Chương 1, luận văn trình bày một số nội dung làm cơ sở lý thuyết cho đề tài: khái quát về chức năng biểu cảm của ngôn ngữ (khái niệm chức năng biểu cảm và quan điểm của tác giả luận văn), một số nội dung về tình thái ngôn ngữ (các phương tiện tình thái là các yếu tố có chức năng biểu cảm), câu và phương tiện biểu thị ý nghĩa của câu, ngữ cảnh và tác động của ngữ cảnh đến chức năng biểu cảm, một số nội dung về tính từ và động từ. Đó là những khái niệm cơ bản, là cơ sở lý thuyết nền tảng cho các nghiên cứu được thực hiện ở chương 2,3. Bên cạnh đó, luận văn cũng trình bày một số vấn đề liên quan đến đề tài: một số thông tin về Tự lực văn đoàn, giới thiệu về Nhất Linh, những nhân tố ảnh hưởng đến phong cách văn chương Nhất Linh. Khái quát về Chức năng biểu cảm của ngôn ngữ Chức năng biểu cảm là một thuật ngữ ngôn ngữ học còn tương đối mới mẻ, các nghiên cứu về chức năng biểu cảm còn chưa được phong phú và đa dạng, chủ yếu vẫn tồn tại trong khía cạnh lý luận và chưa thực sự đi vào chiều sâu.
Trong phần này, chúng tôi xin được đưa ra khái niệm chức năng biểu cảm và những vấn đề liên quan đến lĩnh vực biểu cảm. Khái niệm “chức năng biểu cảm” Ngoài chức năng cơ bản nhất của ngôn ngữ là chức năng giao tiếp, ngôn ngữ còn có một chức năng quan trọng không kém đó là chức năng biểu cảm. Năm 1963, trong cuốn “Poetics” (Thi học), Roman Jakobson đã trình bày 6 chức năng của ngôn ngữ thay cho 3 chức năng mà K.Bühler đã công bố trước đó là: Chức năng hướng tới người nói (Speaker-oriented), chức năng hướng tới người nghe (Hearer-oriented) và chức năng biểu diễn/ biểu hiện (Representative). Nếu như trước đây, K.Bühler nhìn ngôn ngữ một cách máy móc và cơ giới như là một biểu thức toán học thì từ Jakobson, ngôn ngữ và chức 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năng của ngôn ngữ được trình bày và nhìn nhận một cách tự nhiên như chính bản chất tồn tại của nó từ trước tới nay.
6 chức năng của ngôn ngữ được Jakobson trình bày là: Emosive (Xúc cảm), Conative (Nhận cảm), Meta – language (Siêu ngữ), Poetics (Thi pháp), Phatics (kết nối), Refencial (Tham chiếu). Định nghĩa Biểu cảm theo Từ điển tiếng Việt: Biểu cảm (động từ, động ngữ hoặc tổ hợp tương đương): Biểu hiện tình cảm, cảm xúc (nói khái quát) [43, 98]. Trong Từ điển Thuật ngữ Ngôn ngữ học, tác giả Diệp Quang Ban đã định nghĩa về “ Chức năng”, “Biểu cảm” và “chức năng biểu cảm” như sau: Chức năng: (function): Trong ngữ pháp, cái cách mà một thành tố hoạt động trong một đơn vị lớn hơn chính nó, mối quan hệ của nó với những thành tố khác trong đơn vị lớn hơn chính nó, chẳng hạn một từ hay một ngữ xét trong quan hệ với câu thì nó hoạt động trong chức năng cư sphaps với tư cách chủ ngữ, hay bổ ngữ; chức năng thường được xem xét trong quan hệ nghịch đối với „hình thức‟; Trong dụng học (và xã hội học), cái „vai‟ mà một người đảm nhiệm khi dùng ngôn ngữ trong một tình huống xã hội, trong vai này con người dùng ngôn ngữ thể hiện thái độ, truyền đạt cảm nghĩ của mình; Trong phân tích „truyện kể‟, nhât là phân tích cốt truyện, một loại hành động do một kiểu nhân vật thực hiện, như „người anh hùng cứu thoát một nạn nhân‟ [42, 143]. Chức năng biểu cảm (chức năng bộc lộ/ expressive function/ chức năng liên nhân/ interpersonal function): Trong việc phân tích ngôn ngữ trong giao tiếp (phân tích diễn ngôn), việc sử dụng ngôn ngữ để thiết lập và duy trì quan hệ xã hội trong giao tiếp, hoặc tác động đến người nhận (ngôi thứ hai), như: Anh mở 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hộ tôi cái cửa sổ, hoặc nêu thái độ của người phát đối với sự việc được nói đến trong phát ngôn, như Có lẽ mai Tị mới về (tỏ ra chưa tin chắc vào việc “Tị về vào ngày mai”).
Chức năng liên nhân cũng gọi là chức năng tương tác hay chức năng bộc lộ (cũng dịch là chức năng biểu cảm), hay chức năng bộc lộ - xã hội [42, 145]. Roman Jakobson cũng từng trình bày về chức năng biểu cảm như sau: Cái chức năng được gọi là bày tỏ hay biểu cảm vốn tập trung vào người gửi, nhằm trực tiếp biểu đạt thái độ của người nói với cái đang được nói đến. Nó nhằm bày tỏ một cảm xúc nào đấy, có thể là thật hay giả vờ; vì vậy, có lẽ nên dùng thuật ngữ chức năng “biểu cảm” (émotive)…hơn là thuật ngữ chức năng “cảm xúc” (émotionnelle). Cái tầng lớp thuần túy biểu cảm trong ngôn ngữ được đại diện bằng các thán từ…một người nói, trong khi sử dụng những yếu tố biểu cảm để tỏ ý mỉa mai, hay tức giận, rõ ràng là có chuyển đạt một thông báo nào đấy…[41, 52].
Quan điểm của tác giả luận văn Dựa vào những nghiên cứu đã có, tôi xin phép được đưa ra định nghĩa của mình về chức năng biểu cảm như sau: chức năng biểu cảm là việc biểu lộ thái độ, cảm xúc, sự tương tác của người nói đối với một hay nhiều sự vật, hiện tượng hoặc với đối tượng giao tiếp, thái độ bộc lộ có thể được thể hiện thông qua ngôn ngữ (tình thái) và (hoặc) thể hiện thông qua nội dung, ngữ điệu. Chức năng biểu cảm cũng chính là chức năng bộc lộ thái độ, cảm xúc. Tình thái trong ngôn ngữ 1. Khái niệm tình thái Tình thái không phải là một vấn đề lý thuyết mới mà đã có từ lâu với rất nhiều quan điểm của các nhà ngôn ngữ thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng.
Tác giả Nguyễn Văn Hiệp đã chỉ ra rằng: “Trong những năm gần đây, tình thái nổi lên như một trong những trọng tâm nghiên cứu của ngôn ngữ học. Điều này được lí giải trong xu hướng chung của ngôn ngữ học là muốn mở rộng đối tượng nghiên cứu…Có thể nói sự quan tâm đến tình thái là một tất yếu trong 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quá trình phát triển của ngôn ngữ học. Bởi lẽ nếu không quan tâm đến các bình diện của tình thái thì chúng ta sẽ không thể hiểu được bản chất của ngôn ngữ với tư cách là công cụ để con người phản ánh thế giới trong hoạt động nhận thức và tương tác xã hội” [19, 74] Tác giả Đinh Văn Đức cho rằng: “Tình thái vốn là khái niệm ngữ nghĩa của câu, nghĩa là thuộc địa hạt cú pháp. Theo đó, cơ cấu nghĩa của câu truyền thống được chia ra làm hai lớp: a) lớp nghĩa ngôn liệu (dictum) gắn với việc miêu tả mệnh đề, b) lớp nghĩa tình thái (modus) gắn với việc đối chiếu nội dung ngôn ngữ với thực tại qua thái độ người nói” [16, 217] Trong cuốn Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp, Nguyễn Văn Hiệp đã phân tình thái làm hai dạng là tình thái trong logic hay còn gọi là tình thái khách quan, phản ánh cái nhìn logic học về nội dung của câu và tính thái trong ngôn ngữ còn gọi là tình thái chủ quan.
Tình thái trong logic loại trừ vai trò của người nói, các phán đoán mà câu biểu thị được phân nhóm dựa trên 3 tiêu chí là tính khả năng, tính tất yếu và tính hiện thực. Ngược lại, tình thái trong ngôn ngữ thể hiện vai trò của người nói đối với nội dung được đề cập đến trong câu. Tình thái trong ngôn ngữ về cơ bản cũng dựa trên 3 tiêu chí như với tình thái trong logic, khác ở chỗ người nói hoặc nêu lên bằng chứng, suy luận có tính cá nhân, làm cơ sở cho cam kết nào đó đối với tính chân thực của điều được nói ra trong câu hoặc thể hiện thái độ của mình đối với điều được nói đến trong câu. Hiện nay, rất nhiều khái niệm tình thái được đưa ra bởi các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học.
Nhưng dù có những khác nhau như thế nào thì các cách định nghĩa này vẫn có những đặc điểm chung đó là: Tình thái là để chỉ một phạm trù ngữ nghĩa rộng lớn, xoay quanh mối quan hệ giữa người nói – nội dung phát ngôn – thực tế. Trong đó vai trò của người nói luôn được đề cao. Theo Nguyễn Văn Hiệp, tình thái trong ngôn ngữ có sự tồn tại của một số đối lập chủ yếu, đó là: Đối lập giữa tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa. Đối lập giữa tình thái nhận thức và tình thái căn bản.
Đối lập giữa tình thái hướng tác thể và tình thái hướng người nói. Những đối lập tình thái mang tính 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chủ quan, thể hiện quan điểm cá nhân của người nói đối với nội dung được nói đến trong câu như: đánh giá tích cực/ tiêu cực sự tình; đánh giá về chủng loại nghèo nàn/ phong phú; đánh giá về lượng ít/ nhiều; đánh giá về thời điểm sớm/ muộn;…Tất cả những kiểu đánh giá này đều được tựu trung là tình thái thuộc phạm vi nghĩa học. Các phương tiện biểu thị ý nghĩa, tình thái trong tiếng Việt Trên thế giới có hàng trăm, thậm chí hàng nghìn ngôn ngữ khác nhau nhưng hầu như ngôn ngữ nào cũng đều tồn tại các phương tiện biểu thị tình thái với những đặc điểm chung dựa trên 3 phương tiện chính là phương tiện từ vựng, phương tiện ngữ pháp và phương tiện ngữ điệu. Tiếng Việt là loại ngôn ngữ đơn lập, nên có hiện hữu phương tiện biểu thị tình thái khá rõ ràng: 1, Các phó từ làm thành phần phụ của ngữ vị từ: đã, đang sẽ, vừa, mới, cũng, từng, đếch, rắt, ắt, bè bỗng, đều, hề, hơi, hẵng, không, ứ, càng, chẳng, chưa, cùng, cứ, cũng, chỉ, lại vẫn, đi, lên, ra,… 2, Các vị từ tình thái tính làm chính tố trong ngữ đoạn vị từ: đinh, toan, cố, muốn, được, bị, bỏ, hãy, đừng, chớ, chớm, ngưng, ngừng, nghỉ, dứt, chợt, bật, phát, đâm ra, đâm, cố tình, giả bộ, dám, lỡ, trót, nỡ, thành ra, thèm muốn, mong, ước, ngại, lo, dự định, định bụng, quyết, nhất định, thà sắp, toan, suýt, chực, hòng thôi, quyết, nhất định, thôi, bèn, hòng.