Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn chuyên ngành Hán Nôm (mã số 62.01) của tác giả Đỗ Thị Bích Tuyển, với đề tài "Nghiên cứu chữ Nôm khắc trên bia đá (từ thế kỷ XII đến đầu thế kỷ XX)", được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trịnh Khắc Mạnh và TS. Nguyễn Thị Lâm (bảo vệ năm 2013).

Văn bia Hán Nôm là loại hình văn bản có niên đại tương đối chính xác, cung cấp nguồn dữ liệu xác thực phục vụ nghiên cứu lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ văn tự. Tuy nhiên, trước thời điểm luận án thực hiện, các công trình khảo cứu phần lớn chỉ tập trung vào văn bia chữ Hán hoặc tiếp cận chữ Nôm trên văn bia ở phạm vi hẹp (từng di tích, từng thời đoạn lịch sử hoặc từng thể loại riêng lẻ). Luận án giải quyết khoảng trống học thuật về một công trình nghiên cứu toàn diện, mang tính hệ thống đối với toàn bộ chữ Nôm khắc trên bia đá trải dài từ thế kỷ XII đến đầu thế kỷ XX.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định gồm các nội dung:

  1. Hệ thống hóa và nghiên cứu đặc trưng của văn bia khắc chữ Nôm từ thế kỷ XII đến đầu thế kỷ XX theo hai chiều kích không gian và thời gian trên cơ sở lựa chọn các văn bia tiêu biểu từ các địa phương.
  2. Thống kê, phân loại cấu trúc chữ Nôm trên văn bia thành hệ thống 15 tiểu loại; từ đó rút ra các đặc điểm và quy luật diễn biến về tự dạng, cấu trúc chữ Nôm qua từng thời kỳ lịch sử.
  3. Khảo sát ngữ âm và từ vựng tiếng Việt lịch sử (tổ hợp phụ âm đầu cổ, âm đầu tiền Hán Việt, vần cổ, từ cổ, địa danh và nhân danh thuần Việt) dựa trên cứ liệu chữ Nôm trên văn bia.
  4. Cung cấp bộ tiêu chí văn tự và hệ thống mã chữ Nôm có niên đại chuẩn xác nhằm phục vụ công tác giám định niên đại văn bản Hán Nôm, đồng thời hỗ trợ đính chính các dị bản viết sai trong văn bản Nôm khắc in và chép tay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tập trung vào 1.500 thác bản văn bia có chữ Nôm hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (bao gồm 1.395 văn bia chữ Hán có khắc xen kẽ chữ Nôm và 105 văn bia hoàn toàn bằng chữ Nôm); hệ thống 3.391 mã chữ Nôm khảo sát được trên 1.500 văn bia này; cùng một số văn bản Nôm khắc in và chép tay có niên đại rõ ràng dùng để đối chiếu, so sánh.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát văn bia rải rác tại các tỉnh miền núi phía Bắc (Hà Giang, Lạng Sơn, Tuyên Quang...), các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ (Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình...) đến miền Nam Trung Bộ (Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam). Khu vực phía Nam chưa tìm thấy văn bia có chữ Nôm trong kho thác bản đầu thế kỷ XX.
  • Phạm vi thời gian: Kéo dài gần 8 thế kỷ, từ niên đại sớm nhất xác định được có chữ Nôm là năm Thiên Phù Duệ Vũ thứ 2 đời Lý Nhân Tông (1121) cho đến giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX (1950).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã điểm lại các công trình nghiên cứu đi trước và phân chia thành bốn nhóm hướng tiếp cận chính:

  1. Các công trình khảo cứu, giới thiệu văn bia chữ Nôm:

    • Nguyễn Thị Trang (1987) giới thiệu 18 văn bia Nôm chùa Phật Giáo (Thanh Trì, Hà Nội), xác định niên đại các bia Hậu Nôm không ghi năm.
    • Hiền Lương và Bạch Văn Luyến (1988) phiên âm, giới thiệu 14 bài thơ Nôm và 1 bài văn Nôm tại hang Trầm (Chương Mỹ, Hà Nội).
    • Nguyễn Quang Hồng (chủ biên, 1993) trong phụ lục cuốn Văn khắc Hán Nôm Việt Nam giới thiệu 10 bài thơ Nôm (8 bài khắc trên đá, 2 bài trên biển gỗ).
    • Nguyễn Tá Nhí (chủ biên, 1993) trong Văn bia Hà Tây giới thiệu 4 bài thơ Nôm vách đá chùa Tuyết Sơn; và bài viết năm 2003 giới thiệu bài văn xuôi Nôm Hậu thần bi ký của Đoàn Đình Kim niên đại Cảnh Hưng 41 (1780).
    • Trương Đức Quả (1994, 1996, 2002) giới thiệu văn bia Nôm chùa Hồng Liên, công bố 10 bài văn xuôi Nôm mới sưu tầm và khảo sát 2 bài thơ Nôm thời Lê của Trịnh Doanh.
    • Trịnh Khắc Mạnh và Trương Đức Quả (1994) khảo sát 23 thác bản văn bia Nôm tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, chỉ ra sự chênh lệch giữa văn bia thơ Nôm (21 bản) và văn xuôi Nôm (2 bản).
    • Vũ Thị Lan Anh giới thiệu bia chùa Mụa niên đại Bảo Đại 17 (1942); Nguyễn Thị Nguyệt (2002) khảo sát 2 bia thơ Nôm núi Con Mèo (Quảng Ninh); Nguyễn Quốc Khánh (2004) giới thiệu bài văn diễn Nôm đền Bạch Mã; Nguyễn Hoàng Quý (2005) công bố bia Hậu Hóa (1943); Nguyễn Đình Hưng (2006) giới thiệu thơ Nôm chùa Hang (Thái Nguyên).
    • Trịnh Khắc Mạnh (2008) trong Một số vấn đề về văn bia Việt Nam công bố danh mục 104 văn bia chữ Nôm (có 6 biển gỗ), xác định khung niên đại từ năm 1486 (bài Ngự đề chùa Muống) đến năm 1950 (bia chùa Vĩnh Quỳnh).
  2. Các công trình sử dụng chữ Nôm trên văn bia nghiên cứu nguồn gốc, cấu tạo và diễn biến:

    • Đào Duy Anh (1975) trong Chữ Nôm, nguồn gốc cấu tạo và diễn biến khảo sát bia Báo Ân thiền tự bi ký (1210), ghi nhận hơn 20 chữ Nôm và khẳng định quy cách chữ Nôm thời Lý Cao Tông đã hoàn chỉnh.
    • Lê Văn Quán (1981) trong Nghiên cứu về chữ Nôm dẫn bia Phụng Thánh phu nhân Lê thị mộ chí (1173) với 8 mã chữ Nôm (Bà Cảm, Đầu Đình, Cửa Ngõ, Bến Sông), coi đây là chứng tích xưa nhất thời Lý.
    • Nguyễn Quang Hồng (2008) trong Khái luận văn tự học chữ Nôm khảo sát 5 văn bia thời Lý sớm hơn bia Báo Ân thiền tự, trong đó sớm nhất là Cổ Việt thôn Diên Phúc tự bi minh (1113), đưa ra nhận định chữ Nôm xuất hiện muộn nhất vào đầu thế kỷ XII.
  3. Các công trình xây dựng mô hình phân loại chữ Nôm:

    • Nguyễn Tài Cẩn (1976) xác lập mô hình lưỡng phân (Chữ mượn Hán và Chữ tự tạo) gồm 10 loại nhỏ.
    • Lê Văn Quán (1981) chia 2 loại lớn (Chữ sẵn có và Chữ sáng tạo) thành 14 loại.
    • Trần Xuân Ngọc Lan (1985) chia 3 loại lớn thành 21 loại dựa trên Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa.
    • Nguyễn Ngọc San chia 2 loại lớn (Chữ dựa âm và Chữ không dựa âm) thành 14 loại.
    • Nguyễn Quang Hồng (2008) chia 2 loại lớn thành 13 loại cấu trúc.
  4. Các bài viết, chuyên luận khảo sát chữ Nôm trên văn bia:

    • Trương Đức Quả (1995) khảo sát diễn biến chữ "cửa" từ thế kỷ XII đến đầu thế kỷ XX.
    • Đỗ Thị Bích Tuyển (2002) khảo sát chữ Nôm trên 83 văn bia chợ từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XX.
    • Trần Thu Hường (2004) nghiên cứu chữ Nôm trên văn bia đình làng Bắc Bộ thế kỷ XVII.
    • Trần Thị Giáng Hoa thống kê 28 văn bia thời Lý - Trần với 72 mã chữ Nôm chia làm 6 loại.
    • Đinh Khắc Thuân khảo cứu chữ Nôm trên văn bia thời Lê (thế kỷ XV - XVIII) với bảng tra 144 mã chữ.
    • Nguyễn Thị Hường (2004) khảo cứu 104 văn bia chữ Nôm từ thế kỷ XV đến thế kỷ XX theo 14 tiểu loại cấu trúc.

Khoảng trống nghiên cứu và vị trí của luận án: Các nghiên cứu trước đây chỉ tiếp cận từng phân đoạn thời gian hoặc khảo cứu trên quy mô dữ liệu giới hạn. Luận án của Đỗ Thị Bích Tuyển là công trình đầu tiên mở rộng quy mô khảo sát lên 1.500 văn bia, xác lập hệ thống 3.391 mã chữ Nôm, đồng thời xác định tấm bia có chữ Nôm sớm nhất hiện biết là bia Đại Việt quốc Lý gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi (1121) với cách ghi tên sông "Hà Lô" theo ngữ pháp tiếng Việt.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

  • Khái niệm Văn bia: Bài văn khắc trên chất liệu đá, tồn tại dưới hai dạng thức hình thể chính là bia ma nhai (khắc vào vách núi đá) và bia đá hình khối (dựng ở chùa, đình, đền, miếu, lăng mộ...).
  • Khái niệm Văn bia có chữ Nôm: Bao gồm hai nhóm:
    1. Văn bia chữ Hán có chữ Nôm: Văn bản chính viết bằng chữ Hán nhưng có khắc xen kẽ các chữ Nôm để ghi tên đất, tên người, tên vật dụng, đơn vị đo lường thuần Việt.
    2. Văn bia chữ Nôm: Văn bản hoàn chỉnh được soạn thảo và khắc hoàn toàn bằng chữ Nôm (gồm thể thơ Nôm và văn xuôi Nôm).
  • Mô hình phân loại cấu trúc: Tiếp thu mô hình phân loại lưỡng phân của Nguyễn Tài Cẩn, luận án xây dựng hệ thống phân loại cấu trúc chữ Nôm trên văn bia thành 2 nhóm lớn và 15 tiểu loại.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp văn bản học: Giám định niên đại thác bản văn bia dựa trên lạc khoản, dòng ghi người soạn/khắc, sự kiện lịch sử, tình trạng khắc lại/tục khắc, và đặc biệt là hệ thống chữ kiêng húy (như luật kiêng húy đời Trần đối với các chữ Nguyệt, Càn, Nam).
  • Phương pháp định lượng: Thống kê số lượng, tần suất xuất hiện và tỷ lệ phần trăm của 3.391 mã chữ Nôm qua từng giai đoạn lịch sử (đồng đại và lịch đại), so sánh giữa các thời kỳ và đối chiếu với văn bản Nôm khắc in, chép tay.
  • Phương pháp văn tự học: Phân tích tự dạng, các thành tố biểu âm, thành tố biểu ý, ký hiệu phụ và các phương thức ghép mã chữ Nôm trong suốt tiến trình gần 8 thế kỷ.
  • Phương pháp liên ngành: Vận dụng kiến thức ngữ văn học, văn hóa học, dân tộc học, địa danh học và nhân danh học để giải mã nội dung văn bản và từ ngữ cổ.
  • Phương pháp điền dã thực địa: Trực tiếp khảo sát bia đá tại địa phương nhằm kiểm tra hiện trạng mặt bia, đối chiếu các vị trí bị đục mờ, tẩy xóa trên thác bản lưu trữ so với bia đá nguyên gốc.

Nguồn dữ liệu

Nguồn ngữ liệu gồm 1.500 thác bản văn bia tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm:

Nguồn phân loại Văn bia chữ Hán có chữ Nôm Văn bia chữ Nôm Tổng số
Thác bản sưu tầm đợt 1 (EFEO đầu thế kỷ XX) 1.379 41 1.419
Thác bản sưu tầm đợt 2 (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) 16 64 81
Tổng cộng 1.395 105 1.500

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các bài viết, công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này tổng kết toàn diện lịch sử nghiên cứu chữ Nôm trên văn bia qua 4 mảng đề tài: khảo cứu giới thiệu văn bản mới; sử dụng chữ Nôm văn bia để xác định nguồn gốc chữ Nôm; các mô hình lý thuyết phân loại văn tự Nôm; và các công trình chuyên khảo về chữ Nôm trên văn bia. Luận án chỉ ra ưu thế vượt trội của văn bia về tính xác thực của niên đại so với văn bản chép tay, xác lập cơ sở kế thừa có chọn lọc các kết quả đi trước để triển khai khảo cứu hệ thống 1.500 văn bia.

Chương 2: Đặc trưng của văn bia khắc chữ Nôm

Chương 2 trình bày các khái niệm công cụ, phân tích đặc trưng của văn bia khắc chữ Nôm qua các thời kỳ lịch sử về mặt thể loại, không gian, thời gian và tác giả:

  • Thời kỳ Lý - Trần (thế kỷ XII - XIV):

    • Khảo sát 26 văn bia có chữ Nôm (8 bia thời Lý, 18 bia thời Trần; trong đó 12 bia là bản khắc lại ở đời sau nhưng vẫn bảo lưu dấu tích văn tự cổ).
    • Tấm bia sớm nhất có chữ Nôm là Đại Việt quốc Lý gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi (1121) với cách ghi tên sông "Hà Lô" (Sông Lô).
    • Bia thời Trần xuất hiện dấu hiệu chữ kiêng húy: chữ Nguyệt viết bớt nét, chữ Càn viết thành Ma (như Ma Ni thay cho Càn Ni trên bia Sùng Nghiêm tự bi năm 1372), chữ Nam viết thành Bính. Giai đoạn này chưa có văn bia hoàn toàn bằng chữ Nôm.
  • Thời Lê sơ - Mạc (1427 - 1592):

    • Khảo sát 76 văn bia có chữ Nôm (75 bia chữ Hán có chữ Nôm, 1 bia thơ Nôm).
    • Xuất hiện bia ma nhai ghi thơ ngự chế của Lê Thái Tổ tại vùng biên cương miền núi phía Bắc có khắc địa danh Nôm "Mường Lễ" (năm 1431, 1432).
    • Xuất hiện văn bia thơ Nôm sớm nhất hiện còn: bài Ngự đề (1486) khắc trên bia đá chùa Muống (Hải Dương).
  • Thời Lê Trung hưng - Tây Sơn (thế kỷ XVII - XVIII):

    • Khảo sát 941 văn bia (847 bia thời Lê Trung hưng và 94 bia thời Tây Sơn), gồm 920 bia chữ Hán có Nôm và 21 bia chữ Nôm.
    • Văn bia phát triển nở rộ với sự xuất hiện của bia Hậu Thần, Hậu Phật, bia chợ Tam bảo, phản ánh tình hình sở hữu ruộng đất làng xã và tên các xứ đồng (Mả Tháp, Đường Cạn, Cây La Đá...).
    • Xuất hiện các văn bản văn xuôi Nôm đầu tiên: Lý đoán Đỗ Xá tu tri cổ tích bi ký (1625), Tân tạo bi ký các bức đẳng từ (1657) và bài văn xuôi Nôm hoàn chỉnh Hậu thần bi ký của Đoàn Đình Kim (1780).
    • Văn bia thời Tây Sơn xuất hiện hiện tượng đục bỏ niên hiệu Quang Trung, Cảnh Thịnh do biến động chính trị; chữ Nôm được dùng nhiều trong câu văn chữ Hán mang phong cách khẩu ngữ.
  • Thời Nguyễn (thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX):

    • Văn bia chữ Nôm chiếm số lượng áp đảo với 76/105 bia (riêng từ niên hiệu Khải Định đến Bảo Đại chiếm 53 bia); có 3 văn bia khắc song hành cả chữ Nôm và chữ Quốc ngữ. Văn bia muộn nhất ghi nhận năm 1950 tại chùa Vĩnh Quỳnh.
  • Phân tích vấn đề tác giả và hiện trạng thác bản: Khảo sát thành phần người soạn bia (vua chúa, quan lại, nhà sư, nho sinh, thứ dân), hiện tượng trùng bản giữa hai đợt sưu tầm, hiện tượng làm giả niên đại thời Lê Trung hưng (khoảng 10,30% thác bản bị ghi sai niên đại), và kết quả đối chiếu điền dã thực tế.

Chương 3: Đặc điểm và diễn biến của chữ Nôm trên văn bia

Chương này xây dựng mô hình phân loại cấu trúc gồm 15 tiểu loại áp dụng cho 3.391 mã chữ Nôm khảo sát:

HỆ THỐNG 15 TIỂU LOẠI CẤU TRÚC CHỮ NÔM THEO LUẬN ÁN:
I. Nhóm Chữ Nôm mượn chữ Hán (Chữ đơn):
   1. Tiểu loại A1: Mượn hình, mượn âm Hán Việt và nghĩa.
   2. Tiểu loại A2: Mượn hình, mượn âm Tiền Hán Việt.
   3. Tiểu loại B1: Mượn hình, mượn âm Hán Việt, bỏ nghĩa.
   4. Tiểu loại B2: Mượn hình, mượn âm Hán Việt, đọc chệch âm.
   5. Tiểu loại C:  Mượn nghĩa (dùng chữ Hán biểu ý, đọc theo âm thuần Việt).
II. Nhóm Chữ Nôm tự tạo:
   6. Tiểu loại D:   Ghép một chữ Hán với một ký hiệu phụ (dấu nháy/dấu cá...).
   7. Tiểu loại E1:  Hội âm (âm + âm) đẳng lập.
   8. Tiểu loại E2A: Hội âm chính phụ (ghi âm bằng hai mã tách rời).
   9. Tiểu loại E2B: Hội âm chính phụ (ghép hai mã âm + âm trong một khối chữ).
   10. Tiểu loại F1: Hội ý đẳng lập (ghép ý + ý đẳng lập).
   11. Tiểu loại F2: Hội ý chính phụ (ghép ý + ý chính phụ).
   12. Tiểu loại G1: Ghép âm + ý đẳng lập.
   13. Tiểu loại G2: Ghép âm + ý chính phụ.
   14. Tiểu loại H1: Bộ thủ Hán + chữ Hán biểu âm (bộ thủ có chức năng liên kết ngữ nghĩa).
   15. Tiểu loại H2: Bộ thủ Hán + chữ Nôm.
  • Các đặc điểm chủ yếu của chữ Nôm trên văn bia:
    • Bảo lưu nhiều dấu vết cổ xưa về tự dạng và cấu trúc.
    • Sử dụng phổ biến các ký hiệu phụ chỉnh âm (dấu nháy, dấu cá).
    • Tồn tại nhiều cách viết và cách đọc khác nhau cho cùng một từ ngữ.
  • Quy luật diễn biến:
    • Chuyển dịch cấu trúc: Xu hướng chuyển rõ nét từ chữ đơn (chữ mượn Hán) sang chữ ghép (chữ tự tạo); chuyển từ chữ ghép âm + âm sang ghép âm + ý.
    • Tính ổn định: Thành tố biểu âm có tính ổn định cao qua các thời kỳ lịch sử.
    • Tính chính xác hóa: Thành tố biểu ý thay đổi và gia tăng nhằm hướng tới độ chính xác cao về ngữ nghĩa của từ ngữ thuần Việt.

Chương 4: Ngữ âm và từ vựng tiếng Việt qua cứ liệu chữ Nôm trên văn bia

Chương 4 khai thác giá trị của văn bia như nguồn tư liệu lịch sử ngôn ngữ:

  • Ngữ âm tiếng Việt:
    • Bảo lưu dấu vết các tổ hợp phụ âm đầu tiếng Việt cổ (kl-, bl-, pl-, ml-...).
    • Dấu vết tiền âm tiết được ghi bằng các chữ Hán như: 阿 (A ghi tiền âm tiết: A các > gác, A giới > dưới, A lôi > trôi, A vĩ > vạy); 多 (Đa ghi tiền âm tiết: Đa ma > va, Đa mai > vai).
    • Các chữ ghi thành tố thứ nhất của tổ hợp phụ âm đầu: 个 (Cá), 巨 (Cự), 可 (Khả), 麻 (Ma).
    • Lưu giữ dấu vết phụ âm đầu tiền Hán Việt và các vần Việt cổ.
  • Từ vựng tiếng Việt:
    • Khảo sát các lớp từ nhấn mạnh về ngữ nghĩa, ngữ âm, từ địa phương.
    • Thống kê hệ thống từ cổ tiếng Việt trên 1.500 văn bia.
    • Khảo sát lớp từ thuần Việt ghi địa danh: các tên làng xóm gắn với từ "Kẻ" (Kẻ Đọ, Kẻ Sơn Lộ...), tên xứ đồng, tên bãi, tên đìa, tên ngõ xóm, tên chợ (chợ Huyện, Cầu Đơ, Quán Vung...), tên cửa biển (cửa Eo).
    • Khảo sát từ thuần Việt ghi nhân danh: cách dùng các từ xưng hô, định danh cổ như Mụ (Mụ Chưởng), Ả (Nguyễn Thị Ả), Thằng (Thằng Suy), Đồng (Đồng Hấp, Đồng Chài), cùng các tên nôm dân dã (Trong, Nỏ, Tai, Tươi...).

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Đóng góp về lý luận và học thuật:

    • Xác định mốc xuất hiện sớm nhất của chữ Nôm trên văn bia Hán Nôm có niên đại xác tín là năm 1121 (Đại Việt quốc Lý gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi).
    • Xây dựng thành công mô hình phân loại cấu trúc chữ Nôm gồm 15 tiểu loại, phản ánh đầy đủ diện mạo và cơ chế cấu tạo chữ Nôm trên văn bia.
    • Làm sáng tỏ quy luật diễn tiến cấu trúc chữ Nôm: chuyển biến từ chữ đơn sang chữ ghép, từ ghép hội âm sang ghép hình thanh (âm + ý), sự ổn định của thành tố biểu âm và sự phát triển định hướng chuẩn xác của thành tố biểu ý.
    • Cung cấp bằng chứng văn tự học khẳng định sự tồn tại của các tổ hợp phụ âm đầu, tiền âm tiết và lớp từ vựng cổ trong lịch sử phát triển của tiếng Việt.
  2. Đóng góp về thực tiễn và tư liệu:

    • Khảo sát, xử lý và hệ thống hóa danh mục 1.500 văn bia có chữ Nôm (1.395 văn bia chữ Hán có Nôm và 105 văn bia chữ Nôm).
    • Xây dựng Bảng tra 3.391 mã chữ Nôm trên văn bia theo mô hình 15 tiểu loại cấu trúc (tại Phụ lục 4 của luận án).
    • Cung cấp bộ công cụ và cứ liệu niên đại chuẩn xác giúp các nhà nghiên cứu giám định văn bản Hán Nôm, chỉnh lý các lỗi sai trong các văn bản Nôm chép tay và khắc in thời sau.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế được ghi nhận:

    • Trải qua thời gian dài và biến cố lịch sử, nhiều thác bản văn bia thời Lý - Trần bị mòn mờ, sứt vỡ hoặc vữa xi măng che lấp, gây khó khăn cho việc đọc và nhận diện chính xác một số mã chữ.
    • Nguồn tư liệu văn bia có chữ Nôm thu thập được tập trung chủ yếu ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ; kho thác bản đầu thế kỷ XX của EFEO chưa ghi nhận được văn bia có chữ Nôm tại các tỉnh phía Nam.
    • Tồn tại một tỷ lệ nhất định các văn bia thời Lê Trung hưng bị ghi sai niên đại (khoảng 10,30%) hoặc các bia thời Lý - Trần được khắc lại vào đời sau, đòi hỏi sự thận trọng cao trong việc bóc tách các lớp niên đại văn bản.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:

    • Tiếp tục điều tra điền dã nhằm bổ sung các văn bia có chữ Nôm mới phát hiện trong dân gian, đặc biệt tại khu vực miền Trung và miền Nam.
    • Mở rộng phạm vi đối chiếu chữ Nôm trên bia đá với các loại hình văn khắc khác (chuông đồng, khánh đá/đồng, biển gỗ) và các văn bản Nôm viết tay, in mộc bản cùng thời kỳ.
    • Ứng dụng hệ thống mã chữ Nôm văn bia vào việc xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa và giải mã văn bản Hán Nôm cổ.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên chuyên ngành Hán Nôm: Luận án cung cấp hệ thống phương pháp luận văn bản học và văn tự học chuẩn mực; bộ Bảng tra 3.391 mã chữ Nôm (Phụ lục 4) và danh mục 1.500 văn bia (Phụ lục 1, 2) là tài liệu tra cứu trực tiếp phục vụ giải mã văn bản.
  • Đối với giới nghiên cứu Ngôn ngữ học lịch sử và Việt ngữ học: Cung cấp nguồn cứ liệu nguyên gốc, có niên đại chuẩn xác về các hiện tượng ngữ âm cổ (tổ hợp phụ âm đầu, âm đầu tiền Hán Việt, tiền âm tiết) và danh mục từ cổ tiếng Việt (Chương 4).
  • Đối với các nhà nghiên cứu Lịch sử, Văn hóa học, Địa danh học và Nhân danh học: Nguồn tư liệu về tên đất, tên làng (Kẻ), tên xứ đồng, tên chợ và nhân danh thuần Việt trong luận án phản ánh chân thực đời sống kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của làng xã Việt Nam thời trung - cận đại.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định văn bia nào có niên đại sớm nhất chứa chữ Nôm và chữ Nôm xuất hiện dưới dạng thức nào?
Luận án xác định văn bia có chữ Nôm sớm nhất là Đại Việt quốc Lý gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi, dựng năm Thiên Phù Duệ Vũ thứ 2 (1121) đời Lý Nhân Tông tại chùa Long Đọi (Hà Nam). Chữ Nôm xuất hiện dưới dạng 2 chữ Hán 河瀘 (Hà Lô) mượn để ghi tên sông Lô theo trật tự cú pháp tiếng Việt ("Sông Lô").

2. Tiêu chí phân biệt giữa "văn bia có chữ Nôm" và "văn bia chữ Nôm" trong luận án là gì?

  • Văn bia chữ Hán có chữ Nôm (1.395 bản): Là văn bản viết bằng chữ Hán, trong đó có khắc xen kẽ một số chữ Nôm đơn lẻ để ghi tên người, tên đất, tên xứ đồng, tên vật dụng hoặc đơn vị đo lường thuần Việt.
  • Văn bia chữ Nôm (105 bản): Là văn bản hoàn chỉnh được soạn thảo và khắc toàn bộ bằng chữ Nôm, bao gồm thể loại thơ Nôm (như bài Ngự đề năm 1486) và văn xuôi Nôm (như Lý đoán Đỗ Xá... năm 1625, Hậu thần bi ký năm 1780).

3. Hệ thống phân loại cấu trúc chữ Nôm của luận án gồm bao nhiêu tiểu loại và phát triển từ mô hình nào?
Hệ thống gồm 15 tiểu loại (A1, A2, B1, B2, C, D, E1, E2A, E2B, F1, F2, G1, G2, H1, H2), được phát triển trên cơ sở kế thừa mô hình phân loại lưỡng phân (Chữ mượn Hán và Chữ tự tạo) của GS. Nguyễn Tài Cẩn, kết hợp với khảo sát thực tế trên 3.391 mã chữ Nôm thu thập từ 1.500 văn bia.

4. Luận án sử dụng tiêu chí văn bản học nào để nhận diện văn bia thời Trần nguyên bản?
Luận án căn cứ vào quy định kiêng húy đời Trần (ban hành từ năm 1232 thời Trần Thái Tông) xuất hiện trên văn bia: chữ Nguyệt (月) viết bớt nét, chữ Càn (乾) viết thành Ma (麻), chữ Nam (南) viết thành Bính (丙). Những văn bia tuân thủ quy tắc kiêng húy này được xác định là văn bản nguyên gốc khắc đúng thời Trần; những bia không kiêng húy thường là bia được đời sau khắc lại.

5. Chữ Nôm trên văn bia phản ánh những dấu vết ngữ âm tiếng Việt cổ nào?
Cứ liệu văn bia phản ánh dấu vết các tổ hợp phụ âm đầu cổ (kl-, bl-, pl-, ml-...), các tiền âm tiết được ghi bằng chữ 阿 (A) và 多 (Đa), các ký tự ghi thành tố thứ nhất của phụ âm đầu ghép như 个 (Cá), 巨 (Cự), 可 (Khả), 麻 (Ma), cùng dấu vết phụ âm đầu tiền Hán Việt và các khuôn vần Việt cổ.


Kết luận

Luận án của Đỗ Thị Bích Tuyển là công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về chữ Nôm khắc trên bia đá Việt Nam từ thế kỷ XII đến đầu thế kỷ XX dựa trên khối tư liệu đồ sộ gồm 1.500 thác bản văn bia. Bằng việc xác lập hệ thống 15 tiểu loại cấu trúc phân tích 3.391 mã chữ Nôm, công trình đã làm sáng tỏ quy luật hình thành, diễn biến tự dạng và cấu trúc của chữ Nôm trong tiến trình lịch sử. Đồng thời, luận án đã khai thác xuất sắc giá trị của văn khắc đá như một nguồn ngữ liệu chuẩn xác về niên đại để chứng minh sự phát triển của ngữ âm, từ vựng tiếng Việt lịch sử và phục vụ hiệu quả cho công tác giám định văn bản học Hán Nôm.