Chính sách tiền tệ, tỷ giá hối đoái và giá chứng khoán ở Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueh chính sách tiền tệ tỷ giá hối đoái và giá chứng khoán ở việt nam, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải thiện thực tiễn.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

83
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

1.1. Đặt vấn đề nghiên cứu

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Kết cấu đề tài

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

2.1. Các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ tỷ giá hối đoái, giá chứng khoán và CSTT

2.1.1. CSTT tác động lên giá chứng khoán

2.2. Những biến động về tỷ giá, lãi suất và chỉ số VN-Index tại Việt Nam trong thời gian nghiên cứu từ năm 2004 đến nay

2.2.1. Tỷ giá VND/USD

2.2.2. Chỉ số VN-Index

2.2.3. Biến động của tỷ giá và chỉ số VN-Index

2.2.4. Biến động của lãi suất và chỉ số VN-Index

2.2.5. Biến động của lãi suất và tỷ giá

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU

3.1. Dữ liệu và các biến

3.2. Mô hình nghiên cứu

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN KẾT QUẢ

4.1. Thống kê mô tả dữ liệu

4.2. Một số kiểm định mô hình

4.2.1. Kiểm định tính dừng

4.2.2. Kiểm định độ trễ cho mô hình

4.2.3. Kiểm định tính ổn định của mô hình

4.2.4. Kiểm định tự tương quan

4.2.5. Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi của mô hình

4.2.6. Kiểm định Granger

4.3. Ước lượng mô hình SVAR

4.4. Phân tích hàm phản ứng xung

4.4.1. Phản ứng của giá chứng khoán khi có cú sốc chính sách tiền tệ

4.4.2. Phản ứng của giá chứng khoán khi bị tác động bởi tỷ giá

4.4.3. Phản ứng của tỷ giá khi bị tác động bởi CSTT

4.4.4. Phản ứng của tỷ giá, giá chứng khoán, CSTT khi bị tác động bởi sản lượng và lạm phát

4.5. Phân rã phương sai biến tỷ giá, giá chứng khoán, lãi suất liên ngân hàng

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN

5.1. Kết luận

5.2. Hạn chế của đề tài

5.3. Hướng nghiên cứu tiếp theo

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về chính sách tiền tệ và tác động đến tỷ giá hối đoái

Chính sách tiền tệ (CSTT) đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu. Tại Việt Nam, CSTT không chỉ ảnh hưởng đến lạm phát mà còn tác động mạnh mẽ đến tỷ giá hối đoái và giá chứng khoán. Việc hiểu rõ mối quan hệ này giúp các nhà đầu tư và nhà hoạch định chính sách có những quyết định đúng đắn hơn.

1.1. Định nghĩa và vai trò của chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ là tập hợp các biện pháp mà ngân hàng trung ương áp dụng để kiểm soát lượng tiền trong nền kinh tế. CSTT có thể được thực hiện thông qua việc điều chỉnh lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc và các công cụ khác. Mục tiêu chính của CSTT là ổn định giá cả, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm tỷ lệ thất nghiệp.

1.2. Tác động của CSTT đến tỷ giá hối đoái

CSTT có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ giá hối đoái thông qua việc điều chỉnh lãi suất. Khi lãi suất tăng, đồng nội tệ trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài, dẫn đến việc tăng cầu cho đồng nội tệ và làm giảm tỷ giá hối đoái. Ngược lại, khi CSTT nới lỏng, tỷ giá có thể tăng lên do giảm cầu cho đồng nội tệ.

II. Những thách thức trong việc điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam

Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc điều hành CSTT, đặc biệt là trong bối cảnh lạm phát và biến động tỷ giá. Các yếu tố như tình hình kinh tế toàn cầu, chính sách tài khóa và các yếu tố bên ngoài khác đều có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của CSTT.

2.1. Tác động của lạm phát đến chính sách tiền tệ

Lạm phát cao có thể làm giảm hiệu quả của CSTT. Khi lạm phát tăng, ngân hàng trung ương thường phải tăng lãi suất để kiểm soát giá cả, điều này có thể dẫn đến giảm đầu tư và tăng trưởng kinh tế. Việc duy trì lạm phát ở mức hợp lý là một thách thức lớn cho các nhà hoạch định chính sách.

2.2. Biến động tỷ giá và ảnh hưởng đến nền kinh tế

Tỷ giá hối đoái biến động có thể gây ra những tác động tiêu cực đến nền kinh tế, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Sự không ổn định của tỷ giá có thể làm tăng chi phí sản xuất và giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế.

III. Phương pháp nghiên cứu tác động của CSTT đến giá chứng khoán

Nghiên cứu này sử dụng mô hình SVAR để phân tích mối quan hệ giữa CSTT, tỷ giá hối đoái và giá chứng khoán tại Việt Nam. Dữ liệu được thu thập từ các nguồn chính thức và được phân tích để xác định các tác động của CSTT đến thị trường chứng khoán.

3.1. Mô hình SVAR và ứng dụng trong nghiên cứu

Mô hình SVAR (Structural Vector Autoregression) cho phép phân tích mối quan hệ giữa các biến kinh tế trong một hệ thống. Mô hình này giúp xác định cách mà CSTT tác động đến giá chứng khoán và tỷ giá hối đoái thông qua các cú sốc từ các biến khác.

3.2. Dữ liệu và biến nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu bao gồm lãi suất liên ngân hàng, tỷ giá hối đoái VND/USD, chỉ số giá tiêu dùng và chỉ số VN-Index. Dữ liệu được thu thập theo tháng từ năm 2004 đến 2018, giúp cung cấp cái nhìn tổng quan về mối quan hệ giữa các biến này trong thời gian dài.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy CSTT có tác động mạnh đến giá chứng khoán và tỷ giá hối đoái tại Việt Nam. Việc điều chỉnh CSTT có thể dẫn đến những biến động lớn trên thị trường chứng khoán, ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư.

4.1. Phản ứng của giá chứng khoán khi có cú sốc CSTT

Khi có cú sốc từ CSTT, giá chứng khoán thường phản ứng tiêu cực trong ngắn hạn. Các nhà đầu tư có xu hướng bán tháo cổ phiếu để bảo toàn vốn, dẫn đến sự giảm giá trên thị trường. Tuy nhiên, trong dài hạn, giá chứng khoán có thể phục hồi nếu nền kinh tế ổn định.

4.2. Tác động của tỷ giá đến giá chứng khoán

Tỷ giá hối đoái cũng có tác động đáng kể đến giá chứng khoán. Khi tỷ giá tăng, chi phí nhập khẩu tăng lên, ảnh hưởng đến lợi nhuận của các doanh nghiệp xuất khẩu. Điều này có thể dẫn đến sự giảm giá cổ phiếu của các công ty này trên thị trường.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của chính sách tiền tệ tại Việt Nam

Chính sách tiền tệ tại Việt Nam cần được điều chỉnh linh hoạt để ứng phó với các biến động của nền kinh tế toàn cầu. Việc hiểu rõ mối quan hệ giữa CSTT, tỷ giá hối đoái và giá chứng khoán sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra những quyết định đúng đắn hơn trong tương lai.

5.1. Đề xuất chính sách cho tương lai

Các nhà hoạch định chính sách cần xem xét việc điều chỉnh CSTT một cách linh hoạt để ứng phó với các cú sốc từ bên ngoài. Việc duy trì lãi suất ổn định và kiểm soát lạm phát sẽ giúp tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi cho các doanh nghiệp.

5.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc phân tích sâu hơn mối quan hệ giữa CSTT và các yếu tố kinh tế vĩ mô khác. Điều này sẽ giúp cung cấp cái nhìn toàn diện hơn về tác động của CSTT đến nền kinh tế Việt Nam.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh chính sách tiền tệ tỷ giá hối đoái và giá chứng khoán ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Giới thiệu đề tài Trình bày tổng quan về bài luận văn: lý do chọn đề tài; muc tiêu nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu, nội dung nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm Trình bày cơ sơ lý thuyết về CSTT. Các nghiên cứu thực nghiệm ở thế giới và Việt Nam về quan hệ giữa CSTT; tỷ giá và thị trường chứng khoán; Chương 3: Dữ liệu, phương pháp nghiên cứu Trình bày các biến nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, mô hình định lượng. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận kết quả Tổng quát lại kết quả nghiên cứu và so sánh với kết quả nghiên cứu tương tự tại Việt Nam và trên thế giới.

Chương 5: Kết luận Tóm tắt kết quả nghiên cứu đồng thời đưa ra kết luận, kiến nghị và hạn chế của đề tài. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ tỷ giá hối đoái, giá chứng khoán và CSTT.1 CSTT tác động lên giá chứng khoán: Theo Smirlock & Yawitz (1985), bắt nguồn từ mô hình chiết khấu cổ phần để định giá cổ phiếu, CSTT ảnh hưởng đến lãi suất thị trường được dự đoán sẽ ảnh hưởng đến giá cổ phiếu thông qua hai kênh chính: Đầu tiên là CSTT thắt chặt có thể được thực hiện thông qua việc tăng lãi suất chính sách, cuối cùng sẽ dẫn đến sự gia tăng lãi suất thị trường được các nhà đầu tư sử dụng trong mô hình chiết khấu dòng tiền để định giá. Kênh thứ hai là thông qua tác động của nó đến kỳ vọng của các khoản tiền mặt tương lai như thu nhập của các công ty. Trong chừng mực nào đó, sự thắt chặt tiền tệ có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế thực sự, nó sẽ ảnh hưởng đến tiềm năng thu nhập trong tương lai của công ty.

Bernanke và Gertler (1995) giải thích thì việc tăng lãi suất gây ra bởi thắt chặt tiền tệ có thể làm giảm tiền mặt ròng của công ty do sự sụt giảm chi tiêu của người tiêu dùng, giảm tổng cầu trong khi tiền lãi vay lại tăng. Điều này buộc các công ty phải hủy bỏ hoặc trì hoãn cơ hội đầu tư ban đầu và do đó làm giảm thu nhập tiềm năng trong tương lai của công ty. Mặt khác, tình trạng tiền tệ thắt chặt có thể hạn chế việc cung cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại cho doanh nghiệp. Theo Hamburger và Kochin (1972) và Mishkin (1996), việc áp dụng chính sách hạn chế thanh khoản cũng ảnh hưởng đến giá cổ phiếu.

Vì chính sách tiện tệ thắt chặt nên người dân buộc phải bán tài sản(trong đó có cổ phiếu) để đảm bảo lượng tiền mặt nắm giữ, từ đó làm giảm giá chứng khoán. Trên thế giới và tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu thức nghiệm ở nhiều quốc gia nhằm cũng cố cho mối quan hệ ngược chiều giữa lãi suất và giá chứng khoán như: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Thị trường chứng khoán Kuwait trong giai đoạn 1981-1997 trong nghiên cứu của nhóm tác giả Al-Qenae, Rashid, Carmen Li và Bob Wearing (2002) cho thấy giá cổ phiếu có mối quan hệ ngược chiều với lãi suất và lạm phát. Nghiên cứu thực nghiệm của Bernanke và Kuttner (2005) đã thấy rằng CSTT ảnh hưởng đến giá cổ phiếu thông qua phần bù rủi ro của cổ phiếu. Những kỳ vọng lờ mờ của một cuộc suy thoái do điều kiện thắt chặt tiền tệ có thể khiến các NĐT xem các cổ phiếu như các khoản đầu tư mạo hiểm, đặc biệt là với sự biến động tăng lên trong thời kỳ suy thoái.

Để bù đắp cho phần rủi ro tăng thêm, các nhà đầu tư sẽ yêu cầu mức lợi nhuận cao hơn mà chỉ có thể đạt được thông qua giá cổ phiếu thấp hơn. Al-Qenae, Rashid, Carmen Li và Bob Wearing (2002) trong đề tài “The information content of earnings on stock price: The Kuwait Stock Exchange” đã đo lường ảnh hưởng của các yếu tố như lợi nhuận trên mỗi cổ phần (EPS), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), lạm phát và lãi suất đến các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Kuwait trong giai đoạn 1981-1997. Kết quả cho thấy giá cổ phiếu với EPS và GNP có mối quan hệ cùng chiều nhưng có mối quan hệ ngược chiều với lãi suất và lạm phát. Khi nghiên cứu mối liên hệ giữa giá chứng khoán của thị trường chứng khoán Bogota và lãi suất cho vay liên ngân hàng, nhóm tác giả gồm Luis Eduardo Arango, Andrés González, và Carlos Esteban Posada (2002) với dữ liệu theo ngày từ tháng 1 năm 1994 tới tháng 12 năm 2000 với mô hình GARCH cho thấy không tồn tại mối quan hệ giữa hai biến này.

Joel Hinaunye Eita (2012) sử dụng mô hình VECM để nghiên cứu mối quan hệ của các nhân tố vĩ mô đến thị trường chứng khoán Namibia với các biến là giá chứng khoán; cung tiền; giá cả (lạm phát); thu nhập (GDP); tỷ giá; lãi suất từ quý 1/1998 đến quý 4/2009.Kết quả cho thấy giá chứng khoán ở Namibia được xác định bởi GDP; tỷ giá; lạm phát; lãi suất; cung tiền. Cụ thể, một sự gia tăng trong cung tiền, GDP sẽ làm tăng giá chứng khoán trong khi gia tăng lạm phát và lãi suất làm giảm giá chứng khoán. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Imad Zeyad Ramadan (2015) nghiên cứu tác động của các yếu tố vĩ mô đến giá cổ phiếu của 77 công ty Công nghiệp ở Jordan trong thời gian từ năm 2000 đến 2014. Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy lãi suất và lạm phát tác động ngược chiều lên giá chứng khoán trong khi cung tiền và GDP là tác động cùng chiều lên giá chứng khoán.

AAMD Amarasinghe (2015) sử dụng kiểm định Granger và ADF để kiểm tra mối quan hệ giữa giá chứng khoán và lãi suất ở Sri Lanka từ tháng 01/2007 đến 12/2013. Kết quả, tác giả tìm thấy mối quan hệ một chiều từ lãi suất lên giá chứng khoán và đó là mối quan hệ ngược chiều. Ở Việt Nam, Nguyễn Phúc Cảnh với đề tài “Truyền dẫn của CSTT qua kênh giá tài sản tài chính: nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam” đăng trên Phát triển và hội nhập tháng 12/2014. Bằng mô hình SVAR và dữ liệu các biến trong khoản thời gian từ 2003-2012 đã nghiên cứu kênh truyền dẫn của CSTT qua kênh giá tài sản tài chính với các biến gồm: Chỉ số hàng hóa thế giới; tỷ giá hối đoái danh nghĩa; sản xuất công nghiệp; chỉ số giá tiêu dùng; lãi suất ngắn hạn; cung tiền; chỉ số thị trường chứng khoán.

Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy: CSTT có tác động mạnh đến chỉ số VN –Index, HNX – Index thông qua cung tiền và lạm phát. Đồng thời chỉ số VN – Index phản ứng không rõ ràng với lãi suất điều hành của NHNN Việt Nam, sản lượng công nghiệp Việt Nam và các cú sốc giá dầu thế giới. Nhóm tác giả Huỳnh Thị Cẩm Hà, Lê Thị Lanh, Lê Thị Hồng Minh và Hoàng Thị Phương Anh (2014) với đề tài “Kiểm định các nhân tố vĩ mô tác động lên thị trường chứng khoán Việt Nam” sử dụng mô hình ECM để xác định mối quan hệ trong ngắn hạn và VECM để kiểm tra mối quan hệ trong dài hạn của các biến gồm cung tiền; tỷ giá hối đoái; lãi suất cho vay;giá trị sản lượng công nghiệp; chỉ số giá tiêu dùng đến thị trường chứng khoán Việt Nam từ 2001 đến năm 2013. Kết quả cho thấy giá chứng khoán có mối quan hệ cùng chiều với cung tiền và giá trị sản lượng công nghiệp và có mối quan hệ ngược chiều với lãi suất cho vay và CPI.

Nhóm tác giả gồm Dương Ngọc Mai Phương; Vũ Thị Phương Anh, Đỗ Thị Trúc Đào, Nguyễn Hữu Tuấn (2015) với đề tài nghiên cứu “Tác động của Chính LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 sách tiền tệ đến thị trường chứng khoán:bằng chứng tại Việt nam”. Bằng mô hình SVAR, nghiên cứu gồm các biến như: đại diện cho biến ngoại sinh là lãi suất chính sách của Mỹ, các biến đại diện cho nền kinh tế trong nước gồm: lãi suất, lạm phát, sản lượng công nghiệp, cung tiền, và giá chứng khoán. Nghiên cứu cho thấy kết quả rằng thị trường chứng khoán Việt Nam chịu ảnh hưởng lớn từ CSTT. Việc mở rộng hay thắt chặt CSTT sẽ làm cho thị trường chứng khoán giảm xuống hay tăng lên tương ứng.

Tác giả Thân Thị Thu Thủy và Võ Thị Thùy Dương (2015) đã có bài nghiên cứu “Sự tác động của các nhân tố vĩ mô đến các chỉ số giá cổ phiếu tại HOSE”. Không chỉ xem xét, đánh giá tác động đến chỉ số VN-Index nói chung mà tác giả còn xem xét tác động đến các nhóm chỉ số như: VNMidcap-Index, VN30-Index, VNSmallcap-Index, VN100-Index, VNAllshare-Index. Kết quả sau khi tác giả nghiên cứu hồi quy cho thấy trong dài hạn giá trị sản lượng công nghiệp có tác động tích cực đến hầu hết các chỉ số giá cổ phiếu tại HOSE trong khi tỷ giá hối đoái, lãi suất; chỉ số giá cổ phiếu tại HOSE; cung tiền thì nhận tác động tiêu cực từ lạm phát.2 Chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái Một kênh tài sản khác cũng có vai trò không kém phần quan trọng trong việc xây dựng CSTT là tỷ giá hối đoái. Tương tự như giá cổ phiếu, mối quan hệ giữa CSTT và tỷ giá hối đoái là nội sinh.

CSTT ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ giá hối đoái. Khi CSTT thắt chặt làm tăng lãi suất, làm cho tiền gửi bằng đồng nội tệ hấp dẫn hơn đồng ngoại tệ, từ đó làm tăng nguồn vốn đầu tư vào nội tệ. Do đó làm tăng cầu về nội tệ, giá nội tệ tăng tức tỷ giá giảm. Chow(2004) nghiên cứu các kênh truyền dẫn CSTT ở Singapore bằng cách sử dụng tỷ giá hối đoái thực.

Nghiên cứu chứng minh sản lượng phản ứng với cú sốc CSTT thắt chặt đồng thời cho thấy kênh truyền dẫn tỷ giá có tác động mạnh hơn kênh lãi suất trong việc truyền dẫn những cú sốc của CSTT. Poddar, Khachatryan, và Sab (2006) xem xét các kênh truyền dẫn ở Jordan qua phương pháp SVAR gồm: kênh tỷ giá hối đoái; kênh lãi suất; kênh giá tài sản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 và kênh tín dụng. Tác giả nhận thấy CSTT nói chung là không hiệu quả trong việc ảnh hưởng đến sản lượng, tỷ giá hối đoái hoặc giá tài sản. Mô hình VECTO hiệu chỉnh sai số (VECM) được Caporale (2002) sử dụng với dữ liệu chuỗi thời gian dài từ 1991-2001 của các quốc gia châu Á gồm: Thái Lan; Hàn Quốc; Indonesia; Philippines để kiểm tra ảnh hưởng của của việc thắt chặt tiền tệ lên tỷ giá hối đoái trong cuộc khủng hoảng Châu Á.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ