Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về chính sách Chính sách là một công cụ quan trọng của quản lý. Các chính sách có thể được đề ra và thực hiện ở những tầng nấc khác nhau, từ các tổ chức quốc tế đến từng quốc gia, từ nhà nước đến các đơn vị, tổ chức chính trị xã hội, doanh nghiệp,.
nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra cho mỗi tổ chức đó và chúng chỉ có hiệu lực thi hành trong tổ chức đó. Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…” Theo James Anderson: “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm”.
Như vậy, có thể hiểu: Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình. Một số chính sách được đề ra và thực hiện trong phạm vi một doanh nghiệp, một tổ chức, một cộng đồng nhỏ, các chính sách như vậy chỉ liên quan đến một số ít người. Các chính sách khác có thể do chính phủ, một bộ đề ra có liên quan đến lợi ích rộng hơn. Nhìn chung, ta có thể coi chính sách là một công cụ của quản lý để đều hành các hoạt động kinh tế xã hội theo những mục tiêu nhất định.
Vậy có thể hiểu rằng chính sách là một tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của chính phủ bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó. Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa xã hội, 10 Luan van môi trường. Chính sách phát triển nông thôn là tập hợp các chủ trương và hành động của chính phủ nhằm tạo điều kiện cho nông thôn phát triển bằng cách tác động vào việc cung cấp các yếu tố đầu vào như: đất đai, lao động, vốn, cơ sở hạ tầng… Tác động tới đầu vào và đầu ra ở nông thôn, tác động về việc thây đổi tổ chức. Trong khi thị trường đầu vào và đầu ra được thực hiện, tác động vào chuyển giao công nghệ.
Ở đây chúng ta sẽ đi sâu nghiên cứu về các chính sách có tác động đến đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của nhiều người, đó là chính sách công mà cụ thể là chính sách xây dựng nông thôn mới. Đây là những chính sách do nhà nước đề ra sở hữu phạm vi tác động rộng lớn đến đời sống chính trị, kinh tế, xã hội trên phạm vi quốc gia, vùng, miền… Đặc điểm của chính sách công như sau: Thứ nhất: Chính sách đã mang tính cộng đồng, Chính sách mang tính cộng đồng bởi chính sách bắt nguồn từ ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện dưới dạng thể chế bằng văn bản quy phạm pháp luật. Ý chí chính trị của mỗi nhà nước đều phải được xác lập trên cơ sở mục tiêu phát triển chung toàn xã hội mà nhà nước là người có trách nhiệm tổ chức thực hiện. Thứ hai: Chính sách mang tính hệ thống, đồng bộ.
Về mặt hình thức, tính hệ thống của chính sách thể hiện là những tập hợp các quyết định hình thành trong những giai đoạn khác nhau vượt ra ngoài giai đoạn hoạch định chính sách ban đầu. Ở cấp hoạch định, chính sách cũng không cần nhất thiết phải thể hiện rõ ràng trong một quyết định duy nhất. Mà có thể được phản ảnh trong một chuỗi các quyết định có liên hệ với nhau, giúp người dân nhận thức được nội hàm của chính sách. Về mặt nội dung, tính hệ thống của chính sách bao hàm sự thống nhất giữa các mục tiêu và biện pháp thực hiện trong mỗi loại chính sách.
Ngoài ra, giữa các loại chính sách và giữa chính sách và công cụ quản lí vĩ mô khác nhau cũng hợp thành một hệ thống hướng đến mục tiêu phát triển chung toàn xã hội. Thứ ba: Chính sách cũng mang tính ổn tương đối. Về mặt lý thuyết, nội dung chính sách về mặt cơ bản là ổn định trong một giai đoạn nhất định do chính 11 Luan van sách là kết quả của ý chí chính trị của nhà nước nên nó không dễ gì thay đổi. Tuy nhiên trong thực tế chúng ta cũng sẽ thấy chính sách công có sự thay đổi theo thời gian.
Vì trong quá trình tồn tại chính sách vẫn cần được điều chỉnh về mục tiêu hay biện pháp cho phù hợp với điều kiện thực tế, hoặc do những thay đổi trong định hướng chính trị ban đầu, hoặc kinh nghiệm về thực hiện chính sách có thể được phản hồi vào quá trình ra quyết định chính sách. Điều này không có nghĩa là các chính sách luôn thay đổi, mà do quá trình thực hiện chính sách sẽ luôn năng động, thích ứng. Ngay cả nhận thức chính trị về các vấn đề chính sách cũng sẽ thay đổi qua các thời kỳ. Thứ tư: Chính sách vừa là sản phẩm của hoạt động quản lý Nhà nước vừa là công cụ thực hiện chức năng quản lý xã hội Nhìn một cách thực chất, về cơ bản chính sách sẽ được xem là đầu ra của quá trình quản lý Nhà nước, là sản phẩm trí tuệ của đội ngủ cán bộ, công chức, thậm chí là sản phẩm chung của toàn xã hội.
Về đặc điểm này có thể nhận biết qua việc chấp nhận mục tiêu và các biện pháp thực hiện chính sách của các tầng lớp nhân dân trong xã hội, cũng như kết quả triển khai thực hiện những chính sách này. Người dân có thể đánh giá được kết quả hoạt động của chính phủ qua chất lượng của chính sách. Nếu mà mục tiêu chính sách do Nhà nước đề xuất phù hợp với nguyện vọng của nhân dân thì mới dễ dàng đi vào cuộc sống. Còn ngược lại một chính sách có mục tiêu không rõ ràng, không cụ thể, không vì lợi ích của cộng đồng dân cư thì sẽ khó chấp nhận hoặc tính khả thi thấp.
Các biện pháp đề xuất trong chính sách thích hợp sẽ được ứng dụng rộng rãi, tạo ra động lực mạnh trong việc khuyến khích các tổ chức, cá nhân tích cực phát huy nội lực, tìm kiếm các nguồn lực bên ngoài vào thực hiện mục tiêu một cách có hiệu quả. Thời gian thực hiện chính sách và duy trì nó được đánh giá là khả năng phối hợp, điều hành, quản lý các quá trình kinh tế - xã hội của một đất nước. Khái niệm về nông thôn và nông thôn mới Khái niệm nông thôn: Hiện nay trên thế giới có rất nhiều quan điểm khác nhau, chưa có định nghĩa chuẩn xác về nông thôn, có quan điểm thấy rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng có nghĩa là vùng nông thôn 12 Luan van có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị. Có quan điểm cho rằng nông thôn có trình độ phát triển hàng hóa thấp hơn so với đô thị, khả năng tiếp cận thị trường cũng thấp hơn.
Ngoài ra, còn có quan điểm để xác định nông thôn có thể so sánh mật độ dân cư và số lượng dân cư trong từng vùng. Theo quan điểm trên vùng nông thôn có quy mô dân số và mật độ thấp hơn vùng đô thị. Một quan điểm khác lại cho rằng vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp chủ yếu, số đông người dân trong vùng bằng chính nghề sản xuất nông nghiệp, những ý kiến này chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụ thể của từng quốc gia, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ chế áp dụng cho nến kinh tế, cơ cấu kinh tế, đối với những nước đang thực hiện công nghiệp hóa, đô thị hóa chuyển từ sản xuất thuần nông sang phát triển các ngành phát triển công nghiệp và dịch vụ, xây dựng các khu đô thị nhỏ, thị trấn, thì từ rải rác các vùng nông thôn thì khái niệm về nông thôn có những đổi khác so với khái niệm trước đây. Các khái niệm trước đó đã cho thấy một điều rằng khái niệm nông thông dường như được quan tâm một cách khiêm tốn hơn so với khái niệm về đô thị vì cách nhìn nhận về nông thôn sẽ theo những xác định những nội dung của nông thôn chứ ít khi đưa ra một định nghĩa chung cho khái niệm nông thôn.
Khái niệm nông thôn ở nước ta có thể hiểu: Nông thôn là một phần lãnh thổ được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã, nông thôn là tên gọi chung của thôn, làng, xóm, ấp, bản, buôn, phum, sóc,. là tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư có chung địa bàn cư trú trong một xã (theo Thông tư 41/2013/TT-BNNPTNT ngày 4/10/2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn). Theo quan điểm chung về chỉ tiêu "Nông thôn là khái niệm của hệ thống cộng đồng xã hội, lãnh thổ được hình thành trong quá trình phân công lao động xã hội mà ở đó mật độ dân cư tương đối thấp, lao động nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao, mối quan hệ cộng đồng chặc chẽ, lối sống, phương thức sống của cộng đồng dân cư nông thôn khác biệt cộng đồng dân cư thành thị. Hiện nay, chưa có khái niệm chính thức về nông thôn mới (NTM) Nông thôn phát triển như thế nào ở mức độ nào thì được gọi là nông thôn mới vấn đề này có thể thay đổi tùy theo từng quốc gia và tùy theo từng thời điểm phát triển 13 Luan van lịch sử khác nhau, người ta có thể nhìn nhận về Nông thôn mới khác nhau.
Tại Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương Đảng (Khóa X) ban hành Nghị quyết số 26- NQ/TW ngày 5/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.