Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ sức mạnh nam sinh viên cầu lông ĐHSP TDTT HN

Luận văn nghiên cứu, xây dựng bộ tiêu chuẩn đánh giá trình độ sức mạnh cho nam sinh viên chuyên sâu cầu lông tại trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội.

Chuyên ngành

Giáo dục thể chất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2013

84
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của chuẩn đánh giá sức mạnh

Chuẩn đánh giá sức mạnh là hệ thống tiêu chuẩn khoa học được xây dựng để đo lường và phân loại trình độ sức mạnh của sinh viên chuyên sâu cầu lông. Đây là công cụ quan trọng trong giáo dục thể dục thể thao hiện đại, giúp giáo viên và huấn luyện viên có cơ sở khoa học để đánh giá tiến bộ của học sinh. Sức mạnh là một trong những yếu tố thể lực cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thực hành kỹ năng cầu lông. Việc xây dựng tiêu chuẩn đánh giá giúp tạo sự thống nhất trong quá trình kiểm tra đánh giá, đảm bảo tính công bằng và khách quan. Ngoài ra, nó còn cung cấp thông tin quý báu để điều chỉnh chương trình huấn luyện thể thao sao cho phù hợp với trình độ thực tế của từng học viên.

1.1. Định nghĩa sức mạnh trong cầu lông

Sức mạnh là khả năng cơ bắp tạo ra lực để thực hiện các động tác cầu lông. Trong môn cầu lông chuyên sâu, sức mạnh được chia thành: sức mạnh tối đa, sức mạnh bền, và sức mạnh nổ. Các loại sức mạnh này có vai trò khác nhau trong thực hiện các kỹ thuật như phát cầu, đập cầu mạnh, và di chuyển linh hoạt trên sân.

1.2. Vai trò của đánh giá trong huấn luyện

Kiểm tra đánh giá là khâu quan trọng trong công tác giảng dạy và huấn luyện. Nó giúp xác định điểm mạnh, điểm yếu của sinh viên, từ đó có kế hoạch rèn luyện thân thể phù hợp. Việc sử dụng chuẩn đánh giá khoa học nâng cao hiệu quả đào tạo cán bộ giáo viên TDTT.

II. Cơ sở lý luận xây dựng chuẩn đánh giá sức mạnh

Việc xây dựng chuẩn đánh giá sức mạnh dựa trên các cơ sở lý luận về test và lý thuyết đánh giá. Cơ sở pháp lý được định hướng bởi Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch trong các định hướng đào tạo giáo viên TDTT. Các test sức mạnh phải đáp ứng tiêu chuẩn về tính thông báo và độ tin cậy. Đặc điểm của sinh viên chuyên sâu cầu lông, bao gồm tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn, là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc lựa chọn nội dung kiểm tra. Chuẩn cần phải phản ánh đúng yêu cầu của môn cầu lông và khả năng thực tế của nam sinh viên theo từng năm học.

2.1. Tính thông báo và độ tin cậy của test

Tính thông báo của test đánh giá sức mạnh là khả năng phản ánh đúng trình độ thực tế của sinh viên. Độ tin cậy được xác định thông qua hệ số tương quan qua 2 lần lập test. Các test cần được lựa chọn sao cho có giá trị tương quan cao với thành tích thi đấu thực tế của sinh viên.

2.2. Lựa chọn nội dung kiểm tra phù hợp

Nội dung kiểm tra sức mạnh bao gồm các bài test cụ thể như: nhảy cao, nối nhảy, chống đẩy. Mỗi nội dung kiểm tra được lựa chọn dựa trên tầm quan trọng của sức mạnh trong các kỹ thuật cầu lông cụ thể. Phương pháp phỏng vấn chuyên gia giúp xác định mức độ đồng ý về các loại test.

III. Quy trình xây dựng tiêu chuẩn đánh giá sức mạnh

Quy trình xây dựng chuẩn đánh giá tuân theo phương pháp khoa học gồm nhiều bước cụ thể. Đầu tiên, tiến hành đọc và phân tích tài liệu liên quan đến kiểm tra đánh giá trong TDTThuấn luyện thể thao. Tiếp theo là phỏng vấn tọa đàm với các chuyên gia để xác định tầm quan trọng của các tố chất thể lực. Sau đó, quan sát sư phạm thực tế quá trình giảng dạy để lựa chọn test sức mạnh phù hợp. Cuối cùng, sử dụng phương pháp toán học thống kê để phân tích dữ liệu, xác định hệ số tương quan và xây dựng bảng phân loại sức mạnh cho sinh viên năm thứ 2 và năm thứ 3 tại trường ĐHSP TDTT Hà Nội.

3.1. Giai đoạn khảo sát và lựa chọn test

Khảo sát thực trạng test sức mạnh ở các đơn vị phía Bắc giúp nắm bắt những chuẩn đánh giá hiện hành. Phỏng vấn lựa chọn test với 26 chuyên gia xác định những test sức mạnh cho sinh viên chuyên sâu cầu lông nam được sử dụng phổ biến. Kết quả phỏng vấn hướng dẫn lựa chọn các test có giá trị thực tiễn cao.

3.2. Phân tích và thiết lập tiêu chuẩn

Xác định mức độ đồng đều sức mạnh của tập mẫu sinh viên là bước chuẩn bị quan trọng. Kiểm tra sư phạm được thực hiện lên 2 lần để xác định tính thông báo của các nội dung. Tiêu chuẩn phân loại được thiết lập dựa trên phân布distribution dữ liệu thực tế.

IV. Ứng dụng chuẩn đánh giá sức mạnh trong thực tế giảng dạy

Chuẩn đánh giá sức mạnh được xây dựng có thể ứng dụng trực tiếp trong đánh giá thực trạng sức mạnh của sinh viên chuyên sâu cầu lông. Bảng đánh giá sức mạnh được chia thành các mức: yếu, trung bình, khá, và giỏi, giúp giáo viên dễ dàng phân loại học sinh. Tiêu chuẩn đánh giá tổng hợp kết hợp nhiều nội dung kiểm tra để có cái nhìn toàn diện về trình độ sức mạnh. Giáo viên có thể sử dụng chuẩn này để điều chỉnh chương trình huấn luyện, tập trung vào những khâu còn yếu. Ngoài ra, chuẩn đánh giá cung cấp cơ sở khoa học cho công tác kiểm tra đánh giágiáo dục thể chất tại các trường đại học sư phạm thể dục thể thao.

4.1. Sử dụng bảng phân loại trong đánh giá định kỳ

Bảng đánh giá sức mạnh dành cho sinh viên năm thứ 3năm thứ 2 có tiêu chuẩn riêng biệt, phù hợp với trình độ phát triển của mỗi nhóm. Giáo viên sử dụng bảng phân loại để xác định mức độ đạt được của từng sinh viên. Việc so sánh tiêu chuẩn giữa 2 năm cho thấy sự tiến bộ về sức mạnh kỳ vọng.

4.2. Hỗ trợ điều chỉnh chương trình huấn luyện

Kết quả đánh giá sức mạnh cung cấp thông tin phản hồi quý báu cho huấn luyện viên và giáo viên. Dựa trên hệ số tương quan với thành tích thi đấu, có thể điều chỉnh nội dung rèn luyện sao cho tối ưu. Chuẩn đánh giá tổng hợp giúp xác định năng lực thực hành toàn diện của sinh viên.

18/12/2025
Xây dựng chuẩn đánh giá trình độ sức mạnh cho nam sinh viên chuyên sâu cầu lông trường đại học sư phạm thể dục thể thao hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Vị trí vai trò của công tác kiểm tra đánh giá trong công tác giảng dạy và huấn luyện 1. Một số định hướng của Bộ giáo dục đào tạo về công tác kiểm tra đánh giá, cơ sở pháp lý của các hình thức kiểm tra đánh giá cho các trường đại học cao đẳng TDTT Những năm qua cùng với sự phát triển chung của xã hội, nền giáo dục nước ta cũng có những bước đi mới táo bạo và ngày càng khẳng định được vai trò của mình trong sự phát triển chung của đất nước. Với công tác GDTC cho sinh viên đại học và cao đẳng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng không ngừng cải tiến về nội dung chương trình làm cho công tác này ngày càng thể hiện rõ hơn tính khoa học, phong phú và đa dạng mà vẫn đảm bảo mục tiêu của GDTC là góp phần xây dựng những lớp người phát triển toàn diện “Cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”.

Đây là những thay đổi có ý nghĩa chiến lược của công tác GDTC trong nhà trường và biến những chủ trương của Đảng và Nhà nước trở thành hiện thực [5]. Thông tư hướng dẫn số 11/TT - GDTC ngày 01/8/1994 về việc hướng dẫn thực hiện Chỉ thị 36/TTg có nói: Sự thay đổi và cải tiến nội dung chương trình GDTC cũng như việc đề ra các chỉ tiêu đánh giá kết quả học tập cho sinh viên chuyên ngành Sư phạm GDTC là những thành quả lao động quý báu, làm cơ sở đánh giá trình độ sinh viên và là những căn cứ để xác định những cải tiến trong những năm tiếp theo. Tuy nhiên chỉ tiêu đánh giá kết quả học tập của sinh viên do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chỉ đáp ứng được mục đích yêu cầu của GDTC trong các trường Đại học, Cao đẳng nói chung, đối với các trường Đại học, Cao đẳng chuyên ngành Thể dục thể thao đặc thù là năng khiếu nói riêng chưa có hệ thống chỉ tiêu đánh giá phù hợp với đặc thù của từng trường, từng môn học [3]. 14 Ngày 23 tháng 11 năm 1989, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành quyết định 203/QĐ - BGD & ĐT/1989 về đánh giá chất lượng giáo dục thể chất cho sinh viên ở các trường Đại học, quy định chỉ tiêu đánh giá kết quả học tập của sinh viên dựa vào trình độ phát triển thể lực, nhóm sức khỏe, giới tính và nhóm trường.

Hình thức kiểm tra đánh giá trong một số trường đại học, cao đẳng TDTT ở nước ta nói chung được tiến hành đánh giá theo học trình, học phần, dựa theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành quy chế về tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi và công nhận tốt nghiệp đại học và cao đẳng hệ chính quy [32]. Căn cứ nghị định số 29/CP ngày 30/3/1994 của Chính phủ quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Giáo dục và Đào tạo [27]. Căn cứ vào nghị định số 15/CP ngày 2/3/1993 của Chính phủ quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ [26]. Căn cứ Chỉ thị số 30/1998 CT – TTg ngày 01/9/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc điều chỉnh chủ trương phân ban ở phổ thông trung học và đào tạo hai giai đoạn ở đại học [9].

Căn cứ vào quy chế đào tạo đại học và cao đẳng của Vụ trưởng Vụ Đại học. Theo quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (Ban hành kèm theo Quyết định số 25 /2006/QĐ - BGD & ĐT ngày 26 tháng 6 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) [4] Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng 1. Quy chế này quy định đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy về tổ chức đào tạo; kiểm tra và thi học phần; thi tốt nghiệp và công nhận tốt nghiệp.

Quy chế này áp dụng đối với sinh viên các khóa đào tạo hệ chính quy ở các trình độ đại học và cao đẳng trong các đại học, học viện, trường đại học và trường cao đẳng (sau đây gọi tắt là trường), thực hiện theo học chế mềm dẻo kết hợp niên chế với học phần. Chương trình giáo dục đại học 1. Chương trình giáo dục đại học (sau đây gọi tắt là chương trình) thể hiện mục tiêu giáo dục đại học; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục đại học, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi môn học, ngành học, trình độ đào tạo của giáo dục đại học. Chương trình được các trường xây dựng trên cơ sở chương trình khung do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

Mỗi chương trình khung tương ứng với một ngành đào tạo ở một trình độ đào tạo cụ thể. Mỗi chương trình có thể gắn với một ngành hoặc với một vài ngành đào tạo. Chương trình được cấu trúc từ các học phần thuộc hai khối kiến thức: giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp. Học phần và đơn vị học trình 1.

Học phần là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho người học tích luỹ trong quá trình học tập. Phần lớn học phần có khối lượng từ 2 đến 5 đơn vị học trình, được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kỳ. Kiến thức trong mỗi học phần phải gắn với một mức trình độ theo năm học thiết kế và được kết cấu riêng như một phần của môn học hoặc được kết cấu dưới dạng tổ hợp từ nhiều môn học. Từng học phần phải được ký hiệu bằng một mã riêng do trường quy định.

Có hai loại học phần: học phần bắt buộc và học phần tự chọn. Học phần bắt buộc là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức chính yếu của mỗi chương trình và bắt buộc sinh viên phải tích lũy. Học phần tự chọn là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức cần thiết nhưng sinh viên được tự chọn theo hướng dẫn của trường nhằm đa dạng hoá hướng chuyên môn hoặc được tự chọn tuỳ ý để tích luỹ đủ số học phần quy định cho mỗi chương trình. Đơn vị học trình được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên.

Một đơn vị học trình được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết; bằng 30-45 tiết thực hành, thí nghiệm hay thảo luận; bằng 45-90 giờ thực tập tại cơ sở; hoặc bằng 45-60 giờ làm tiểu luận, đồ án, khoá luận tốt nghiệp. Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một đơn vị học trình sinh viên phải dành ít nhất 15 giờ chuẩn bị cá nhân. Hiệu trưởng các trường quy định cụ thể số tiết, số giờ đối với từng học phần cho phù hợp với đặc điểm của trường mình. Một tiết học được tính bằng 45 phút.

Đánh giá học phần 1. Các học phần chỉ có lý thuyết hoặc có cả lý thuyết và thực hành: Điểm tổng hợp đánh giá học phần (gọi tắt là điểm học phần) bao gồm: điểm kiểm tra thường xuyên trong quá trình học tập, điểm đánh giá nhận thức và thái độ tham gia thảo luận, điểm đánh giá phần thực hành, điểm chuyên cần, điểm thi giữa học phần, điểm tiểu luận và điểm thi kết thúc học phần, trong đó điểm thi kết thúc học phần là bắt buộc cho mọi trường hợp và phải có trọng số không dưới 50% của điểm học phần. Việc lựa chọn các hình thức đánh giá bộ phận và trọng số của các điểm đánh giá bộ phận cũng như cách tính điểm tổng hợp đánh giá học phần do giảng viên đề xuất, được Hiệu trưởng phê duyệt và phải được quy định trong đề cương chi tiết của học phần. Các học phần thực hành: sinh viên phải tham dự đầy đủ các bài thực hành.

Trung bình cộng điểm của các bài thực hành trong học kỳ được làm tròn đến phần nguyên là điểm học phần loại này. Giảng viên trực tiếp ra đề thi, đề kiểm tra và cho điểm đánh giá bộ phận, trừ bài thi kết thúc học phần. Tổ chức kỳ thi kết thúc học phần. Cuối mỗi học kỳ, trường tổ chức một kỳ thi chính và một kỳ thi phụ để thi kết thúc học phần.

Kỳ thi phụ dành cho sinh viên không tham dự kỳ thi chính 17 hoặc có điểm học phần dưới 5 sau kỳ thi chính. Kỳ thi phụ được tổ chức sớm nhất là hai tuần sau kỳ thi chính. Thời gian dành cho ôn thi mỗi học phần tỷ lệ thuận với số đơn vị học trình của học phần đó và được tính ít nhất nửa ngày cho mỗi đơn vị học trình. Hiệu trưởng quy định cụ thể thời gian dành cho ôn thi và thời gian thi cho các kỳ thi.

Ra đề thi, hình thức thi, chấm thi, số lần được dự thi kết thúc học phần: 1. Đề thi phải phù hợp với nội dung học phần đã quy định trong chương trình. Việc ra đề thi hoặc lấy từ ngân hàng đề thi được thực hiện theo quy định của Hiệu trưởng. Hình thức thi kết thúc học phần có thể là thi viết (trắc nghiệm hoặc tự luận), vấn đáp, viết tiểu luận, làm bài tập Điều 13.

Cách tính điểm kiểm tra, điểm thi, điểm trung bình chung và xếp loại kết quả học tập 1. Điểm đánh giá bộ phận và điểm học phần được chấm theo thang điểm 10 (từ 0 đến 10), làm tròn đến phần nguyên. Điểm trung bình chung học tập: a) Công thức tính điểm trung bình chung học tập như sau: ∑ai. ni A=N Trong đó: A là điểm trung bình chung học tập hoặc điểm trung bình chung các học phần tính từ đầu khóa học ai là điểm của học phần thứ i ni là số đơn vị học trình của học phần thứ i N là tổng số học phần.

18 Điểm trung bình chung học tập của mỗi học kỳ, mỗi năm học, mỗi khoá học và điểm trung bình chung tất cả các học phần tính từ đầu khoá học được tính đến hai chữ số thập phân. b) Kết quả các học phần giáo dục quốc phòng, giáo dục thể chất và kết quả kỳ thi tốt nghiệp đối với các môn khoa học Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh không tính vào điểm trung bình chung học tập của học kỳ, năm học hay khoá học. Việc đánh giá kết quả và điều kiện cấp chứng chỉ đối với các học phần này theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ