Phần Mở đầu, Phần Kết luận, nội dung luận án chia làm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan những bài viết, công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chƣơng 2: Đặc trƣng của văn bia khắc chữ Nôm Chƣơng 3: Đặc điểm và diễn biến của chữ Nôm trên văn bia Chƣơng 4: Ngữ âm và từ vựng tiếng Việt qua cứ liệu chữ Nôm trên văn bia Phần phụ lục Phụ lục 1: Danh mục 1.395 văn bia có chữ Nôm xếp theo niên đại Phụ lục 2: Danh mục 105 văn bia chữ Nôm xếp theo niên đại Phụ lục 3: 10 ảnh minh họa thác bản văn bia có chữ Nôm và văn bia Nôm Phụ lục 4: Bảng tra 15 loại chữ Nôm trên văn bia theo mô hình phân loại cấu trúc. 14 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Nhận thức đƣợc giá trị của chữ Nôm trên văn bia có thể dùng làm tiêu chí đáng tin cậy để giám định các văn bản Hán Nôm, nên các nhà nghiên cứu Hán Nôm, nghiên cứu lịch sử, văn hóa đã đặc biệt quan tâm đến loại hình văn bản này. Có ngƣời đã bỏ nhiều công sức khảo cứu giới thiệu văn bia chữ Nôm mới đƣợc phát hiện; nhiều ngƣời sử dụng chữ Nôm trên văn bia để chứng minh cho các luận điểm của mình về nguồn gốc cấu tạo của chữ Nôm; lại có ngƣời chuyên sâu vào khảo sát loại hình văn bản đặc biệt này để tìm ra những giá trị đích thực của nó. Trong phần này, chúng tôi giới thiệu tổng quan và phân tích các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án nhƣ sau: 1.
Những công trình khảo cứu, giới thiệu văn bia chữ Nôm Văn bia chữ Nôm từ trƣớc tới nay đã thu hút đƣợc nhiều sự quan tâm của những ngƣời làm công tác nghiên cứu Hán Nôm. Việc công bố giới thiệu văn bản phát hiện mới cũng luôn đƣợc chú trọng. Có thể kể nhƣ: - Nguyễn Thị Trang: Mười tám tấm bia Nôm ở chùa Phật giáo, TCHN, số 1 - 1987, đã giới thiệu 18 văn bia chữ Nôm ở chùa Phật Giáo xã Vĩnh Quỳnh huyện Thanh Trì, Hà Nội có nội dung bầu Hậu. Qua bài viết, tác giả đã xác định niên đại của 6 tấm bia Hậu Nôm không ghi niên đại cũng có niên đại cùng thời với những văn bia có niên đại 1943, 1944 và tác giả qua việc đi thực địa địa phƣơng nên đã có nhận định đó là những văn bia cùng do một ngƣời soạn và ngƣời đó vẫn còn sống (tính đến thời điểm tác giả viết bài).
- Hiền Lƣơng - Bạch Văn Luyến: Một số bài thơ Nôm khắc ở vách đá trong hang Trầm, TCHN, số 1 – 1988, đã phiên âm, giới thiệu 14 bài thơ Nôm, 1 văn văn Nôm khắc trên vách đá hang Trầm huyện Chƣơng Mỹ, Hà Nội có 15 niên đại đầu thế kỷ XX. Tác giả giới thiệu về một địa điểm còn lƣu lại đƣợc dấu tích của nhiều bài thơ Nôm khắc trên đá. - Phần Phụ lục cuốn Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Nguyễn Quang Hồng chủ biên, năm 1993, đã phiên âm giới thiệu 10 bài thơ Nôm, trong đó 8 bài đƣợc khắc trên bia đá và 2 bài khắc trên biển gỗ. 8 bài bao gồm: Bài Ngự đề (đƣợc cho là của Lê Thánh Tông); 1 bài của Trịnh Sâm trên bia chùa Tuyết Sơn đề năm Canh Dần (1770); 2 bài ở đền Tản Viên Sơn (triều Nguyễn); 3 bài ở động Tam Thanh (triều Nguyễn); 2 bài ở núi Non Nƣớc (triều Nguyễn).
- Văn bia Hà Tây, Nguyễn Tá Nhí chủ biên, năm 1993, có phiên âm, chú thích, giới thiệu 4 bài thơ Nôm khắc trên vách đá chùa Tuyết Sơn (làng Phú Yên xã Hƣơng Sơn huyện Mĩ Đức, Hà Nội). Tác giả đã phân tích, giới thiệu niên đại của 4 văn bia Nôm, trong đó có 1 bài thơ Nôm của chúa Trịnh Sâm đề năm Canh Dần (1770); 1 bài của nhà sƣ trụ trì họa lại bài thơ của Trịnh Sâm; 1 bài cũng họa lại bài thơ của Trịnh Sâm đề năm Tân Tỵ niên hiệu Bảo Đại (1941) của tác giả Nguyễn Minh Côi làm Thông sự ở Viện Canh Nông, 1 bài không rõ tác giả. - Trƣơng Đức Quả: Tấm bia Nôm chùa Hồng Liên, TCHN, số 4 – 1994, giới thiệu bài văn Nôm ở chùa Hồng Liên thuộc gia đình họ Nguyễn thôn Tây Mỗ xã Tây Mỗ huyện Từ Liêm, Hà Nội. Tác giả nhận định, chữ Nôm trên văn bia này phản ánh đặc điểm chung của chữ Nôm cuối thời Nguyễn, tuy nhiên cũng lƣu đƣợc một vài dấu tích của chữ Nôm cổ và một số hiện tƣợng dùng chữ Hán có phụ âm “l” để ghi từ Việt “n”.
- Trịnh Khắc Mạnh - Trƣơng Đức Quả: Về những thác bản văn khắc chữ Nôm ở Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, TCHN, 2 – 1994, đã giới thiệu 23 thác bản văn bia Nôm hiện đƣợc lƣu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, trong đó 21 thác bản khắc bằng thơ, chỉ có 2 thác bản khắc bằng văn xuôi. Đây là bài viết mang tính khởi phát, quan tâm cụ thể đến vấn đề những bài văn bia toàn bằng Nôm. Trong bài viết này, hai tác giả đã đƣa ra tình trạng chênh chệch và số lƣợng giữa thơ và văn xuôi của văn bia toàn Nôm. 16 - Trƣơng Đức Quả: Về một số văn bia Nôm mới được sưu tầm trong những năm gần đây, TCHN, số 3 – 1996, đã chọn giới thiệu thêm 10 bài văn bia Nôm viết bằng văn xuôi mới đƣợc sƣu tầm để bổ sung cho sự thiếu hụt về tƣ liệu văn xuôi Nôm trƣớc đó.
- Vũ Thị Lan Anh: Giới thiệu tấm bia chữ Nôm chùa Mụa mới sưu tầm. Tác giả giới thiệu về tấm bia hậu Nôm ghi việc cúng tiến công đức cho chùa. Văn bia có niên đại năm Bảo Đại thứ 17 (1942). Tác giả chỉ phiên âm, giới thiệu, cung cấp tƣ liệu, chứ chƣa có nhận định về chữ Nôm trong văn bản.
- Nguyễn Thị Nguyệt: Về hai tấm bia chữ Nôm khắc trên vách đá núi Con Mèo, TBHNH năm 2002. Tác giả giới thiệu 2 bài thơ Nôm đƣợc khắc trên hai tấm bia ở núi Con Mèo thuộc thôn Đồn Sơn, xã Yên Đức, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, trong đó có một bài của Hoàng đế Nhân Tông triều Trần đề thơ vào mùa xuân năm Trùng Hƣng thứ 8 (1292); một bài của Tuần phủ trí sĩ Trần Văn Đại kính hoạ vào cuối mùa đông năm Bảo Đại thứ 12 (1937). Qua việc phân tích giới thiệu nội dung hai văn bia, tác giả cho rằng hai chữ “Nhân Tôn” cho biết tấm bia do ngƣời đời sau chạm khắc để tỏ lòng tôn kính hoàng thƣợng, trên bia không có tên ngƣời viết chữ, không có tên ngƣời khắc bia không có niên đại tạc bia. Đây là những văn bia chữ Nôm rất có giá trị, theo chúng tôi có lẽ bia đƣợc khắc vào triều vua Bảo Đại, cùng thời với tấm bia khắc bài thơ họa của Tuần phủ Trần Văn Đại.
- Trƣơng Đức Quả: Về hai bài thơ Nôm thời Lê khắc trên bia đá, TBHNH năm 2002, giới thiệu hai bài thơ Nôm của Trịnh Doanh khen tặng cho Đài công họ Nguyễn, Trấn thủ xứ Sơn Nam, Chánh thủ hiệu, Cai cơ cơ Trung dực kiêm quản đội Thiện trung, Thiếu phó, tƣớc Lãng Trung hầu. Hai bài thơ Nôm có niên đại xuất xứ rõ ràng vào những năm cuối triều Lê Trung hƣng, nên cũng ít cung cấp tƣ liệu cho việc nghiên cứu ở nhiều khía cạnh trong đó có vấn đề về chữ Nôm. - Nguyễn Tá Nhí: Bài ký của Hữu để điểm Đoàn Đình Kim, TCHN, số 5 - 2003, giới thiệu bài ký bằng chữ Nôm có niên đại Cảnh Hƣng thứ 41 (1780). Đây là bài văn xuôi Nôm viết theo lối tự sự, không dùng điển cổ, không viết 17 theo lối biền ngẫu thông dụng thời bấy giờ.
Tác giả khảo sát và nhận định rằng, bài ký tuy có dùng nhiều từ Hán Việt, thậm chí có cả đoạn viết bằng Hán văn, song đây là những từ thông dụng gần gũi với cuộc sống nên dễ hiểu. Qua việc giới thiệu thêm một trƣờng hợp viết theo lối văn nhƣ vậy, tác giả cho rằng đây là lối văn Nôm thƣờng gặp trong giai đoạn thế kỷ XVIII. Bài ký này có thể xem là bài văn xuôi Nôm vào loại sớm nhất hiện còn. - Nguyễn Quốc Khánh: Thêm một tấm bia diễn Nôm vừa sưu tầm, TBHNH năm 2004, giới thiệu một bài văn diễn Nôm có niên đại Bảo Đại khắc trên bia ở đền Bạch Mã, phố Hàng Buồm, phƣờng Hàng Buồm, thành phố Hà Nội.
- Nguyễn Hoàng Quý: Góp thêm một loại hình bia Hậu, TBHNH năm 2005, giới thiệu một bia Hậu Nôm, gọi là Hậu Hóa soạn năm 1943 của một dòng họ công giáo ở thôn Mai Châu xã Đại Mạch huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. - Nguyễn Đình Hƣng: Ba bài thơ cổ khắc trên vách đá chùa Hang, TCHN, số 1- 2006. Trong bài này, tác giả giới thiệu hai bài thơ chữ Hán và một bài thơ bằng chữ Nôm khắc trên vách đá chùa Hang (động Tiên Lữ) thuộc huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Ngoài ra còn một số bài trên các tạp chí, các hội thảo khoa học liên quan đến chuyên ngành Hán Nôm, giới thiệu về những văn bia chữ Nôm mới đƣợc phát hiện.
Có lẽ do số lƣợng văn bia chữ Nôm chiếm tỉ lệ thấp trong kho thác bản văn bia, nên việc phát hiện ra một văn bia chữ Nôm nào đó cũng đƣợc các tác giả quan tâm, giới thiệu để bổ sung thêm số liệu cho thể loại đặc biệt này. Gần đây, Trịnh Khắc Mạnh trong Một số vấn đề về văn bia Việt Nam, năm 2008 đã giới thiệu về thực trạng thác bản văn bia có khắc có chữ Nôm và văn bia chữ Nôm hiện đang lƣu giữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm. Tác giả công bố danh mục 104 văn bia chữ Nôm (trong đó gồm 6 biển gỗ), và đƣa ra nhận định rằng: Văn bia chữ Nôm có niên đại sớm nhất vào năm 1486 với bài Ngự đề trên bia đá chùa Muống huyện Kim Thành tỉnh Hải Dƣơng, và văn bia chữ Nôm có niên đại muộn nhất là Vĩnh Ninh xã Phật giáo hội công đức bi kí, niên đại 1950, 18 khắc trên bia chùa Vĩnh Quỳnh xã Vĩnh Ninh huyện Thanh Trì, Hà Nội. Căn cứ vào nguồn tƣ liệu văn bia chữ Nôm, tác giả nhận định rằng: “Sự chính xác về niên đại và mã chữ khắc trên văn bia là một trong những ƣu điểm mà các sách Nôm, nhất là những văn bản viết tay không thể có đƣợc.