mở đầu khai phá. Tuy nhiên đến nay, đề tài ―Nghiên cứu chức năng tác động trong thơ kháng chiến 1945 -1975 từ phương diện truyền thông xã hội‖ vẫn còn bỏ ngỏ, chƣa ai tiếp cận. Luận án này sẽ là một trong những công trình bù đắp cho sự thiếu hụt đó. Cơ sở lí luận Để làm rõ đƣợc đối tƣợng nghiên cứu trong đề tài ―Nghiên cứu chức năng tác động trong thơ kháng chiến 1945 – 1975 từ phương diện truyền thông xã hội”, luận án cần dựa vào 3 cơ sở lí luận chính: - Lí thuyết về TT và TTXH - Lí luận ngôn ngữ học - Lí luận văn học Đây là luận án đầu tiên xem xét các bài thơ Việt Nam (trong 2 cuộc kháng chiến) với tƣ cách là các thông điệp TT.
Vì vậy luận án cần làm rõ các thông điệp TT theo quan điểm của: lí thuyết giao tiếp; lí thuyết thông tin; lí thuyết về TT và TTXH. Vì thơ kháng chiến là một hình thức biểu đạt của ngôn ngữ, nên nó cũng có những chức năng cơ bản của ngôn ngữ, do vậy phần cơ sở lí luận của luận án cũng sẽ nhấn mạnh đến: lí luận của Jakobson về chức năng của ngôn ngữ và lí luận của Halliday về chức năng xã hội. Trong 3 chức năng cơ bản của ngôn ngữ, luận án tập trung đi sâu nghiên cứu chức năng tác động – một biểu hiện cụ thể của chức năng liên nhân. Thơ kháng chiến 1945 -1975, khi biểu đạt chức năng tác động của mình đối với tinh thần thời cuộc của quần chúng nhân dân đã vận dụng không ít những HĐNT, vì vậy, trong chƣơng 1 này, chúng tôi sẽ đề cập sơ bộ đến lí thuyết HĐNT của các nhà Ngữ học Chức năng.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lí luận về PTDN cũng là một khía cạnh lí luận không thể thiếu luận án cần phải dựa vào khi muốn làm rõ bản chất, khả năng tác động, gây khiến của thơ kháng chiến (1945 – 1975) đến nhận thức, tƣ tƣởng, tình cảm, thái độ, hành động của quần chúng bạn đọc qua các hình thức nghệ thuật ngôn từ trong cách tổ chức thông điệp và biểu đạt nội dung. Ngoài ra, một số khía cạnh lí luận văn học (thi pháp học, tính đối thoại trong thơ) cũng là một trong những viên gạch nền quan trọng, góp phần không nhỏ trong việc tạo ra hiệu quả của công trình nghiên cứu, giúp nội dung nghiên cứu đi đƣợc đúng hƣớng và sâu hơn. Dƣới đây là những trình bày cụ thể, chi tiết về những khía cạnh lí luận này. Những khía cạnh lí thuyết về truyền thông và TTXH 1.
Lí thuyết về truyền thông Liên quan đến đề tài luận án, lí thuyết cơ bản đầu tiên mà chúng tôi muốn nhắc đến đó chính là lí thuyết về truyền thông. a) Định nghĩa Căn cứ vào những tƣ liệu khảo sát, từ ―truyền thông‖ (―communication‖ trong tiếng Anh) bắt nguồn từ tiếng La Tinh là ―communicatio‖ và ―communis‖. Ở thế kỉ 14, trong tiếng Anh từ này đƣợc viết là ―comynycacion‖. Từ sau thế kỉ 15, từ này dần biến chuyển thành hình thái hiện đại, hàm nghĩa của nó không dƣới mƣời mấy loại, bao gồm “thông tin”, “hội thoại”, “giao lưu”, “giao tiếp”, “giao thông”, “tham gia”.
Cuối thế kỉ 19, từ này đã trở thành từ ngữ đƣợc sử dụng hàng ngày, đƣợc các nhà khoa học xã hội đƣa ra với khoảng 160 định nghĩa khác nhau. Cho đến nay, khái niệm TT vẫn là một khái niệm mở và đƣợc tiếp cận dƣới nhiều góc độ, do sự tham gia rộng rãi của nó vào các mặt trong đời sống xã hội. Các định nghĩa về TT đƣợc đƣa ra trong những bối cảnh, đích khác nhau, chủ yếu tập trung vào ba vấn đề cơ bản: 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Xác định bản chất của TT - Quá trình cơ bản của TT - Môi trường bối cảnh của TT Trong khi triển khai đề tài, luận án đã sử dụng định nghĩa có tính tổng hợp (trích từ cuốn: ―Truyền thông, lí thuyết và kĩ năng cơ bản‖ của Nguyễn Văn Dững chủ biên, 2006) làm cơ sở cho nghiên cứu: “TT là một quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm.chia sẻ kĩ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành động và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, của cộng đồng và xã hội” [33]. Theo định nghĩa này, bản chất của TT là quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều, diễn ra liên tục giữa chủ thể TT và đối tƣợng TT.
Quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều ấy có thể đƣợc hình dung qua nguyên tắc bình thông nhau. Khi có sự chênh lệch trong nhận thức, hiểu biết giữa chủ thể và đối tƣợng TT gắn với nhu cầu chia sẻ, trao đổi thì hoạt động TT diễn ra. Quá trình TT vì vậy chỉ kết thúc khi đã đạt đƣợc sự cân bằng trong nhận thức, hiểu biết giữa chủ thể và đối tƣợng TT. Mục đích của TT là hƣớng đến những hiểu biết chung nhằm thay đổi thái độ, nhận thức, hành động của đối tƣợng TT và tạo định hƣớng giá trị cho công chúng.
Thông tin của TT là một loại thông tin có tính chất công cụ và hoạt động TT là một loại hoạt động có tính chất tác động sâu sắc, có khả năng tạo ra những thay đổi lớn trên quy mô toàn xã hội. b) Nội dung của hoạt động truyền thông Nội dung của hoạt động TT nằm trong cụm từ cơ bản CIE gồm 3 khái niệm: - Communication (giao tiếp/TT - phƣơng thức); 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Ðây là sự kết hợp (hòa kết) của ba phƣơng diện trong một loại hoạt động thông tin đặc thù nhằm tác động vào đối tƣợng với mong muốn can thiệp tạo ra những thay đổi ở đối tƣợng. Giao tiếp: (i) Khái niệm: Giao tiếp là một hoạt động thƣờng xuyên của con ngƣời.
Không ai có thể sống cô độc mà không có sự giao tiếp với ngƣời khác, và xã hội cũng không thể tồn tại, hoạt động và phát triển mà không có giao tiếp. Trong công trình ―Ngôn ngữ với văn chương‖ (2015), khi bàn về giao tiếp ngôn ngữ đời thƣờng và giao tiếp ngôn ngữ văn chƣơng, Bùi Minh Toán cho rằng: ―Giao tiếp chính là sự tiếp xúc giữa người với người, trong đó diễn ra quá trình trao đổi nhận thức tư tưởng, tình cảm, bàn bạc hành động” [114, tr. Giao tiếp có thể đƣợc tiến hành bằng các phƣơng tiện khác nhau từ đơn giản nhƣ: điệu bộ, cử chỉ, nét mặt, ánh mắt,.đến hiện đại nhƣ các phƣơng tiện vô tuyến viễn thông, các phƣơng tiện của công nghệ thông tin. Tuy nhiên, ngôn ngữ vẫn là phƣơng tiện giao tiếp quan trọng nhất bởi, xét về hiệu quả, nó giúp cho con ngƣời biểu hiện và trao đổi đƣợc mọi nội dung thông tin.
Không một nội dung nào mà con ngƣời cần biểu hiện và trao đổi lại không thể biểu hiện đƣợc bằng ngôn ngữ. Với hƣớng nghiên cứu của luận án, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. (ii) Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ: Hoạt động giao tiếp (hoạt động ngôn giao) của con ngƣời đã đƣợc ngôn ngữ học bắt đầu quan tâm nghiên cứu từ đầu thế kỉ này. Bloomfiel (1933) có lẽ là ngƣời đầu tiên phát hiện ra cơ chế ngôn giao, khi ông đƣa ra sơ đồ 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.R với hai nhân vật giao tiếp là người nói – người nghe (trong đó, S: kích thích nhằm vào ngƣời nói; r (lời): phản ứng của ngƣời nói; s (lời): kích thích của ngƣời nói; R: lời – phản ứng của ngƣời nghe) và chỉ ra rằng r và s là hai bình diện của lời mà ngôn ngữ học cần nghiên cứu.
Đó là lời sản phẩm đồng thời cũng là lời – kích thích của ngƣời nói, là những đơn vị ngôn giao. Các tác giả khác nhƣ Shannon và Weaver (1949/1962), Schramm (1955), v. khi nghiên cứu về quá trình TT cũng đã đƣa ra các sơ đồ giao tiếp của họ [134]. Tuy nhiên, các sơ đồ đó còn khá đơn giản và chƣa diễn tả hết các nhân tố trong quá trình giao tiếp của con ngƣời.
Sau các tác giả trên, Jakobson (1960) trong công trình ―Linguistics and Poetics‖ , đã đƣa ra một sơ đồ giao tiếp nhƣ sau: NGỮ CẢNH NGƢỜI PHÁT THÔNG ĐIỆP NGƢỜI NHẬN TIẾP XÚC MÃ Hình 1.1: Sơ đồ các nhân tố giao tiếp của Jakobson Theo đó, có 6 nhân tố không thể thiếu trong một cuộc giao tiếp đó là: người phát, người nhận, thông điệp, ngữ cảnh, tiếp xúc, mã. Sơ đồ của Jakobson luôn đƣợc coi là một sơ đồ ―cổ điển‖ về ngôn giao, bởi nó đã thể hiện khá đầy đủ các nhân tố giao tiếp. Hoạt động giao tiếp ở đây đƣợc hiểu theo nghĩa rộng: bao gồm tất cả các dạng của quá trình trao đổi thông tin giữa con ngƣời với nhau. Sơ đồ trên đƣợc nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ sau này kế thừa (là chủ yếu) và phát triển theo những cách khác nhau.
Nhƣ vậy, chúng ta thấy rằng, hoạt động giao tiếp diễn ra và liên quan ít nhất đến hai nhân vật giao tiếp: người phát và người nhận. Trong quá trình giao tiếp, nội dung giao tiếp chứa trong thông điệp (thực chất là một chuỗi tín 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiệu đƣợc mã hóa) đƣợc truyền đạt và tiếp nhận giữa hai nhân vật giao tiếp này thông qua một loại mã nhất định, chẳng hạn, ý nghĩa dừng lại có thể đƣợc truyền đạt bằng đèn đỏ trong hệ thống đèn giao thông, hiệu lệnh bằng tay của cảnh sát giao thông hoặc bằng chính từ dừng lại v. Nội dung giao tiếp chứa hai thành phần cơ bản: thông tin miêu tả và tình thái. Thông tin miêu tả là nội dung về sự vật, sự việc, hiện tƣợng,.(gọi chung là sự tình) mà văn bản đề cập đến.
Nội dung tình thái bao gồm nhiều phƣơng diện phức tạp nhƣ sự nhìn nhận, đánh giá của nguồn phát đối với sự tình hay đối với ngƣời nhận, quan hệ của sự tình với hiện thực, mục đích giao tiếp của ngƣời phát khi tạo lập văn bản. Hai thành phần này hòa quyện với nhau trong một văn bản và trong mỗi phát ngôn của văn bản. Để có thể truyền đạt bất kì điều gì, giữa ngƣời phát và ngƣời nhận thông điệp buộc phải có sự tiếp xúc hay quan hệ với nhau. Điều này có nghĩa là, thông điệp mà ngƣời phát muốn gửi đi phải đƣợc truyền qua một kênh dẫn thông tin nào đó: trong hội thoại, kênh đó là sóng âm, trên radio hoặc tivi, sóng âm đƣợc chuyển thành sóng điện từ, trong giao tiếp viết, kênh đó là các con chữ.