Nghiên Cứu Chữ Nôm Khắc Trên Bia Đá (Thế Kỷ XII - Đầu XX)

Nghiên cứu chữ Nôm trên bia đá (XII-XX): Khám phá lịch sử, văn hóa Việt qua các văn bản cổ. Tìm hiểu về ngôn ngữ, xã hội và tín ngưỡng thời kỳ này.

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Hán Nôm

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2013

182
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC BÀI VIẾT, CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Những công trình khảo cứu, giới thiệu văn bia chữ Nôm

1.2. Các công trình sử dụng chữ Nôm trên văn bia làm tƣ liệu nghiên cứu nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến của chữ Nôm

1.3. Các công trình nghiên cứu, giới thiệu mô hình phân loại chữ Nôm

1.4. Những bài viết, công trình khảo sát về chữ Nôm trên văn bia

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC TRƯNG CỦA VĂN BIA KHẮC CHỮ NÔM

2.1. Giải thích những khái niệm

2.2. Khái niệm về văn bia

2.3. Giới thuyết về văn bia có chữ Nôm

2.4. Khái niệm văn bia có chữ Nôm

2.5. Khái niệm văn bia chữ Nôm

2.6. Giới hạn tƣ liệu văn bia có khắc chữ Nôm

2.7. Đặc điểm về thời gian và thể loại của văn bia có khắc chữ Nôm

2.8. Thời Lê sơ - Mạc

2.9. Thời Lê Trung hƣng - Tây Sơn

2.10. Đặc điểm về không gian của văn bia có khắc chữ Nôm

2.11. Tác giả soạn văn bia khắc có chữ Nôm và một số vấn đề khác

2.12. Tác giả soạn văn bia

2.13. Một số vấn đề khác

2.14. Vấn đề trùng bản ở một số văn bia chữ Nôm

2.15. So sánh văn bia trong kho thác bản và văn bia trên thực tế

3. CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM VÀ DIỄN BIẾN CỦA CHỮ NÔM TRÊN VĂN BIA

3.1. Khái quát tình hình chữ Nôm thể hiện trên các loại hình văn bản

3.2. Thống kê, phân loại cấu trúc chữ Nôm trên văn bia

3.3. Mô hình phân loại chữ Nôm

3.4. Thống kê, phân loại cấu trúc chữ Nôm trên văn bia

3.5. Chữ Nôm mƣợn chữ Hán

3.5.1. Chữ A1: Mƣợn hình, mƣợn âm Hán Việt và nghĩa

3.5.2. Chữ A2: Mƣợn hình, mƣợn âm Tiền Hán Việt

3.5.3. Chữ B1: Mƣợn hình, mƣợn âm Hán Việt, bỏ nghĩa

3.5.4. Chữ B2: Mƣợn Hình, mƣợn âm Hán Việt, đọc chệch âm

3.5.5. Chữ C: Mƣợn nghĩa

3.6. Chữ Nôm tự tạo

3.6.1. Chữ D: Ghép một chữ Hán với một kí hiệu phụ

3.6.2. Chữ E1: Hội âm (âm + âm) đẳng lập

3.6.3. Chữ E2A: Hội âm chính phụ (ghi âm bằng hai mã tách rời)

3.6.4. Chữ E2B: Hội âm chính phụ (ghép hai mã âm + âm)

3.6.5. Chữ F1: Hội ý đẳng lập (ghép ý + ý đẳng lập)

3.6.6. Chữ F2: Hội ý chính phụ (ghép ý + ý chính phụ)

3.6.7. Chữ G1: Ghép âm + ý đẳng lập

3.6.8. Chữ G2: Ghép âm + ý (chính phụ)

3.6.9. Chữ H1: Bộ thủ Hán + chữ Hán biểu âm (bộ thủ có chức năng liên kết)

3.6.10. Chữ H2: Bộ thủ Hán + chữ Nôm

3.7. Sơ đồ phân loại chữ Nôm trên văn bia

3.8. Một số đặc điểm chủ yếu của chữ Nôm trên văn bia

3.9. Chữ Nôm trên văn bia còn bảo lƣu đƣợc nhiều dấu vết cổ

3.10. Chữ Nôm trên văn bia có nhiều chữ mang ký hiệu phụ

3.11. Chữ Nôm trên văn bia có nhiều cách đọc, cách viết

3.12. Diễn biến của chữ Nôm trên văn bia qua các thời kỳ

3.13. Diễn biến về mặt số lƣợng và tiểu loại chữ

3.14. Số lƣợng và các tiểu loại chữ trong từng thời kỳ

3.15. Diễn biến về tiểu loại chữ qua các thời kỳ

3.16. Diễn tiến về tự dạng của chữ Nôm trên văn bia qua các thời kỳ

3.17. Thành tố biểu âm trong cấu trúc chữ Nôm mang tính ổn định

3.18. Xu hƣớng chuyển từ chữ đơn sang chữ ghép (thay đổi về cấu trúc)

3.18.1. Chuyển từ chữ ghép âm + âm sang chữ âm + ý

3.18.2. Thành tố biểu ý thay đổi hƣớng tới độ chính xác cao về ý nghĩa của từ

3.19. Tiểu kết

4. CHƯƠNG 4: NGỮ ÂM VÀ TỪ VỰNG TIẾNG VIỆT QUA CỨ LIỆU CHỮ NÔM TRÊN VĂN BIA

4.1. Ngữ âm tiếng Việt thể hiện qua cách ghi bằng chữ Nôm trên văn bia

4.2. Dấu vết các tổ hợp phụ âm đầu trong tiếng Việt cổ

4.3. Dấu vết phản ánh những mối liên hệ ngữ âm trong hệ thống âm đầu tiếng Việt

4.3.1. Dấu vết phụ âm đầu tiền Hán Việt

4.4. Dấu vết vần Việt cổ

4.5. Từ vựng tiếng Việt qua cách ghi bằng chữ Nôm trên văn bia

4.6. Nhấn mạnh về ngữ nghĩa

4.7. Nhấn mạnh về ngữ âm

4.8. Ghi tiếng địa phƣơng

4.9. Ghi từ cổ tiếng Việt

4.10. Từ thuần Việt ghi tên đất, tên ngƣời

4.11. Ghi tên đất

4.12. Ghi tên ngƣời

PHẦN KẾT LUẬN

DANH MỤC BÀI VIẾT ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

1.1. Phụ lục 1: Danh mục 1395 văn bia có khắc chữ Nôm

1.2. Phụ lục 2: Danh mục 105 văn bia Nôm

1.3. Phụ lục 3: 10 ảnh minh họa thác bản văn bia có chữ Nôm và văn bia Nôm

1.4. Phụ lục 4: Bảng tra 15 loại chữ Nôm trên văn bia theo mô hình phân loại cấu trúc

Tóm tắt

I. Khám phá Di sản Chữ Nôm trên Bia đá Giá trị và Tổng quan

Nghiên cứu Chữ Nôm trên bia đá mở ra một chương quan trọng trong việc tìm hiểu lịch sử chữ Nôm Việt Nam. Bia đá, hay văn bia Hán Nôm, là một loại hình tư liệu đặc biệt, cung cấp những thông tin xác thực về lịch sử, văn hóa xã hội và đặc biệt là ngôn ngữ văn tự. Khác với các văn bản Nôm khắc in hoặc chép tay, minh văn trên bia đá có niên đại tương đối chính xác, trở thành tiêu chí đáng tin cậy để giám định và nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển của hệ thống chữ viết cổ của dân tộc. Các cứ liệu này là một phần không thể thiếu của di sản chữ Nôm, phản ánh nỗ lực tự chủ về văn tự của người Việt. Thông qua việc phân tích hàng ngàn thác bản, nghiên cứu này hệ thống hóa một nguồn di sản quý giá, cho thấy chữ Nôm không chỉ được dùng trong văn học mà còn hiện diện sâu rộng trong đời sống xã hội, từ việc ghi tên đất, tên người đến các văn bản hành chính tại các làng xã. Luận án của Đỗ Thị Bích Tuyển đã khảo sát trên 1.500 văn bia, cho thấy sự hiện diện sớm nhất của chữ Nôm trên văn bản là từ đầu thế kỷ XII. Đây là những chứng tích quan trọng, minh chứng cho một giai đoạn phát triển rực rỡ của văn hóa Việt Nam thời Lý-Trần-Lê-Nguyễn, khẳng định vị thế của chữ Nôm như một công cụ biểu đạt ngôn ngữ và tâm hồn Việt. Việc giải mã chữ Nôm cổ trên bia đá vì thế không chỉ là một công việc ngôn ngữ học mà còn là hành trình khám phá lại cội nguồn văn hóa dân tộc.

1.1. Giới thuyết về văn bia có chữ Nôm và vai trò tư liệu

Văn bia có chữ Nôm được phân thành hai loại chính. Thứ nhất là "văn bia chữ Hán có chữ Nôm", trong đó chữ Hán là chủ đạo nhưng xen kẽ một số chữ Nôm để ghi chính xác tên người, tên đất, hoặc các vật dụng thuần Việt mà chữ Hán không thể biểu đạt. Thứ hai là "văn bia chữ Nôm", tức các văn bản được khắc hoàn toàn bằng chữ Nôm. Loại hình này tuy số lượng ít hơn nhưng có giá trị đặc biệt trong việc nghiên cứu văn xuôi và thơ Nôm. Vai trò của chúng như một tư liệu Hán Nôm là vô giá, bởi chúng phản ánh trực tiếp ngôn ngữ và sinh hoạt của người dân tại các di tích lịch sử văn hóa. Theo luận án, "nhờ niên đại tương đối chính xác, nên những cứ liệu chữ Nôm trên văn bia đã trở thành những mẫu tự cần thiết cho việc nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của chữ Nôm".

1.2. Nguồn gốc chữ Nôm trên bia đá từ thế kỷ XII

Bằng chứng sớm nhất về Chữ Nôm trên bia đá được xác định là tấm bia “Đại Việt quốc Lý gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi” (1121). Tấm bia này ghi lại tên một con sông theo trật tự tiếng Việt: “Hà Lô” (河瀘), tức Sông Lô. Đây được xem là "chứng tích xưa nhất của việc sử dụng chữ Nôm trên một loại hình văn bản có niên đại được xác định". Sự xuất hiện này, dù chỉ là những đơn vị lẻ tẻ, đã cho thấy muộn nhất vào đầu thế kỷ XII, chữ Nôm đã thực sự có mặt trong các văn bản chữ Hán của người Việt. Những phát hiện này có ý nghĩa to lớn đối với khảo cổ học văn tự, giúp định vị lại thời điểm khởi đầu và quá trình phát triển của chữ Nôm trong dòng chảy lịch sử.

II. Thách thức trong việc giải mã Chữ Nôm cổ trên bia đá

Quá trình giải mã chữ Nôm cổ trên bia đá đối mặt với nhiều thách thức đáng kể. Trở ngại lớn nhất đến từ chính đặc tính của tư liệu. Bia đá qua hàng trăm năm tồn tại ngoài trời thường bị bào mòn, khiến mặt chữ mờ, mất nét, gây khó khăn cho việc nhận diện và phiên âm dịch nghĩa văn bia. Hơn nữa, hệ thống chữ viết cổ này không có một quy chuẩn thống nhất. Cùng một từ nhưng có thể có nhiều cách viết khác nhau tùy thuộc vào địa phương, thời đại và thậm chí là trình độ của người soạn văn bia và thợ khắc đá. Những biến thể này đòi hỏi nhà nghiên cứu phải có kiến thức sâu rộng về Hán học, ngữ âm lịch sử và văn hóa vùng. Bên cạnh đó, việc xác định niên đại tuyệt đối của một số văn bia cũng là một vấn đề phức tạp. Hiện tượng tục khắc (khắc thêm) hoặc phục dựng (khắc lại) bia vào các đời sau khiến cho việc phân định lớp văn tự gốc và lớp văn tự được bổ sung trở nên khó khăn. Ví dụ, một tấm bia có ghi niên đại thời Lý nhưng có thể đã được khắc lại vào thời Lê, làm thay đổi một phần tự dạng. Việc vượt qua những thách thức này đòi hỏi sự kết hợp của nhiều phương pháp nghiên cứu liên ngành, từ văn bản học, khảo cổ học văn tự đến ngôn ngữ học lịch sử, nhằm tái hiện chính xác nhất giá trị của di sản chữ Nôm.

2.1. Vấn đề niên đại và hiện tượng khắc lại văn bia

Một trong những thách thức cơ bản là xác định niên đại chính xác của văn tự. Luận án chỉ ra nhiều trường hợp bia đá được khắc lại vào các thời kỳ sau. Ví dụ, bia “Báo Ân thiền tự bi ký” (1210) tuy mang niên đại đời Lý nhưng có thể đã được khắc lại, dẫn đến những thay đổi trong cách xưng hô với vua. Tương tự, bia “Càn Ni sơn Hương Nghiêm tự bi minh” (1125) được ghi rõ là đã "tái y cựu tự khắc thạch" (theo chữ cũ khắc lại) vào năm 1726. Điều này đặt ra yêu cầu phải giám định kỹ lưỡng, đối chiếu nhiều nguồn để xác định lớp văn tự nào thuộc về giai đoạn gốc, một công việc cốt lõi trong nghiên cứu nguồn sử liệu bia ký.

2.2. Sự phức tạp trong cấu trúc và diễn biến tự dạng

Chữ Nôm trên bia đá thể hiện một sự đa dạng và phức tạp lớn về cấu trúc. Diễn biến tự dạng qua các thời kỳ không đồng đều. Giai đoạn đầu, chữ Nôm thường có cấu trúc đơn giản, chủ yếu là mượn âm hoặc mượn ý từ chữ Hán. Càng về sau, xu hướng ghép các thành tố (một thành tố chỉ âm, một thành tố chỉ nghĩa) càng trở nên phổ biến để tăng độ chính xác. Tuy nhiên, sự phát triển này không tuyến tính. Nhiều chữ cổ vẫn tồn tại song song với các dạng chữ mới được cải tiến. Sự thiếu nhất quán này làm cho việc xây dựng một hệ thống tra cứu và nhận dạng tự động trở nên vô cùng khó khăn, đòi hỏi sự phân tích thủ công tỉ mỉ của các chuyên gia.

III. Phương pháp phân loại Chữ Nôm trên bia đá hiệu quả nhất

Để hệ thống hóa và nghiên cứu sâu về Chữ Nôm trên bia đá, việc áp dụng một phương pháp phân loại khoa học là yêu cầu tiên quyết. Dựa trên các công trình đi trước của Nguyễn Tài Cẩn và các học giả khác, luận án của Đỗ Thị Bích Tuyển đã xây dựng một mô hình phân loại cấu trúc chi tiết. Phương pháp này chia toàn bộ các mã chữ Nôm khảo sát được thành hai nhóm lớn: chữ mượn Hán và chữ tự tạo. Từ đó, tiếp tục chia thành 15 tiểu loại dựa trên các tiêu chí cụ thể về cấu trúc ngữ âm và ngữ nghĩa. Cách tiếp cận này không chỉ giúp thống kê số lượng mà còn làm rõ diễn biến phát triển của chữ Nôm qua từng thời kỳ lịch sử. Chẳng hạn, phương pháp này cho phép theo dõi xu hướng chuyển từ các chữ đơn (vay mượn) sang chữ ghép (sáng tạo), hay sự thay đổi trong việc sử dụng thành tố biểu âm và biểu ý. Đây là một phương pháp luận hiệu quả, giúp biến những tư liệu Hán Nôm rời rạc thành một hệ thống có tổ chức, làm cơ sở cho các phân tích sâu hơn về ngôn ngữ và văn học trung đại Việt Nam. Kết quả của phương pháp này là một bảng tra gồm 3.391 mã chữ Nôm, một đóng góp to lớn cho ngành Hán Nôm học và việc bảo tồn di sản văn bia.

3.1. Mô hình phân loại cấu trúc Chữ mượn Hán và chữ tự tạo

Mô hình phân loại lưỡng phân là nền tảng của phương pháp nghiên cứu. Nhóm "Chữ mượn Hán" bao gồm các chữ được vay mượn trực tiếp từ chữ Hán, hoặc mượn âm đọc (giả tá), hoặc mượn nghĩa (hội ý). Nhóm "Chữ tự tạo" là những sáng tạo của người Việt, thường có cấu trúc phức tạp hơn, phổ biến nhất là loại chữ hình thanh, kết hợp một thành tố chỉ âm và một thành tố chỉ nghĩa. Ví dụ, chữ “cửa” ( cửa ) được tạo bằng cách ghép chữ “môn” 門 (nghĩa là cửa) với chữ “cử” 舉 (để gợi âm). Mô hình này giúp làm rõ tư duy tạo chữ của người Việt xưa.

3.2. Thống kê đặc điểm chữ Nôm qua các thời kỳ lịch sử

Thông qua phương pháp định lượng, nghiên cứu đã thống kê sự phân bố của các tiểu loại chữ Nôm qua từng giai đoạn, từ thời Lý-Trần đến thời Nguyễn. Kết quả cho thấy một diễn biến rõ rệt: "Xu hướng chuyển từ chữ đơn sang chữ ghép" và "chuyển từ chữ ghép âm + âm sang chữ âm + ý". Giai đoạn đầu, các chữ vay mượn chiếm tỉ lệ cao. Đến thời Lê Trung hưng và Nguyễn, các chữ tự tạo với cấu trúc âm-ý trở nên phổ biến hơn, cho thấy sự trưởng thành và chuẩn hóa dần của hệ thống chữ viết cổ này. Những số liệu này cung cấp bằng chứng khách quan về lịch sử chữ Nôm Việt Nam.

IV. Cách Chữ Nôm trên Bia đá phản ánh lịch sử tiếng Việt

Chữ Nôm trên bia đá không chỉ là một hệ thống văn tự mà còn là một kho lưu trữ quý giá về lịch sử tiếng Việt. Do chữ Nôm là một loại chữ ghi âm, cách cấu tạo và sử dụng nó trong các minh văn trên bia đá đã vô tình ghi lại những đặc điểm ngữ âm và từ vựng của tiếng Việt trong suốt gần tám thế kỷ. Việc phân tích các mã chữ Nôm này cho phép các nhà ngôn ngữ học truy vết sự biến đổi của hệ thống âm đầu, âm cuối và thanh điệu mà chữ Quốc ngữ hiện đại không thể hiện được. Đây là một nguồn dữ liệu không thể thay thế cho việc nghiên cứu lịch sử ngữ âm. Hơn nữa, bia đá còn ghi lại một lớp từ vựng thuần Việt phong phú, đặc biệt là các địa danh và nhân danh cổ. Những từ này phản ánh sâu sắc đời sống, văn hóa và xã hội của người Việt xưa, từ tên các xứ đồng, tên làng, tên các loại thuế, đến tên gọi dân dã của người dân. Nghiên cứu lớp từ vựng này giúp bổ sung những khoảng trống mà chính sử, vốn chủ yếu viết bằng chữ Hán, thường bỏ qua. Như vậy, nguồn sử liệu bia ký này chính là cầu nối trực tiếp đến ngôn ngữ và tư duy của tổ tiên, làm sống lại một phần văn hóa Việt Nam thời Lý-Trần-Lê-Nguyễn.

4.1. Dấu vết ngữ âm tiếng Việt cổ qua tư liệu bia ký

Luận án dành riêng chương 4 để phân tích các dấu vết ngữ âm. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra bằng chứng về các tổ hợp phụ âm đầu trong tiếng Việt cổ, ví dụ như 'bl', 'kl', 'ml', mà ngày nay đã biến mất. Cách người xưa dùng một chữ Hán để ghi âm cho một từ Nôm đã tiết lộ mối liên hệ ngữ âm trong quá khứ. Ví dụ, việc dùng các chữ Hán có phụ âm đầu khác nhau để ghi cùng một âm Nôm cho thấy sự biến đổi âm vị theo thời gian. Đây là những phát hiện quan trọng, góp phần xây dựng lại lịch sử ngữ âm tiếng Việt một cách khoa học.

4.2. Từ vựng thuần Việt ghi tên đất tên người trên minh văn

Chức năng ban đầu và quan trọng nhất của chữ Nôm trên bia đá là ghi lại các từ thuần Việt. Bia đá đầy rẫy những tên đất dân dã như “Đồng Trên”, “Bãi Mía”, “Cầu Đơ”, “Quán Vung”. Tên người cũng được ghi lại một cách chân thực, ví dụ như “Mụ Chưởng”, “Nguyễn Thị Ả”, “Phạm Trong”, “Nguyễn Nỏ”. Lớp từ vựng này không chỉ có giá trị về ngôn ngữ học mà còn là tư liệu quý cho các ngành nghiên cứu địa danh học, nhân danh học và văn hóa dân gian, giúp tái hiện bức tranh sinh động về đời sống làng xã Việt Nam xưa.

V. Giá trị của văn bia Hán Nôm trong nghiên cứu văn hóa

Giá trị của văn bia Hán Nôm vượt ra ngoài phạm vi ngôn ngữ học, trở thành một nguồn sử liệu bia ký không thể thiếu để nghiên cứu văn hóa và xã hội Việt Nam. Mỗi tấm bia là một di tích lịch sử văn hóa độc lập, chứa đựng những câu chuyện cụ thể về một cộng đồng, một dòng họ, hay một sự kiện tại địa phương. Nội dung văn bia vô cùng đa dạng, từ việc ghi công đức xây dựng chùa, đình, cầu, chợ, đến các văn bản khoán ước ruộng đất, giải quyết tranh chấp, hay các quy định của làng xã. Những chi tiết này cung cấp một cái nhìn vi mô, cận cảnh về đời sống thường nhật, các mối quan hệ xã hội, tín ngưỡng tôn giáo và cơ cấu kinh tế của các làng xã Việt Nam qua nhiều thế kỷ. Thông tin từ bia đá giúp bổ sung và đôi khi hiệu đính những ghi chép của chính sử, vốn thường tập trung vào các sự kiện của triều đình. Do đó, việc nghiên cứu Chữ Nôm trên bia đá và nội dung của chúng góp phần làm phong phú và sâu sắc thêm hiểu biết về lịch sử dân tộc. Đồng thời, công việc này cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn di sản văn bia, một nhiệm vụ cấp thiết để giữ gìn những bằng chứng vật chất về một nền văn hiến lâu đời.

5.1. Văn bia như một nguồn sử liệu bổ sung cho chính sử

Trong khi chính sử ghi lại các sự kiện lớn, bia đá lại là biên niên sử của làng xã. Các tấm bia hậu thần, hậu phật ghi lại chi tiết danh sách những người cúng tiến ruộng đất, tiền bạc, cho thấy vai trò của các cá nhân và tập thể trong việc xây dựng công trình công cộng. Bia chợ ghi lại việc thành lập, quy định buôn bán. Bia xử kiện ghi lại các tranh chấp đất đai. Tất cả tạo nên một bức tranh xã hội sống động mà các bộ sử lớn không thể bao quát hết. Chúng là bằng chứng xác thực về sự vận động của xã hội từ cấp cơ sở.

5.2. Tầm quan trọng trong việc bảo tồn di sản văn bia Việt Nam

Nhiều bia đá đang đối mặt với nguy cơ xuống cấp nghiêm trọng do tác động của thời gian, thời tiết và con người. Việc bảo tồn di sản văn bia không chỉ là bảo vệ hiện vật khảo cổ mà còn là gìn giữ kho tàng tri thức mà chúng chứa đựng. Các hoạt động bảo tồn cần được tiến hành đồng bộ, bao gồm rà soát, kiểm kê, tu bổ tại thực địa, và quan trọng hơn là số hóa tư liệu. Việc xây dựng các cơ sở dữ liệu trực tuyến về thác bản, phiên âm dịch nghĩa văn bia sẽ giúp tri thức trên đá được lan tỏa rộng rãi, phục vụ cho công tác nghiên cứu và giáo dục một cách hiệu quả và bền vững.

22/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Phần Mở đầu, Phần Kết luận, nội dung luận án chia làm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan những bài viết, công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chƣơng 2: Đặc trƣng của văn bia khắc chữ Nôm Chƣơng 3: Đặc điểm và diễn biến của chữ Nôm trên văn bia Chƣơng 4: Ngữ âm và từ vựng tiếng Việt qua cứ liệu chữ Nôm trên văn bia Phần phụ lục Phụ lục 1: Danh mục 1.395 văn bia có chữ Nôm xếp theo niên đại Phụ lục 2: Danh mục 105 văn bia chữ Nôm xếp theo niên đại Phụ lục 3: 10 ảnh minh họa thác bản văn bia có chữ Nôm và văn bia Nôm Phụ lục 4: Bảng tra 15 loại chữ Nôm trên văn bia theo mô hình phân loại cấu trúc. 14 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Nhận thức đƣợc giá trị của chữ Nôm trên văn bia có thể dùng làm tiêu chí đáng tin cậy để giám định các văn bản Hán Nôm, nên các nhà nghiên cứu Hán Nôm, nghiên cứu lịch sử, văn hóa đã đặc biệt quan tâm đến loại hình văn bản này. Có ngƣời đã bỏ nhiều công sức khảo cứu giới thiệu văn bia chữ Nôm mới đƣợc phát hiện; nhiều ngƣời sử dụng chữ Nôm trên văn bia để chứng minh cho các luận điểm của mình về nguồn gốc cấu tạo của chữ Nôm; lại có ngƣời chuyên sâu vào khảo sát loại hình văn bản đặc biệt này để tìm ra những giá trị đích thực của nó. Trong phần này, chúng tôi giới thiệu tổng quan và phân tích các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án nhƣ sau: 1.

Những công trình khảo cứu, giới thiệu văn bia chữ Nôm Văn bia chữ Nôm từ trƣớc tới nay đã thu hút đƣợc nhiều sự quan tâm của những ngƣời làm công tác nghiên cứu Hán Nôm. Việc công bố giới thiệu văn bản phát hiện mới cũng luôn đƣợc chú trọng. Có thể kể nhƣ: - Nguyễn Thị Trang: Mười tám tấm bia Nôm ở chùa Phật giáo, TCHN, số 1 - 1987, đã giới thiệu 18 văn bia chữ Nôm ở chùa Phật Giáo xã Vĩnh Quỳnh huyện Thanh Trì, Hà Nội có nội dung bầu Hậu. Qua bài viết, tác giả đã xác định niên đại của 6 tấm bia Hậu Nôm không ghi niên đại cũng có niên đại cùng thời với những văn bia có niên đại 1943, 1944 và tác giả qua việc đi thực địa địa phƣơng nên đã có nhận định đó là những văn bia cùng do một ngƣời soạn và ngƣời đó vẫn còn sống (tính đến thời điểm tác giả viết bài).

- Hiền Lƣơng - Bạch Văn Luyến: Một số bài thơ Nôm khắc ở vách đá trong hang Trầm, TCHN, số 1 – 1988, đã phiên âm, giới thiệu 14 bài thơ Nôm, 1 văn văn Nôm khắc trên vách đá hang Trầm huyện Chƣơng Mỹ, Hà Nội có 15 niên đại đầu thế kỷ XX. Tác giả giới thiệu về một địa điểm còn lƣu lại đƣợc dấu tích của nhiều bài thơ Nôm khắc trên đá. - Phần Phụ lục cuốn Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Nguyễn Quang Hồng chủ biên, năm 1993, đã phiên âm giới thiệu 10 bài thơ Nôm, trong đó 8 bài đƣợc khắc trên bia đá và 2 bài khắc trên biển gỗ. 8 bài bao gồm: Bài Ngự đề (đƣợc cho là của Lê Thánh Tông); 1 bài của Trịnh Sâm trên bia chùa Tuyết Sơn đề năm Canh Dần (1770); 2 bài ở đền Tản Viên Sơn (triều Nguyễn); 3 bài ở động Tam Thanh (triều Nguyễn); 2 bài ở núi Non Nƣớc (triều Nguyễn).

- Văn bia Hà Tây, Nguyễn Tá Nhí chủ biên, năm 1993, có phiên âm, chú thích, giới thiệu 4 bài thơ Nôm khắc trên vách đá chùa Tuyết Sơn (làng Phú Yên xã Hƣơng Sơn huyện Mĩ Đức, Hà Nội). Tác giả đã phân tích, giới thiệu niên đại của 4 văn bia Nôm, trong đó có 1 bài thơ Nôm của chúa Trịnh Sâm đề năm Canh Dần (1770); 1 bài của nhà sƣ trụ trì họa lại bài thơ của Trịnh Sâm; 1 bài cũng họa lại bài thơ của Trịnh Sâm đề năm Tân Tỵ niên hiệu Bảo Đại (1941) của tác giả Nguyễn Minh Côi làm Thông sự ở Viện Canh Nông, 1 bài không rõ tác giả. - Trƣơng Đức Quả: Tấm bia Nôm chùa Hồng Liên, TCHN, số 4 – 1994, giới thiệu bài văn Nôm ở chùa Hồng Liên thuộc gia đình họ Nguyễn thôn Tây Mỗ xã Tây Mỗ huyện Từ Liêm, Hà Nội. Tác giả nhận định, chữ Nôm trên văn bia này phản ánh đặc điểm chung của chữ Nôm cuối thời Nguyễn, tuy nhiên cũng lƣu đƣợc một vài dấu tích của chữ Nôm cổ và một số hiện tƣợng dùng chữ Hán có phụ âm “l” để ghi từ Việt “n”.

- Trịnh Khắc Mạnh - Trƣơng Đức Quả: Về những thác bản văn khắc chữ Nôm ở Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, TCHN, 2 – 1994, đã giới thiệu 23 thác bản văn bia Nôm hiện đƣợc lƣu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, trong đó 21 thác bản khắc bằng thơ, chỉ có 2 thác bản khắc bằng văn xuôi. Đây là bài viết mang tính khởi phát, quan tâm cụ thể đến vấn đề những bài văn bia toàn bằng Nôm. Trong bài viết này, hai tác giả đã đƣa ra tình trạng chênh chệch và số lƣợng giữa thơ và văn xuôi của văn bia toàn Nôm. 16 - Trƣơng Đức Quả: Về một số văn bia Nôm mới được sưu tầm trong những năm gần đây, TCHN, số 3 – 1996, đã chọn giới thiệu thêm 10 bài văn bia Nôm viết bằng văn xuôi mới đƣợc sƣu tầm để bổ sung cho sự thiếu hụt về tƣ liệu văn xuôi Nôm trƣớc đó.

- Vũ Thị Lan Anh: Giới thiệu tấm bia chữ Nôm chùa Mụa mới sưu tầm. Tác giả giới thiệu về tấm bia hậu Nôm ghi việc cúng tiến công đức cho chùa. Văn bia có niên đại năm Bảo Đại thứ 17 (1942). Tác giả chỉ phiên âm, giới thiệu, cung cấp tƣ liệu, chứ chƣa có nhận định về chữ Nôm trong văn bản.

- Nguyễn Thị Nguyệt: Về hai tấm bia chữ Nôm khắc trên vách đá núi Con Mèo, TBHNH năm 2002. Tác giả giới thiệu 2 bài thơ Nôm đƣợc khắc trên hai tấm bia ở núi Con Mèo thuộc thôn Đồn Sơn, xã Yên Đức, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, trong đó có một bài của Hoàng đế Nhân Tông triều Trần đề thơ vào mùa xuân năm Trùng Hƣng thứ 8 (1292); một bài của Tuần phủ trí sĩ Trần Văn Đại kính hoạ vào cuối mùa đông năm Bảo Đại thứ 12 (1937). Qua việc phân tích giới thiệu nội dung hai văn bia, tác giả cho rằng hai chữ “Nhân Tôn” cho biết tấm bia do ngƣời đời sau chạm khắc để tỏ lòng tôn kính hoàng thƣợng, trên bia không có tên ngƣời viết chữ, không có tên ngƣời khắc bia không có niên đại tạc bia. Đây là những văn bia chữ Nôm rất có giá trị, theo chúng tôi có lẽ bia đƣợc khắc vào triều vua Bảo Đại, cùng thời với tấm bia khắc bài thơ họa của Tuần phủ Trần Văn Đại.

- Trƣơng Đức Quả: Về hai bài thơ Nôm thời Lê khắc trên bia đá, TBHNH năm 2002, giới thiệu hai bài thơ Nôm của Trịnh Doanh khen tặng cho Đài công họ Nguyễn, Trấn thủ xứ Sơn Nam, Chánh thủ hiệu, Cai cơ cơ Trung dực kiêm quản đội Thiện trung, Thiếu phó, tƣớc Lãng Trung hầu. Hai bài thơ Nôm có niên đại xuất xứ rõ ràng vào những năm cuối triều Lê Trung hƣng, nên cũng ít cung cấp tƣ liệu cho việc nghiên cứu ở nhiều khía cạnh trong đó có vấn đề về chữ Nôm. - Nguyễn Tá Nhí: Bài ký của Hữu để điểm Đoàn Đình Kim, TCHN, số 5 - 2003, giới thiệu bài ký bằng chữ Nôm có niên đại Cảnh Hƣng thứ 41 (1780). Đây là bài văn xuôi Nôm viết theo lối tự sự, không dùng điển cổ, không viết 17 theo lối biền ngẫu thông dụng thời bấy giờ.

Tác giả khảo sát và nhận định rằng, bài ký tuy có dùng nhiều từ Hán Việt, thậm chí có cả đoạn viết bằng Hán văn, song đây là những từ thông dụng gần gũi với cuộc sống nên dễ hiểu. Qua việc giới thiệu thêm một trƣờng hợp viết theo lối văn nhƣ vậy, tác giả cho rằng đây là lối văn Nôm thƣờng gặp trong giai đoạn thế kỷ XVIII. Bài ký này có thể xem là bài văn xuôi Nôm vào loại sớm nhất hiện còn. - Nguyễn Quốc Khánh: Thêm một tấm bia diễn Nôm vừa sưu tầm, TBHNH năm 2004, giới thiệu một bài văn diễn Nôm có niên đại Bảo Đại khắc trên bia ở đền Bạch Mã, phố Hàng Buồm, phƣờng Hàng Buồm, thành phố Hà Nội.

- Nguyễn Hoàng Quý: Góp thêm một loại hình bia Hậu, TBHNH năm 2005, giới thiệu một bia Hậu Nôm, gọi là Hậu Hóa soạn năm 1943 của một dòng họ công giáo ở thôn Mai Châu xã Đại Mạch huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. - Nguyễn Đình Hƣng: Ba bài thơ cổ khắc trên vách đá chùa Hang, TCHN, số 1- 2006. Trong bài này, tác giả giới thiệu hai bài thơ chữ Hán và một bài thơ bằng chữ Nôm khắc trên vách đá chùa Hang (động Tiên Lữ) thuộc huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Ngoài ra còn một số bài trên các tạp chí, các hội thảo khoa học liên quan đến chuyên ngành Hán Nôm, giới thiệu về những văn bia chữ Nôm mới đƣợc phát hiện.

Có lẽ do số lƣợng văn bia chữ Nôm chiếm tỉ lệ thấp trong kho thác bản văn bia, nên việc phát hiện ra một văn bia chữ Nôm nào đó cũng đƣợc các tác giả quan tâm, giới thiệu để bổ sung thêm số liệu cho thể loại đặc biệt này. Gần đây, Trịnh Khắc Mạnh trong Một số vấn đề về văn bia Việt Nam, năm 2008 đã giới thiệu về thực trạng thác bản văn bia có khắc có chữ Nôm và văn bia chữ Nôm hiện đang lƣu giữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm. Tác giả công bố danh mục 104 văn bia chữ Nôm (trong đó gồm 6 biển gỗ), và đƣa ra nhận định rằng: Văn bia chữ Nôm có niên đại sớm nhất vào năm 1486 với bài Ngự đề trên bia đá chùa Muống huyện Kim Thành tỉnh Hải Dƣơng, và văn bia chữ Nôm có niên đại muộn nhất là Vĩnh Ninh xã Phật giáo hội công đức bi kí, niên đại 1950, 18 khắc trên bia chùa Vĩnh Quỳnh xã Vĩnh Ninh huyện Thanh Trì, Hà Nội. Căn cứ vào nguồn tƣ liệu văn bia chữ Nôm, tác giả nhận định rằng: “Sự chính xác về niên đại và mã chữ khắc trên văn bia là một trong những ƣu điểm mà các sách Nôm, nhất là những văn bản viết tay không thể có đƣợc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ