn chế và khó khăn trong công tác thực hiện chương trình vay vốn sản xuất đối với hộ nghèo của huyện Thanh Chương đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của chương trình. Vì vậy, việc tìm ra những giải pháp thích hợp nhằm khắc phục những khó khăn và hạn chế hiện tại để nâng cao hiệu quả công tác cho hộ nghèo vay vốn phát triển sản xuất là nhiệm vụ cấp bách không chỉ của riêng Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Thanh Chương mà còn là nhiệm vụ cấp bách của toàn hệ thống ngân hàng Chính sách Xã hội. Đây chính là lý do tác giả lựa chọn đề tài : “Tổ chức thực thi chương trình cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ nghèo của Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An” làm đề tài luận văn thạc sĩ. Tổng quan nghiên cứu Hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về các chính sách, chương trình xóa đói giảm nghèo nói chung và tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo nói riêng.
Trong quá trình nghiên cứu, em đã có cơ hội tiếp cận và tham khảo một số đề tài có liên quan tương tự đến nội dung nghiên cứu như sau:: "Về thực hiện Chương trình xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam giai đoạn 2011- 2020” (2013), của GS, TS Trần Ngọc Hiên, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, đăng trên tờ Tạp chí cộng sản điện tử, http://www. Tác giả đưa ra và làm rõ những nhân tố tác động đến Chương trình xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2020. Ba nhân tố sẽ tác động đến chương trình này là, tăng trưởng kinh tế phiến diện, môi Trường bị tàn phá và sự hạn chế về năng lực tổ chức, quản lý của bộ máy nhà nước các cấp. Đồng thời cũng đưa ra 3 định hướng cho chương trình xóa đói giảm nghèo trong giai đoạn này.
Đó là: Thứ nhất, đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế. Đây là 3 hướng chung của sự nghiệp đổi mới, là bước chuyển giai đoạn từ tăng trưởng số lượng lên tăng trưởng cả số lượng và chất lượng, là giai đoạn lấy chất lượng làm động lực tăng trưởng kinh tế; Thứ hai, tạo lập những tiền đề, điều kiện để giải quyết vấn đề đói nghèo trong mô hình mới. Đây là những tiền đề vừa để xây dựng mô hình kinh tế mới, vừa giải quyết có hiệu quả vấn đề đói nghèo; Thứ ba, đổi mới tổ chức và thể chế quản lý của Nhà nước theo yêu cầu đổi mới mô hình kinh tế. Nông Thị Thùy Dương (2016)“Tổ chức thực thi chính sách cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn”, luận văn thạc sĩ trường đại học Kinh tế Quốc dân.
Trong công trình này, tác giả đã nêu rõ điều kiện khó khăn và các đặc điểm cơ bản của hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, qua đó làm rõ sự cần thiết trong việc thực thi chương trình, nêu rõ hiệu quả kinh tế đối với hộ dân tộc thiểu số và đảm bảo sự công bằng xã hội. Lê Thị Thúy Nga (2011)“Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Thanh Hóa” (2011), luận văn thạc sỹ kinh tế của Trường đại học Kinh tế Quốc dân. Trong công trình này, tác giả đã hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về đói nghèo, tín dụng đối với hộ nghèo. Phân tích, đánh giá thực trạng và hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại NH CSXH tỉnh Thanh Hóa, đồng thời đề xuất một hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng hộ nghèo tại NH CSXH tỉnh Thanh Hóa.
Lê Xuân Thọ (2017) “Tổ chức thực thi chính sách cho vay vốn hộ sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn của ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai”, luận văn thạc sĩ trường đại học Kinh tế Quốc dân. Tác giả đã nêu rõ đặc điểm cơ bản của hộ sản xuất kinh doanh vùng khó khăn. Đối tượng tiếp cận trực tiếp nên luận văn nêu rất rõ tính cấp thiết, điểm mạnh, điểm yếu của hộ sản xuất kinh doanh vùng khó khăn tại huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Hiện tại chưa có đề tài nào nghiên cứu tổ chức thực thi chương trình cho vay hộ nghèocụ thể tại Ngân hàng chính sách xã hội huyện Thanh Chương.
Khoảng trống này cần được nghiên cứu sâu sắc hơn nữa và đó cũng chính là mục đích cũng như nhiệm vụ mà luận văn này muốn hướng đến. Mục tiêu nghiên cứu - Xácđịnh khung nghiên cứu tổ chức thực thi chương trình cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ nghèo của ngân hàng chính sách xã hội. - Phân tích thực trạng tổ chức thực thi chương trình cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ nghèo của ngân hàng chính sách xã hội huyện Thanh Chương; đánh giá những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong quá trình thực thi chương trình này. - Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện tổ chức thực thi chương trình cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ nghèo của ngân Chính sách xã hội huyện Thanh Chương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4. Đối tượng nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: tổ chức thực thi chương trình cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ nghèo của ngân hàng Chính sách Xã hội. Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung: Tiếp cận theo 3 giai đoạn tổ chức thực thi chương trình trong đó chủ thể ban hành chương trình là Chính phủ theo nghị định 78 NĐ-CP, chủ thể chịu trách nhiệm chính về tổ chức thực thi chương trình là ngân hàng chính sách xã hội huyện Thanh Chương - Về không gian: trên địa bàn huyện Thanh Chương - Về thời gian: số liệu phản ánh thực trạng thời điểm nghiên cứu từ 2014 - 2016 và đề ra các giải pháp cho giai đoạn tiếp theo đến hết 2020 5 5. Phương pháp nghiên cứu 5.
Khung nghiên cứu Các điều kiện để Tổ chức thực thi Nhằm thực hiện tổ chức thực thi “chương trình cho vay mục tiêu chương thành công vốn phát triển sản xuất trình cho vay vốn chương trình cho đối với hộ nghèo” phát triển sản xuất vay vốn phát triển đối với hộ nghèo sản xuất đối với hộ nghèo - Hỗ trợ hộ nghèo phát triển kinh tế - Có được chương - Chuẩn bị triển khai - Hỗ trợ hộ nghèo trình hợp lý chương trình thoát nghèo bền - Sự cam kết của bộ - Chỉ đạo triển khai vững. máy lãnh đạo chương trình - Kiểm soát quá trình - Nâng cao chất - Đội ngũ cán bộ thực thi chương trình lượng cuộc sống của thực thi chương trình hộ nghèo - Sự ủng hộ của đối - Thu hẹp khoảng tượng hộ nghèo cách giàu nghèo, đảm bảo công bằng, tiến bộ xã hội Nguồn: tổng hợp từ giáo trình Chính sách Kinh tế Xã hội, trường đại học Kinh tế Quốc dân và tổng hợp của tác giả 5. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu a. Số liệu thứ cấp - Thu thập từ các công trình, tài liệu đã được công bố liên quan đến đối tượng nghiên cứu: báo cáo của Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Nghệ An;các báo cáo thường niên của Ủy ban nhân dân huyện Thanh Chương, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Thanh Chương, ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Thanh Chương về tổ chức thực thi chương trình cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ nghèo.
- Xử lý số liệu thứ cấp bằng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh. Số liệu sơ cấp - Số liệu sơ cấp được thu thập bằng phương pháp điều tra và phỏng vấn. Đối tượng điều tra là các hộ nghèo vay vốn phát triển sản xuất, mục đích điều tra là nhằm nắm được thực trạng thực thi chương trình.