Chủ Nghĩa Xê Dịch Trong Sáng Tác Của Nguyễn Tuân Trước Cách Mạng Tháng Tám 1945

Khám phá chủ nghĩa xê dịch trong sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám 1945 qua luận văn thạc sĩ sâu sắc và phân tích chi tiết.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ văn học

2014

125
17
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Chủ Nghĩa Xê Dịch Trong Sáng Tác Nguyễn Tuân

Chủ nghĩa xê dịch là một trong những đề tài nổi bật trong sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám 1945. Ông không chỉ là một nhà văn tài hoa mà còn là một người có tâm hồn lãng mạn, luôn khao khát khám phá những miền đất mới. Sáng tác của ông thể hiện rõ nét những cảm xúc, suy tư về cuộc sống và con người qua lăng kính của một tâm hồn nghệ sĩ. Đề tài này không chỉ phản ánh cá tính của tác giả mà còn là một phần không thể thiếu trong văn học Việt Nam thời kỳ này.

1.1. Đặc điểm của Chủ Nghĩa Xê Dịch trong Văn Học

Chủ nghĩa xê dịch trong văn học của Nguyễn Tuân thể hiện qua những chuyến đi, những trải nghiệm phong phú. Ông không chỉ miêu tả cảnh sắc thiên nhiên mà còn khắc họa tâm trạng con người trong những cuộc hành trình. Những tác phẩm như 'Một chuyến đi' hay 'Người lái đò Sông Đà' là minh chứng cho sự kết hợp giữa nghệ thuật và cảm xúc.

1.2. Tầm quan trọng của Chủ Nghĩa Xê Dịch trong Sáng Tác

Chủ nghĩa xê dịch không chỉ là một đề tài mà còn là một phương pháp thể hiện nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Tuân. Nó giúp ông khám phá và thể hiện những giá trị văn hóa, lịch sử của Việt Nam. Qua đó, độc giả có thể cảm nhận được vẻ đẹp của quê hương và con người qua những trang viết của ông.

II. Những Thách Thức Trong Việc Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Xê Dịch

Việc nghiên cứu chủ nghĩa xê dịch trong sáng tác của Nguyễn Tuân gặp phải nhiều thách thức. Đầu tiên, sự phong phú và đa dạng trong các tác phẩm của ông khiến cho việc phân tích trở nên phức tạp. Thứ hai, bối cảnh lịch sử và xã hội thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám 1945 cũng ảnh hưởng lớn đến cách hiểu và cảm nhận về tác phẩm.

2.1. Khó Khăn Trong Việc Phân Tích Tác Phẩm

Nhiều tác phẩm của Nguyễn Tuân chứa đựng nhiều lớp nghĩa, đòi hỏi người nghiên cứu phải có kiến thức sâu rộng về văn hóa và lịch sử. Điều này tạo ra khó khăn trong việc truyền tải ý nghĩa của tác phẩm đến với độc giả.

2.2. Ảnh Hưởng Của Bối Cảnh Lịch Sử

Bối cảnh lịch sử và xã hội có thể làm thay đổi cách nhìn nhận về chủ nghĩa xê dịch. Những biến động trong xã hội có thể ảnh hưởng đến cảm xúc và tư tưởng của Nguyễn Tuân, từ đó tác động đến nội dung và hình thức sáng tác của ông.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Xê Dịch Của Nguyễn Tuân

Để nghiên cứu chủ nghĩa xê dịch trong sáng tác của Nguyễn Tuân, cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Phương pháp phân tích văn bản, so sánh và đối chiếu sẽ giúp làm rõ những đặc điểm nghệ thuật và nội dung của các tác phẩm. Ngoài ra, việc tiếp cận từ góc độ lịch sử và xã hội cũng rất quan trọng.

3.1. Phân Tích Văn Bản

Phân tích văn bản giúp làm rõ những hình ảnh, biểu tượng và ngôn ngữ mà Nguyễn Tuân sử dụng để thể hiện chủ nghĩa xê dịch. Qua đó, người nghiên cứu có thể hiểu sâu hơn về tư tưởng và cảm xúc của tác giả.

3.2. So Sánh và Đối Chiếu

So sánh và đối chiếu các tác phẩm của Nguyễn Tuân với các tác phẩm khác trong cùng thời kỳ sẽ giúp làm nổi bật những đặc điểm riêng biệt của chủ nghĩa xê dịch. Điều này cũng giúp người đọc có cái nhìn tổng quát hơn về văn học Việt Nam thời kỳ này.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Xê Dịch

Nghiên cứu chủ nghĩa xê dịch trong sáng tác của Nguyễn Tuân không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc giảng dạy văn học. Những hiểu biết về chủ đề này có thể giúp giáo viên và học sinh có cái nhìn sâu sắc hơn về tác phẩm của ông, từ đó nâng cao chất lượng dạy và học.

4.1. Giá Trị Giáo Dục

Nghiên cứu chủ nghĩa xê dịch giúp giáo viên có thể truyền tải những giá trị văn hóa, lịch sử qua các tác phẩm của Nguyễn Tuân. Điều này không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về văn học mà còn về văn hóa dân tộc.

4.2. Tăng Cường Kỹ Năng Phân Tích

Việc nghiên cứu chủ nghĩa xê dịch cũng giúp học sinh phát triển kỹ năng phân tích và tư duy phản biện. Họ sẽ học được cách nhìn nhận và đánh giá tác phẩm từ nhiều góc độ khác nhau.

V. Kết Luận Về Chủ Nghĩa Xê Dịch Trong Sáng Tác Nguyễn Tuân

Chủ nghĩa xê dịch trong sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám 1945 là một đề tài phong phú và đa dạng. Nó không chỉ phản ánh cá tính của tác giả mà còn là một phần quan trọng trong văn học Việt Nam. Nghiên cứu đề tài này giúp làm rõ hơn những giá trị nghệ thuật và tư tưởng của Nguyễn Tuân, đồng thời mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu văn học sau này.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Chủ Nghĩa Xê Dịch

Chủ nghĩa xê dịch không chỉ là một đề tài mà còn là một phần không thể thiếu trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân. Nó giúp độc giả hiểu rõ hơn về tâm hồn và tư tưởng của tác giả.

5.2. Hướng Nghiên Cứu Tương Lai

Nghiên cứu chủ nghĩa xê dịch mở ra nhiều hướng đi mới cho các nghiên cứu văn học. Các nhà nghiên cứu có thể tiếp tục khai thác và làm rõ hơn những giá trị nghệ thuật và tư tưởng trong các tác phẩm của Nguyễn Tuân.

01/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu và Kết luận, luận văn chúng tôi gồm có 3 chƣơng với các nội dung sau: Chƣơng 1: Chủ đề xê dịch trong hành trình sáng tác của Nguyễn Tuân Chƣơng 2: Những cảm hứng lớn trong đề tài xê dịch của Nguyễn Tuân trƣớc Cách mạng tháng 8 - 1945 Chƣơng 3: Chủ nghĩa xê dịch nhìn từ những phƣơng thức nghệ thuật Và cuối cùng là mục Tài liệu tham khảo. 15 CHƢƠNG 1 CHỦ ĐỀ XÊ DỊCH TRONG HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN TUÂN 1. Chân dung một nhà văn độc đáo, tài hoa Nguyễn Tuân sinh ngày 10/7/1910, quê ở làng Nhân Mục, Thƣợng Đình, nay thuộc phƣờng Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ông là nhà văn chính gốc Hà Nội, mặc dù ông có một thời gian khá dài sống lang thang xê dịch nhiều nơi, sau này mới gắn bó với Hà Nội.

Nguyễn Tuân trƣởng thành trong một gia đình nhà Nho khi Hán học đã tàn. Cả một thế hệ, trong đó có cụ Tú Lan, thân sinh của nhà văn, vốn gắn bó với cửa Khổng sân Trình bỗng dƣng trở nên lỗi thời trƣớc xã hội giao thời lộn xộn, sinh ra tƣ tƣởng chán nản bất đắc chí. Ngay từ nhỏ, ông đã đƣợc lớn lên trong nền văn hóa cổ truyền của dân tộc với những phong tục, nề nếp từ một thời xƣa đang tàn dần và biến đổi vì sự xâm nhập của văn minh phƣơng Tây. Bối cảnh xã hội, không khí gia đình đặc biệt ấy đã ghi lại dấu ấn sâu sắc trong cá tính, tƣ tƣởng cũng nhƣ phong cách nghệ thuật của ông.

Là một trí thức giàu tinh thần dân tộc, Nguyễn Tuân đã phải trải qua những năm tháng vô cùng khổ sở, có lúc bế tắc, tuyệt vọng. Nguyễn Tuân học đến cuối bậc Thành chung (1929) thì bị đuổi vì tham gia một cuộc bãi khóa phản đối mấy giáo viên Pháp nói xấu ngƣời Việt. Học bạ ghi trong 5 năm không công sở nào đƣợc nhận vào làm việc. Lúc này cha mẹ, vợ và các em đều ở thị xã Thanh Hóa, nơi cụ thân sinh làm việc.

Sau đó ít lâu ông lại bị tù vì "xê dịch" qua biên giới Đông Dƣơng sang đất Thái Lan không có giấy phép. Theo hồi kí Cát bụi chân ai của Tô Hoài kể lại trong chuyến tàu hoả từ Nôm Pênh ra đến Poipet có hai ngƣời trẻ tuổi, mặt non choẹt, vƣợt biên giới sang Xiêm, đó là Nguyễn Tuân và Lƣơng Đức Thiệp. Cả hai từng tham gia bãi khóa phản đối rồi bị đuổi học. Không biết ai đã nghĩ ra cuộc đi mạo hiểm này, có thể bởi những uất ức khi bị đuổi học, cuộc sống tù 16 túng, cùng quẫn hay cách nghĩ bồng bột tƣởng bƣớc chân đến những nơi xa xôi là lên hƣơng đổi đời.

Để làm lộ phí, Nguyễn Tuân đã phải lấy đi hoa tai, khuyên vàng của vợ. Đến Thái Lan, hai ngƣời bị cảnh sát bắt vì vƣợt biên trái phép; bị giam chung với những tội phạm ngƣời Xiêm rồi bị giải về Nôm Pênh. Đến Nôm Pênh, bị tống ngay xuống Sài Gòn, giam ở bóp cảnh sát. Hôm sau giải ra Hải Phòng, Hà Nội, rồi về giam tại Thanh Hóa khoảng một năm.

Ở tù ra, ông định vào Nam Kỳ nhƣng đi đến Vinh thì bị bắt trở lại. Kể từ đây, ông lâm vào tình trạng khủng hoảng tinh thần sâu sắc. Ông lao vào con đƣờng ăn chơi trụy lạc, thành kẻ "bất đắc chí", nhƣ một ngƣời hư hỏng hoàn toàn. Năm 1941, Nguyễn Tuân lại bị bắt giam một lần nữa vì gặp gỡ, tiếp xúc với những ngƣời hoạt động chính trị.

Gia đình dựng nhà cho ông tại quê, tức làng Mọc, Ngã Tƣ Sở, Hà Nội. Ngôi nhà hai tầng, Nguyễn Tuân gọi là “Am Sông Tô”. Theo Tô Hoài trong Cát bụi chân ai, ông còn có một chỗ ở khác là một gian gác xép tại phố Hàng Đẫy (tức phố Nguyễn Thái Học ngày nay): Khi thôi bị quản thúc, Nguyễn Tuân ra Hà Nội, viết để sinh nhai và cho ra nhân vật nào cũng là nhân vật Tôi. Trong sách cũng tương tự ngoài đời, người ấy tên là Nguyễn hay là Bạch cũng thế, trà dư tửu hậu chán chê rồi rời bỏ nơi ăn chơi, nhưng cũng không về nhà.

Nguyễn Tuân có một gian gác nhỏ ở một phố khuất. Trong buồng mắc chéo cái võng đay. Không bàn ghế, không hoả lò không be lọ, không trai gái. Chỉ độc chai nước lọc mấy quyển sách dưới sàn với hộp cá sácđin và bánh mì.

Có khi nằm võng cả tuần không ló ra đường, không cầm bút, không khách khứa nào gõ cửa cái buồng đã khoá trái, khước từ mọi trò chuyện, chỉ mình với mình, gần như tịch cốc. Rồi bất thần lại biền biệt đi đâu, chìm đắm trong cuộc truy hoan nào rồi lại về náu mình ở cái buồng con [29]. Từ 1942 -1945, Nguyễn Tuân ngày càng bế tắc, suy sụp và đã có ý định tự sát. Cách mạng tháng Tám đã thay đổi cuộc đời và trang viết nhà văn.

Ông nhiệt tình tham gia cách mạng và kháng chiến; hân hoan chào đón cuộc đổi đời lịch sử, tự "lột xác" đứng vào hàng ngũ nhà văn 17 Cách mạng. Ông gia nhập Hội văn hóa cứu quốc đi kháng chiến, liên tục đi và viết. Từ 1948 - 1957, ông giữ chức Tổng thƣ kí Hội Văn nghệ Việt Nam. Ông đi nói chuyện nhiều nơi và trở thành một cây bút tiêu biểu của nền văn học mới.

Nguyễn Tuân mất ngày 28/7/1987 tại Hà Nội để lại một sự nghiệp văn học phong phú với những trang viết độc đáo tài hoa. Năm 1996, ông đƣợc Nhà nƣớc truy tặng Giải thƣởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Nguyễn Tuân là một nhà văn hóa lớn, một trí thức giàu lòng yêu nƣớc và tinh thần dân tộc. Lòng yêu nƣớc của ông có những nét riêng: yêu phong cảnh đẹp của quê hƣơng đất nƣớc, tha thiết với tiếng Việt và gắn bó với những giá trị văn hóa cổ truyền, những nhạc điệu đài các của lối hát ca trù, những thú chơi tao nhã cổ truyền, những nét đẹp rất riêng của Việt Nam.

Nguyễn Tuân là nhà văn có cá tính rất độc đáo và ý thức cá nhân phát triển cao. Ông là ngƣời tự do, phóng túng; ông quan niệm “đời là một trƣờng du hí”, sống là chơi mà viết cũng là chơi. Viết là một hình thức chơi văn độc đáo nhƣng ông đã đẩy việc chơi đến đỉnh cao – chơi một cách nghệ thuật. Viết văn trƣớc hết là để khẳng định cá tính độc đáo của mình.

Ham du lịch, Nguyễn Tuân đã nâng niềm ham thích này thành lý thuyết - “chủ nghĩa xê dịch”. Học theo chủ nghĩa xê dịch, nhà văn thể hiện khát khao thích phiêu lƣu, thèm khát những cảm giác mới lạ, những nẻo đƣờng, những miền đất mới, đƣợc gặp gỡ muôn mặt ngƣời trên con đƣờng giang hồ mê mải. Với ông, xê dịch là một nguồn sống bồng bột để giải thoát những bế tắc chán chƣờng trong cuộc đời. Hơn nữa, là nhà văn của những tính cách độc đáo, của những cảm giác mãnh liệt, Nguyễn Tuân không thích cái gì bằng phẳng, nhợt nhạt, khuôn phép, yên ổn, cầu toàn; ông thích khám phá những phong cảnh tuyệt mĩ của gió bão, núi cao, rừng thiêng, thác ghềnh dữ dội.

Nguyễn Tuân còn là ngƣời rất mực rất mực tài hoa uyên bác, am tƣờng Hán học, Tây học. Rất mực đề cao và gìn giữ nhân cách nghệ sĩ nên ông trân trọng những thú chơi tao nhã của những trí thức Nho gia tài hoa sinh bất 18 phùng thời, căm ghét thói xấu xa đê tiện, rởm đời, vô văn hóa. Ông am hiểu nhiều ngành văn hóa, nhiều môn nghệ thuật khác nhau nhƣ hội họa, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh, âm nhạc, địa lí. để tăng cƣờng khả năng diễn tả của nghệ thuật ngôn từ.

Sự tài hoa uyên bác khiến cho các trang tùy bút Nguyễn Tuân lấp lánh chất trí tuệ; mang đến cho ngƣời đọc những khoái cảm thẩm mỹ và vốn tri thức văn hóa, khoa học ở nhiều các lĩnh vực khác nhau. Nguyễn Tuân là nghệ sĩ chân chính có tinh thần lao động nghệ thuật nghiêm túc, quý trọng nghề nghiệp và ý thức cá nhân phát triển cao. Ông quan niệm nghề văn đối lập với tính vụ lợi kiểu con buôn (truyện Nhà Nguyễn,1945); ở đâu có đồng tiền phàm tục thì ở đấy không thể có cái đẹp (truyện Hai tấm vé số, 1944) và nghệ thuật là một hình thái lao động nghiêm túc, thậm chí khổ hạnh (Tùy bút Những đứa con hoang, 1943). Đối với ông văn chƣơng trƣớc hết phải là văn chƣơng, nghệ thuật trƣớc hết phải là nghệ thuật và làm nghệ thuật phải có phong cách độc đáo.

Ông đƣợc đánh giá là định nghĩa hoàn hảo nhất về ngƣời nghệ sĩ. Nhƣng về bản chất ông không theo chủ nghĩa hình thức thuần túy, đánh đu biến hóa với tu từ chữ nghĩa mà Tài phải đi với Tâm. Đó chính là Thiên lƣơng trong sạch; là lòng yêu đất nƣớc, tha thiết với những giá trị cổ truyền; là nhân cách cứng cỏi, đức tính thẳng thắn trung thực. Bạn đọc khâm phục ông về tài nhƣng còn trọng ông về nhân cách.

Khi đã ở đỉnh cao nghề nghiệp, ông vẫn không bao giờ tỏ ra lơi lỏng mà ngƣợc lại, luôn nghiêm khắc với chính mình. Ông thực sự là một nhà văn suốt đời đi tìm cái Ðẹp, cái Thật (Nguyễn Ðình Thi), là ngƣời "sinh ra để thờ Nghệ Thuật với hai chữ viết hoa". Trƣớc Cách mạng tháng Tám, sáng tác của ông dồn sức chủ yếu vào việc phục hiện các giá trị văn hóa tinh thần. Trên trang viết Nguyễn Tuân, những "vẻ đẹp xƣa" chợt sống dậy trong niềm xót xa tiếc nuối khôn nguôi.

Dù điều kiện không cho phép nhà văn bộc lộ trực tiếp tâm sự u hoài, ngƣời đọc vẫn cảm nhận đƣợc một tấm lòng chân thành đối với dân, với nƣớc. Ông đã 19 ghé vai vào chống chọi, hàn gắn, sắp xếp lại với kỳ vọng gìn giữ những giá trị thiêng liêng vốn hun đúc nên quốc hồn, quốc túy Việt Nam. Nếu có thể ví trang sách nhƣ tấm lá chắn hữu hiệu thì Nguyễn Tuân, giai đoạn trƣớc 1945, chính là ngƣời chiến sĩ chiến đấu với cái Xấu cái Ác, để bảo vệ thành trì Chân - Thiện - Mĩ. Là nhà văn yêu cái Đẹp, nhƣng trƣớc Cách mạng tháng Tám, quan niệm về cái Ðẹp của ông đậm màu sắc chủ quan; là cái Đẹp thuần túy, duy mỹ, nghệ thuật vị nghệ thuật.

Ông chủ trƣơng một cái Đẹp không có nội dung xã hội, giai cấp, thời đại; tách rời cái có ích và quan niệm đạo đức, một cái đẹp chỉ nhằm thỏa mãn những khoái cảm thẩm mĩ cá nhân. Sau Cách mạng, quan niệm của ông đã có sự hài hòa cân đối.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Chủ Nghĩa Xê Dịch Trong Sáng Tác Của Nguyễn Tuân Trước Cách Mạng Tháng Tám 1945 khám phá những đặc điểm nổi bật của chủ nghĩa xê dịch trong các tác phẩm của nhà văn Nguyễn Tuân, một trong những cây bút tiêu biểu của văn học Việt Nam. Tài liệu phân tích cách mà Nguyễn Tuân đã thể hiện sự tự do, phóng khoáng trong sáng tác của mình, đồng thời phản ánh những biến động xã hội và tâm tư của con người trong giai đoạn lịch sử đầy biến động. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích từ việc hiểu rõ hơn về phong cách sáng tác của Nguyễn Tuân, từ đó có thể áp dụng vào việc phân tích văn học hoặc nghiên cứu sâu hơn về văn hóa và xã hội Việt Nam thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ an investigation into conceptual metaphors denoting life in american and vietnamese short stories from 1975 to 1991, nơi khám phá các phép ẩn dụ trong văn học Mỹ và Việt Nam. Ngoài ra, tài liệu Loại hình truyện kể qua văn xuôi việt nam 1930 1945 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các thể loại truyện kể trong văn học Việt Nam trong giai đoạn này. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ thể chân dung văn học trong văn học việt nam giai đoạn 1930 1945 cung cấp cái nhìn tổng quát về bức tranh văn học Việt Nam trong thời kỳ trước Cách mạng, giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về bối cảnh văn hóa và xã hội.