Chương 1: Cơ sở khoa học về thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục trên địa bàn tỉnh Điện Biên Chương 3: Phương hướng và các giải pháp đảm bảo việc thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục trên địa bàn tỉnh Điện Biên 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC 1. Những vấn đề chung về chính sách công 1. Khái niệm chính sách công Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của Nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội. Chính sách công là công cụ được Nhà nước sử dụng để giải quyết các vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển của đất nước hoặc địa phương.
Cụm từ “chính sách công” được sử dụng phổ biến trong các văn bản pháp luật của Nhà nước, trong các tài liệu và trên các phương tiện truyền thông. Cho đến nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về chính sách công được các học giả trong và ngoài nước đưa ra. Tuy nhiên có thể hiểu: chính sách công là một tập hợp các quyết định liên quan với nhau do Nhà nước ban hàng, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển. Đặc điểm của chính sách công Chính sách công là một tập hợp các quyết định liên quan với nhau do Nhà nước ban hàng, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển.
Theo quan niệm về chính sách công nêu trên, chúng ta có thể rút ra những đặc điểm cơ bản về chính sách công sau đây: Thứ nhất, chính sách công bắt nguồn từ các quyết định do Nhà nước ban hành và nội dung của chính sách được thể hiện trong các văn bản quyết định của Nhà nước. Ví dụ, theo quy định của Luật ban hành văn bản quy 11 phạm pháp luật 2015, thì Quốc hội ban hành Luật để quy định: chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia; chính sách cơ bản về văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường; chính sách dân tộc, tôn giáo; chính sách cơ bản về đối ngoại (Khoản 1 Điều 15). Thứ hai, chính sách công bao gồm một tập hợp các quyết định được ban hành qua một giai đoạn dài và kéo dài sang cả giai đoạn thực thi chính sách. Chính sách công luôn không được thể hiện rõ ràng trong một quyết định đơn lẻ, mà có xu hướng được xác định dưới dạng một chuỗi các quyết định gắn liền nhau.
Ví dụ, Quốc hội ban hành Luật giao thông để quy định chính sách về an toàn giao thông, và trên cơ sở đó chính sách đó, Chính phủ ban hành Nghị định để quy định chi tiết, hoặc quy định các biện pháp cụ thể thi hành chính sách đất đai, các Bộ, ngành có liên quan hạn hành thông tư để hướng dẫn thi hành chính sách đất đai. Thứ ba, chính sách công hướng tới giải quyết vấn đề công và tác động đến lợi ích của một hoặc nhiều nhóm dân số trong xã hội. Ví dụ, chính sách về an toàn giao thông hướng tới giải quyết vấn đề an toàn giao thông và chính sách này tác động đến những người tham gia giao thông. Thứ tư, chính sách công bao gồm hai bộ phận cấu thành là mục tiêu và giải pháp chính sách.
Ví dụ, mục tiêu của chính sách an toàn giao thông là nhằm giảm bớt tai nạn giao thông trên cả ba tiêu chí là số vụ, số người chết, số người bị thương, và tất nhiên là giảm cả thiệt hại về tài sản do tai nạn giao thông gây ra. Còn giải pháp giải quyết vấn đề mất an toàn giao thông bao gồm như ban hành các quy tắc tham gia giao thông để điều chỉnh các hành vi tham gia giao thông (gồm cả quy tắc đối với người tham gia giao thông, phương tiện tham gia giao thông), thông tin và tuyên truyền để nâng cao ý thức của người tham gia giao thông, thiết lập các chương trình, dự án đầu tư để cải thiện hạ tầng giao thông v.v… 12 Thứ năm, mục tiêu của chính sách công là tạo ra những thay đổi và nhằm đạt được các mục tiêu phát triển của đất nước và địa phương. Ví dụ, chính sách an toàn giao thông hướng tới thay đổi hành vi của người tham gia giao thông, thay đổi các kết quả đầu ra như giảm số vụ, số người chết, số người bị thương, giảm thiệt hại về tài sản do tai nạn giao thông gây ra, và nhằm đạt được các mục tiêu về tuổi thọ bình quân, tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống của người dân về cả sức khỏe và tinh thần… Thứ sáu, các chính sách công luôn thay đổi theo thời gian, bới vì những quyết định sau có thể có những điều chỉnh so với những quyết định trước đó, hoặc do có những thay đổi trong định hướng chính sách ban đầu; hoặc là kinh nghiệm về thực thi chính sách công được phản hồi vào quá trình ra quyết định; và do định nghĩa về các vấn đề chính sách công cũng thay đổi qua thời gian. Ví dụ, chính sách về an toàn giao thông thường xuyên được sửa đổi và hoàn thiện để phù hợp hơn với điều kiện thực tiễn của Việt Nam như: sửa đổi các quy định theo hướng bảo đảm các phương tiện tham gia giao thông an toàn hơn, quy định mức xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông cao hơn.
Thứ bảy, về cơ bản chính sách công được xem là đầu ra của quá trình quản lý Nhà nước, là sản phẩm trí tuệ của đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước. Ví dụ, chính sách an toàn giao thông được thể hiện trong Luật Giao thông đường bộ, Luật Giao thông đường thủy, Luật đường sắt, Luật hàng không, và các nghị định của Chính phủ, thông tư, thông tư liên tịch của các Bộ, ngành… Chính các văn bản pháp luật này là sản phẩm đầu ra của hoạt động quản lý nhà nước, và là sự kết tinh trí tuệ của đội ngũ cán bộ, công chức, các chuyên gia trong lĩnh vưc giao thông, của các cá nhân và tổ chức trong xã hội. Vai trò của chính sách công - Chính sách công định hướng cho các chủ thể trong xã hội: Một trong những vai trò quan trọng của chính sách công là định hướng cho các hoạt động của các thực thể kinh tế - xã hội. Mục tiêu chính sách thể hiện thái độ ứng xử của Nhà nước trước một vấn đề công, nên nó thể hiện rõ xu hướng tác động của Nhà nước lên các thực thể xã hội để chúng vận động phù hợp với những giá trị tương lai mà Nhà nước theo đuổi.
Các giá trị đó phản ánh ý chí của Nhà nước nhằm đáp ứng các nhu cầu cơ bản của đời sống xã hội. Nếu các thực thể xã hội tiến hành các hoạt động phù hợp với mục tiêu chính sách thì cũng có nghĩa là đạt được mục tiêu phát triển chung và sẽ nhận được những trợ giúp từ phía Nhà nước. Hơn nữa, bản thân các giải pháp chính sách cũng có vai trò định hướng cho các thực thể kinh tế - xã hội trong việc đề ra biện pháp. - Tạo động lực cho các chủ thể trong xã hội: Thái độ ứng xử của chủ thể biểu lộ rõ những xu thế tác động đến các đối tượng để chúng vận động theo định hướng.
Tác động này tạo động lực mạnh mẽ đến các chủ thể trong quá trình hoạt động. Chẳng hạn, Nhà nước dùng chính sách khuyến khích đầu tư trang thiết bị kỹ thuật trong các đơn vị kinh tế vừa tạo việc làm, vừa tăng thu nhập cho lao động. - Vai trò khuyến khích và hỗ trợ: Để đạt được mục tiêu chính sách, Nhà nước ban hành nhiều giải pháp, trong đó có giải pháp mang tính khuyến khích và hỗ trợ tài chính như miễn thuế, hỗ trợ lãi suất, cho vay vốn lãi suất thấp hoặc không lãi suất, về trợ giá, trợ cấp… và các biện pháp kỹ thuật như đơn giản hóa thủ tục hành chính, hỗ trợ kỹ thuật để tạo thuận lợi cho các thực thể kinh tế - xã hội tham gia. Các biện pháp này không mang tính bắt buộc, nó tạo ra cơ chế khuyến khích sự tham gia tự nguyện của các thực thể kinh tế - xã 14 hội, nghĩa là khuyến khích các thực thể kinh tế - xã hội tiến hành những hoạt động mà Nhà nước mong muốn.
Ví dụ, chính sách khuyến khích đầu tư trong nước, chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, Nhà nước ban hành nhiều giải pháp nhằm khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư xây dựng nhà máy để tiến hành hoạt động kinh doanh như miễn, giảm tiền thuê đất, đơn giản hóa thủ tục hành chính, hỗ trợ giải phóng mặt bằng v.v… Hoặc trong chính sách tam nông, Nhà nước ban hành các giải pháp khuyến nông như hỗ trợ về giống, hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân, thu mua lương thực với giá bảo đảm cho nông dân có một mức lợi nhuận nhất định, cho vay vốn lãi suất thấp… - Phân bổ nguồn lực cho quá trình phát triển: Để sử dụng có hiệu quả tài nguyên theo hướng ổn định, bền vững, Nhà nước dùng chính sách để khuyến khích và điều tiết các quá trình khai thác sử dụng tài nguyên theo định hướng. - Tạo lập môi trường thích hợp cho các chủ thể tham gia hoạt động kinh kế - xã hội: Thống nhất thái độ ứng xử của chủ thể với các vấn đề kinh tế - xã hội chính là đã tạo ra một môi trường hướng đạo, giúp cho các thực thể xác định được mục tiêu vận động của mình. Còn sự phong phú về các giải pháp thực hiện sẽ làm cho các thực thể năng động tìm cách ứng phó hiệu quả nhất với môi trường để tồn tại. Điều này sẽ mang lại động lực mạnh cho các thực thể chiến thắng trong mội trường cạnh tranh.
- Làm cơ sở phối hợp hoạt động của các chủ thể trong xã hội: Nhà nước đề ra mục tiêu chính sách để thống nhất mọi thành phần xã hội đều hướng tới mục tiêu chung trên cơ sở thực hiện tốt những mục tiêu bộ phận của mình. Do nắm chắc được mục tiêu chung các bộ phận sẽ tự biết được vai trò, vị trí, thời gian và mức độ hoàn thành các mục tiêu cụ thể của mình để tự giác phối hợp thực hiện mục tiêu chung.