PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế, giúp tạo việc làm, tăng thu nhập cho ngƣời lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tƣ phát triển, xóa đói, giảm nghèo ở địa phƣơng, hỗ trợ tích cực cho phát triển của doanh nghiệp (DN) lớn, trong đó có lĩnh vực công nghệ hỗ trợ. Tính đến thời điểm này, cả nƣớc có chừng 460 nghìn doanh nghiệp trong đó các DNNVV chiếm tới 97% trong số đó đóng góp khoảng 45% GDP của cả nƣớc, tạo 50% việc làm mới, 78% mức bán lẻ, 33% giá trị sản lƣợng công nghiệp. Các DNNVV ở Việt Nam hiện nay đều đang gặp rất nhiều khó khăn do quy mô sản xuất nhỏ, công nghệ thấp, trình độ quản lý kém, năng lực cạnh tranh thấp,… các sản phẩm sản xuất ra có chất lƣợng chƣa cao…, đặc biệt quan trọng là do thiếu nguồn vốn.
Để khắc phục tình trạng này, DNNVV cần có vốn để đầu tƣ mở rộng sản xuất, đầu tƣ máy móc, thiết bị hiện đại, bồi dƣỡng và nâng cao trình độ quản lý, trình độ ngƣời lao động,… Doanh nghiệp khó khăn là vậy, nhƣng việc tiếp cận đƣợc vốn ngân hàng lại gặp rất nhiều khó khăn. Làm thế nào để có vốn đầu tƣ và sử dụng vốn có hiệu quả là bài toán nan giải đặt ra cho các nhà quản lý DN, đồng thời nó cũng thu hút sự quan tâm của các nhà tài trợ là các ngân hàng thƣơng mại. Số lƣợng DNNVV đông đảo với đặc thù ít vốn chính là đối tƣợng khách hàng đầy tiềm năng của các ngân hàng. Song theo một điều tra mới đây của Cục Phát triển doanh nghiệp (Bộ Kế hoạch và Đầu Tƣ), chỉ có 32,38% DNNVV có khả năng tiếp cận đƣợc các nguồn vốn của các ngân hàng.
Rõ ràng, giữa DNNVV và các ngân hàng thƣơng mại (NHTM) vẫn còn một khoảng cách mà có lẽ không bên nào muốn. Nguyên nhân của tình trạng trên là vẫn chƣa có tiếng nói chung giữa NH với các DN. Để giúp các DNNVV dễ dàng hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn NH, tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi, nâng 1 z cao năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững, nhà nƣớc, chính phủ, bản thân các doanh nghiệp, và đặc biệt là NH phải có những giải pháp thích hợp, hiệu quả. Do những yêu cầu cấp thiết nhƣ vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - chi nhánh Láng Hạ” 2.
Câu hỏi nghiên cứu Đề tài tập trung trả lời câu hỏi nghiên cứu: Thứ nhất, ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Láng Hạ (Agribank Láng Hạ) có những chính sách gì đối với hoạt động cho vay DNNVV. Thứ hai, các chính sách tín dụng cho DNNVV của Agribank Láng Hạ có những ƣu điểm và hạn chế gì và nguyên nhân nào dẫn đến những hạn chế đó. Thứ ba, Agribank Láng Hạ cần có những giải pháp nào để khắc phục những hạn chế về chính sách tín dụng với DNNVV. Thứ tƣ, đối với Chính phủ và Ngân hàng Nhà nƣớc (NHNN) cần có những chính sách mới nào để hỗ trợ hoạt động tín dụng DNNVV của các NHTM.
Mục đích nghiên cứu của đề tài Khẳng định tầm quan trọng của tín dụng ngân hàng đối với DNNVV. Đánh giá chi tiết những ƣu điểm và hạn chế, từ đó đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng DNNVV của Agribank Láng Hạ 4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài: hoạt động tín dụng ngân hàng đối với DNNVV. Phạm vi nghiên cứu của đề tài: hoạt động tín dụng đối với DNNVV tại Agribank Láng Hạ giai đoạn từ năm 2011 - 2014.
Kết cấu của đề tài Nội dung đề tài nghiên cứu đƣợc trình bày thành bốn phần chính: 2 z Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận về cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu đề tài. Chƣơng 3: Thực trạng cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - chi nhánh Láng Hạ. Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao hỗ trợ tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - chi nhánh Láng Hạ.
3 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Vấn đề hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại nói chung, đặc biệt là việc cấp tín dụng của NHTM cho khối DNNVV luôn đƣợc quan tâm và đã có nhiều bài viết, công trình khoa học đã đƣợc công bố. Giáo trình Tín dụng ngân hàng do PGS.TS Nguyễn Đăng Dờn chủ biên (2004) hay cuốn Tiền tệ tín dụng và Ngân hàng của GS. TS Lê Văn Tƣ (NXB Thống kê 1997), các tác giả đã đƣa ra những khái niệm cơ bản về hoạt động tín dụng của NHTM, làm rõ bản chất của tín dụng, đặc điểm của tín dụng, các loại hình tín dụng, quy trình và nguyên tắc cho vay, tác giả cũng phân loại tín dụng theo tiêu thức thời gian thành 2 nhóm: tín dụng ngắn hạn và tín dụng trung, dài hạn, ngoài ra còn có thể phân loại theo hình thức cho vay hoặc đối tƣợng vay vốn,. Tác giả Vƣơng Liêm với “Nghiên cứu Doanh nghiệp nhỏ và vừa (NXB Giao Thông, 2000) đã làm rõ khái niệm DNNVV và đặc điểm của loại hình doanh nghiệp này trong nền kinh tế thị trƣờng.
Nghiên cứu cũng đó phân tích và chỉ ra khó khăn mà DNNVV gặp phải và đƣa ra những giải pháp, đề xuất để phát triển DNNVV trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Vấn đề tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng để phát triển DNNVV cũng đó đƣợc tác giả đề cập đến xong cũng ở mức hạn chế, hơn nữa, nghiên cứu đƣợc thực hiện từ năm 2000 trở về trƣớc nên thông tin thiếu tính cập nhật. Các nghiên cứu trên đã cung cấp những hiểu biết cơ bản nhất về quan hệ giữa NHTM và DNNVV, từ đó giúp xây dựng khung lý thuyết về vấn đề tín dụng ngân hàng cho DNNVV. Tuy nhiên để hiểu rõ vai trò của NHTM dƣới góc nhìn là một trong những giải pháp vốn cho DNNVV, ta cần đi sâu phân tích những nghiên cứu mang tính thực tiễn ứng dụng cao hơn.
4 z Tác giả Phạm Văn Hồng trong luận án tiến sĩ kinh tế “Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế” năm 2007, Đại học Kinh tế Quốc dân. Đề tài này đã nghiên cứu và hệ thống hóa các vấn đề lí luận liên quan đến sự phát triển của DNNVV. Về phần thực tiễn, tác giả luận án cũng đã tổng kết kinh nghiệm phát triển DNNVV trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của một số nƣớc trên thế giới. Ngoài ra luận án còn phân tích đánh giá thực trạng của DNNVV và môi trƣờng thể chế phát triển DNNVV trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Tác giả Nguyễn Minh Tuấn, trong luận án kinh tế “Phát triển dịch vụ ngân hàng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa” năm 2008, trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, đã nghiên cứu và hệ thống hóa các vấn đề lí luận về dịch vụ ngân hàng và DNNVV, đề cập đến những vấn đề quản lý rủi ro, chi phí giao dịch và chi phí hành chính, sự cần thiết có hệ thống kế toán tài chính đặc thù cho doanh nghiệp nhỏ và vừa,… Tác giả luận án đã xem xét các DNNVV nhƣ là khách hàng tiêu dùng cá nhâm phân loại các DNNVV thành nhóm đại chúng và nhóm có nhiều lợi nhuận. Đề tài đã đƣa ra các giải pháp chuyên sâu, có khả năng ứng dụng thực tiễn cao. Ngoài ra luận án còn phân tích kinh nghiệm quốc tế của các nền kinh tế có mực độ phát triển khác nhau để định vị hệ thống các DNNVV Việt Nam và các NHTM Việt Nam trên bản đồi toàn cầu từ đó tạo điều kiện cho công tác hoạch định chiến lƣợc và định hƣớng đối với các cơ quan hoạch định chính sách của Việt Nam. Tiến sĩ Trƣơng Quang Thông trong “Tín dụng ngân hàng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa”, nghiên cứu thực nghiệm tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh đã phân tích tổng quan về DNNVV tại Việt Nam qua các số liệu thống kế và chính sách của nhà nƣớc đối với DNNVV.
Đề tài cũng đã tiến hành khảo sát về tài trợ tín dụng cho các DNNVV, trên cơ sở đó gợi ý chính sách đối với DNNVV, đối với các NH và các cơ quan chính phủ. Trong bài viết “Vốn cho doanh nghiệp dƣới góc nhìn chuyên gia kinh tế“ đăng trên Thời báo Kinh tế Việt Nam số ra ngày 30/11/2012 dẫn lời ông Cao Sĩ Kiêm, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, ông cho biết với DNNVV thì khó khăn chủ yếu liên quan đến các vấn đề về thủ tục nhƣ: không vay đƣợc vốn do 5 z nợ xấu, nợ thuế nhiều do không tiêu thụ đƣợc hàng hóa dẫn đến không có khả năng trả nợ. Từ đó dẫn đến việc không tiếp cận đƣợc vốn ngân hàng. Những khó khăn mà DN gặp phải có nguyên nhân đến từ việc nguồn vốn chƣa đƣợc khơi thông, kể cả dòng vốn ngắn hạn và dài hạn, kể cả những dòng vốn ra của NH và vào của DN,.
vẫn còn hiện tƣợng ứ đọng. NH thừa vốn, khả năng thanh toán tốt nhƣng doanh nghiệp không tiếp cận đƣợc nên dẫn đến dòng vốn chƣa thông thoáng. Chừng nào chƣa giải quyết đƣợc những vấn đề liên quan đến: nợ xấu, hàng tồn kho, thị trƣờng bất động sản,. thì dòng vốn khó mà khơi thông.
Để dòng vốn đƣợc khơi thông, về phía các NHTM, cần thực hiện chọn lựa khách hàng chính xác, đồng thời cũng có những điều chỉnh về mặt thủ tục đối với các DN có dự án tốt và có khả năng trả nợ. Cần phải hƣớng đến mục tiêu hai bên cùng khắc phục để cùng tồn tại. Còn các doanh nghiệp cũng cần phải đánh giá lại mình xem đâu là điểm yếu, đâu là điểm mạnh, phải xây dựng chiến lƣợc kinh doanh mới cho phù hợp với diễn biến thị trƣờng,. nhằm hƣớng đến đáp ứng đƣợc các điều kiện vay vốn mà NHTM đặt ra.