Chương 1 CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO TỪ THỜI MINH TRỊ ĐẾN CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI Quá trình thế tục hóa của Nhật Bản chia làm hai giai đoạn: hình thành Nhà nước Minh Trị và mô hình nhà nước “Chiêu Hòa (Showa) – Mỹ”. Nhà nước Minh Trị là kiểu nhà nước dân tộc đối kháng với chủ nghĩa thực dân của Âu - Mỹ. Dưới áp lực từ phía các cường quốc Âu Mỹ, Chính phủ Minh Trị đã đề ra con đường “phú quốc cường binh” để đuổi kịp các cường quốc Âu Mỹ về quân sự, kỹ thuật, chính trị, kinh tế”. Để thực hiện, Chính phủ đã xây dựng mô hình nhà nước dân tộc lấy thể chế Thiên hoàng và Thần đạo Quốc gia làm nền tảng và đề ra một số “chính sách tôn giáo” nhằm tăng cường mô hình này.
Sau khi Nhật Bản bại chiến vào năm 1945 và bị quân Liên Hợp chiếm đóng (1945 - 1952), Nhật Bản bước vào giai đoạn mô hình nhà nước “Chiêu Hòa (Showa) – Mỹ”. Bản chất của Nhà nước Minh Trị và chính sách tôn giáo của Chính phủ Bản chất của Nhà nước Minh Trị Vào thời cận đại, có thể nói, so với nhiều nước trong khu vực Đông Á, nhà nước Minh Trị Duy tân đã tiếp nhận văn minh phương Tây từ rất sớm. Nhà nước Minh trị là sự hợp nhất giữa mô hình chủ nghĩa lập hiến của tây Đức (ドイツ・ プロイセン) và tư tưởng Quốc thể (国体思想). Chủ nghĩa lập hiến tây Đức là chủ nghĩa đề cao quyền quân chủ, công nhận nhà vua có quyền tham gia vào chính trị, quốc hội và có quyền hạn chế quyền lực của quốc hội.
Còn tư tưởng Quốc thể là tư tưởng coi Thiên hoàng là người thống trị toàn dân có nguồn gốc từ Cổ Sự Ký (古事記) và Nhật Bản Thư Kỷ (日本書紀), những truyền thuyết cho rằng Thiên hoàng là hiện Thần, Nhật Bản là đất nước của Thần. Quan hệ giữa chính trị với tôn giáo – thể chế Thần đạo Quốc gia ở Nhật Bản cũng bắt đầu được hình thành trong thời kỳ này. Hiến pháp Minh Trị và tôn giáo có mối quan hệ khó có thể tách bạch. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hiến pháp đã công nhận: “Tất cả thần dân từ khi sinh ra đều có quyền tự do khó xâm phạm”.
Về mặt hình thức, quyền “tự do tôn giáo” đã bắt đầu được quy định trong Điều 28 của Hiến pháp Minh Trị: “Thần dân Nhật Bản trong phạm vi không phá rối trật tự an ninh và thực hiện đúng nghĩa vụ của mình thì được hưởng quyền tự do tôn giáo” [74,tr.167], nhưng quyền lợi này lại không được pháp luật bảo đảm mà thay vào đó là điều kiện chế ước phải thực hiện “nghĩa vụ của thần dân” và phải đảm bảo “trật tự an ninh”. “Trật tự an ninh” ở đây tức là trật tự xã hội, là hoạt động thiện lương. Và, “nghĩa vụ của thần dân” là phải tuân thủ nghĩa vụ binh dịch, thuế khóa… quy định trong Hiến pháp: dân phải trung thành với nước với vua và hoàng tộc, không được phép có bất cứ hành vi bất kính nào đối với đất nước, với vương tổ vương tông và các linh hồn của các vị vua đã khuất. Như vậy, quyền tự do tôn giáo trong hiến pháp Minh Trị không được xác định rõ ràng, bị hạn chế, không có sự bảo đảm nào của pháp luật.
Tự do tôn giáo sẽ được pháp luật bảo đảm nếu thần dân thực hiện đúng những nghĩa vụ nêu trên. Chính sách tôn giáo của Chính phủ Minh Trị Về chính sách tôn giáo, thời kỳ này, Chính phủ Minh Trị đã thực hiện ba chính sách chính: tế chính nhất trí, quốc giáo hóa Thần đạo, giáo hóa quốc dân (祭 政一致, 神道国教化, 国民教化). Chính sách “tế chính nhất trí” và “quốc giáo hóa Thần đạo” Chính phủ Minh Trị đã tiến hành phối hợp tôn giáo (trường hợp này là Thần đạo, Shintō)1 với chính trị, biến Thần đạo trở thành quốc giáo và dùng Thần đạo dễ bề cai trị thần dân. Sau khi Thần đạo trở thành quốc giáo, các giáo phái Thần đạo thi nhau tách ra.
Ban đầu, chính phủ Minh Trị tiến hành khôi phục chính sách “tế chính nhất trí” có từ thời cổ đại và chế độ Thần Kỳ Quan2. Chính phủ dùng chế độ này để ___________ 1 Thần đạo (Shinto, 神道): là một tôn giáo Nhật Bản được hình thành từ những tín ngưỡng bản địa có nguồn gốc từ thời Cổ đại [31,tr. 2 Thần Kỳ Quan: tức cơ quan chuyên lo việc tế tự. Thời cổ đại chức này được coi là cao nhất trong triều đình [9,tr.
14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dễ dàng quản lí tất cả các ngôi đền Thần đạo trong cả nước. Thời kỳ này, có thể nói, quyền lực tôn giáo được ưu tiên ngang hàng với quyền lực chính trị và, giới chính trị đã lợi dụng sức mạnh của tôn giáo. Tất cả các đền (Jinja/神社) trong cả nước trở thành tài sản “công” của nhà nước, tiêu biểu trong số đó có đền Ise (Y Thế Thần Cung, 伊勢神宮)3. Trong thời kỳ này, sự hình thành một số ngôi đền có chức năng đặc biệt như đền Yasukuni (Tĩnh Quốc Thần Xã, 靖国神社)4 – chuyên trách thờ linh hồn các tử sĩ của đất nước, mang một ý nghĩa quan trọng cho phong trào cổ vũ tư tưởng quân phiệt về sau này.
Chính sách đối với Phật giáo và Kito giáo “Chính sách quốc giáo hóa Thần đạo” bao hàm cả chính sách đàn áp Phật giáo5. Trong lịch sử nước Nhật, Thần đạo và Phật giáo từng có giai đoạn hỗn dung rồi Phật giáo từng lấn át Thần đạo, vì vậy, để quốc giáo hóa Thần đạo thì trước tiên chính phủ ra Sắc lệnh “phân li Thần - Phật” (神仏の分離), tức là tách Thần đạo độc lập với Phật giáo để củng cố địa vị của Thần đạo. Sắc lệnh phân li Thần - Phật đã gây ra phong trào “bài Phật hủy Thích”6 dẫn đến tình trạng Phật giáo bị xã hội đả kích nặng nề. Dân chúng khắp nơi quay lưng lại với các tín đồ Phật giáo.
Một chính sách tôn giáo khác nằm trong nội dung của chính sách “quốc giáo hóa Thần đạo” là tiếp tục thực hiện chính sách đàn áp Kitô giáo có từ thời chính quyền Mạc Phủ7 [74]. _____________ 3 Y Thế Thần Cung: một trong những trung tâm Thần đạo mang tính quốc gia được xây dựng từ thời cổ đại [9,tr. 4 Đền Yasukuni (Tĩnh Quốc): là đền thờ Thần đạo được xây dựng vào năm Meiji thứ 2 (1869) để thờ những người được cho là đã tuẫn tử vì tổ quốc từ cuối thời Tokugawa và đầu thời Meiji [9,tr.271] 5 Phật giáo từng giữ vị trí quốc giáo dưới thể chế Mạc Phiên (幕藩体制) 6 Bài Phật hủy Thích: là bài bác giáo lý Phật giáo, phá bỏ tượng Phật – một phong trào bài trừ Phật giáo nổi tiếng để thực hiện chính sách phân li Thần đạo và Phật giáo nhằm thượng tôn Thần đạo và đưa tôn giáo này lên làm quốc giáo Nhật Bản, dựa theo phương châm tế chính nhất trí diễn ra vào những năm đầu thời Minh Trị [31,tr. 7 Chế độ Mạc Phủ (Bakufu 幕府): kéo dài từ năm 1192 cho đến năm 1867, có ba Mạc phủ là Mạc phủ Kamakura, Mạc phủ Muromachi, Mạc phủ Edo.
Từ năm 1867 đến năm 1868, trong cuộc Minh Trị Duy Tân dưới ngọn cờ của Thiên hoàng Minh Trị (được sự ủng hộ của các lãnh chúa Daimyō cùng tầng lớp tư sản), Mạc phủ Tokugawa sụp đổ, Hoàng gia lấy lại đại quyền. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Có thể nói chính sách tôn giáo ở thời kỳ đầu của chính phủ Minh Trị vừa quá khích, vừa thiếu tính nhất quán. Quá trình triển khai các chính sách này chỉ là phong trào giác ngộ thời đại của giới Thần đạo và giới học giả. Dù vậy, sự thúc đẩy các chính sách này của chính phủ Minh Trị có tính nhất quán đường lối chính trị theo mô hình “kiến thiết, xây dựng mô hình nhà nước tập quyền lấy trung tâm là Thần cách hóa Thiên hoàng”.
Thực tế, các nhà nghiên cứu chưa tìm ra hiệu quả của các chính sách này mà chỉ nhận thấy rằng: chúng có khuynh hướng phủ định tín ngưỡng truyền thống của thần dân, gây hỗn loạn xã hội và tạo ra nhiều hình thức phản ứng chống đối từ phía dân chúng. Đứng trước tình hình đó, chính phủ Minh Trị lại tiến hành thay đổi chính sách tôn giáo khác. Chính sách “giáo hóa quốc dân” Sau khi chính sách quốc giáo hóa Thần đạo gặp trở ngại, Chính phủ Minh Trị đã nhanh chóng thay đổi, chuyển hướng sang chính sách mới là đưa Phật giáo vào chính sách giáo hóa quốc dân. Vào năm 1872, Thần Kỳ Quan bị xóa bỏ và thay vào đó thành lập Sở Giáo Bộ (教部省)8.
Chính sách giáo hóa quốc dân có nội dung chính là “tam điều giáo tắc” (三条教則) đề cao những luồng tư tưởng như kính thần ái quốc, thiên lí nhân đạo…” (敬神愛国, 天理人道… ). Nội dung của Tam điều giáo tắc là nhằm đề cao vai trò của Thiên tử và để thống nhất lòng dân. Thời kỳ này, các hình thức tập tục tín ngưỡng dân gian bị chính phủ trấn áp mạnh. Chính phủ vẫn giữ thái độ gay gắt đối với tôn giáo nước ngoài như Kitô giáo [74].
Nét đặc trưng của chính sách tôn giáo thời kỳ này là: Phật giáo đã được coi trọng hơn trước, trong giới lãnh đạo tôn giáo đã xuất hiện nhiều tăng lữ nhà Phật. Tuy nhiên, mâu thuẫn giữa Thần đạo và Phật giáo chưa hẳn đã được xóa bỏ hoàn toàn. Mặc dù, địa vị của Phật giáo trong xã hội đã được cải thiện phần nào, nhưng, các nhà sư vẫn luôn bị lép vế so với Thần đạo. Vì vậy, họ luôn tỏ thái độ bất mãn với xã hội.
Vấn đề đàn áp Kitô giáo9 có phần cải thiện hơn đó là: một số lãnh đạo của Kitô giáo trước kia bị bắt giam thì nay đã được trả lại tự do. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở thời kỳ này, chính phủ Minh trị đã phái cử đoàn sứ giả sang các nước Âu - Mỹ để học hỏi và nhằm mục đích là cải thiện hiệp ước bất bình đẳng. Nhận thấy chính sách “đàn áp Kitô giáo” gây trở ngại lớn đối với kế hoạch này, chính phủ Minh Trị buộc phải thay đổi thái độ gay gắt với Kitô giáo và tỏ ra “khoan dung” hơn đối với tôn giáo này, tuy nhiên không hẳn là chính phủ Minh Trị đã xóa bỏ hoàn toàn định kiến khắt khe đối với Kitô giáo. Chính sách “giáo hóa quốc dân” vốn dĩ không công nhận Kitô giáo, chính vì vậy, việc chính phủ buộc phải “mặc nhận” Kitô giáo nghĩa là báo hiệu cho sự thất bại của chính sách này.
Năm 1875, các phái Chân tông quyết định rút khỏi Đại Giáo Viện.