Chương I: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu. 7 Chương II: Cơ sở lý luận về chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực năng lượng tái tạo. Chương III: Thực trạng chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực năng lượng tái tạo tại Việt Nam. Chương IV: Định hướng và đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách.
8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO LĨNH VỰC NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO 2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 2. Khái niệm FDI FDI xuất hiện khi một nhà đầu tư ở một nước mua tài sản có ở một nước khác với ý định quản lý nó. Quyền kiểm soát (control- tham gia vào việc đưa ra các quyết định quan trọng liên quan đến chiến lược và các chính sách phát triển của công ty) là tiêu chí cơ bản giúp phân biệt giữa FDI và đầu tư chứng khoán.
Theo các chuẩn mực của Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) và Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), FDI được định nghĩa bằng một khái niệm rộng hơn: Theo IMF: FDI nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp. Theo OECD: Đầu tư trực tiếp được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: (i) Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; (ii) Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; (iii) Tham gia vào một doanh nghiệp mới; (iv) Cấp tín dụng dài hạn (> 5 năm). Khái niệm của WTO: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có một tài sản ở nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền kiểm soát tài sản đó. Quyền kiểm soát là dấu hiệu để phân biệt FDI với các hoạt động đầu tư khác.
Theo qui định của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ban hành năm 1996 "Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tư theo qui định của Luật này". Luật Đầu Tư năm 2005 tại Việt Nam có đưa ra khái niệm về “đầu tư”, “đầu tư trực tiếp”, “đầu tư nước ngoài” nhưng không đưa ra khái niệm “đầu tư trực tiếp nước ngoài”. Tuy nhiên, từ các khái niệm trên có thể hiểu: “FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia kiểm soát hoạt động đầu tư ở Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia kiểm soát hoạt động đầu tư ở nước ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. 9 Tóm lại có thể hiểu FDI là một hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một nước đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư cho một dự án ở nước khác nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát dự án đó.
Phân loại FDI 2. Phân loại theo cách thức xâm nhập: Đầu tư mới (greenfield investment): Chủ đầu tư nước ngoài góp vốn để xây dựng một cơ sở sản xuất, kinh doanh mới tại nước nhận đầu tư. Sáp nhập và mua lại (merger & acquisition): chủ đầu tư nước ngoài mua lại hoặc sáp nhập một cơ sở sản xuất kinh doanh sẵn có ở nước nhận đầu tư. Phân loại theo quan hệ về ngành nghề, lĩnh vực giữa chủ đầu tư và đối tượng tiếp nhận đầu tư FDI theo chiều dọc (vertical FDI): nhằm khai thác nguyên, nhiên vật liệu (Backward vertical FDI) hoặc để gần gũi người tiêu dùng hơn thông qua việc mua lại các kênh phân phối ở nước nhận đầu tư (Forward vertical FDI).
FDI theo chiều ngang (horizontal FDI): hoạt động FDI được tiến hành nhằm sản xuất cùng loại sản phẩm hoặc các sản phẩm tương tự như chủ đầu tư đã sản xuất ở nước chủ đầu tư. FDI hỗn hợp (conglomerate FDI): Doanh nghiệp chủ đầu tư và doanh nghiệp tiếp nhận đầu tư hoạt động trong các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau. Phân loại theo định hướng của nước nhận đầu tư FDI thay thế nhập khẩu: hoạt động FDI được tiến hành nhằm sản xuất và cung ứng cho thị trường nước nhận đầu tư các sản phẩm mà trước đây nước này phải nhập khẩu. FDI tăng cường xuất khẩu: Thị trường mà hoạt động đầu tư này nhắm tới không phải hoặc không chỉ dừng lại ở nước nhận đầu tư mà là các thị trường rộng lớn hơn trên toàn thế giới và có thể có cả thị trường ở nước chủ đầu tư.
FDI theo các định hướng khác của Chính phủ 2. Phân loại theo định hướng của chủ đầu tư: FDI phát triển (expansionary FDI): nhằm khai thác các lợi thế về quyền sở hữu của doanh nghiệp ở nước nhận đầu tư. FDI phòng ngự (defensive FDI): nhằm khai thác nguồn lao động rẻ ở các nước nhận đầu tư với mục đích giảm chi phí sản xuất và như vậy lợi nhuận của các chủ đầu tư cũng sẽ tăng lên. Phân loại theo hình thức pháp lý: 10 Tùy theo qui định của luật pháp nước nhận đầu tư, FDI có thể được tiến hành dưới nhiều hình thức pháp lý khác nhau.
ở Việt Nam, FDI được tiến hành dưới các hình thức pháp lý chủ yếu là: Hợp đồng hợp tác kinh doanh: là văn bản ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên để tiến hành đầu tư kinh doanh ở Việt Nam trong đó qui định trách nhiệm vụ chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lập pháp nhân mới. Điểm đặc biệt của hình thức này là không hình thành pháp nhân mới. Doanh nghiệp liên doanh: là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký giữa 2 bên hoặc nhiều bên. Khác với hợp đồng hợp tác kinh doanh, liên doanh hình thành pháp nhân mới ở Việt Nam và là pháp nhân Việt Nam.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Vai trò của FDI 2. Vai trò đối với tăng trưởng kinh tế Thứ nhất, FDI góp phần bổ sung một lượng vốn lớn cho đầu tư phát triển Trong thời kỳ đầu mới phát triển, trình độ kinh tế của các nước đang phát triển thấp, khả năng tích lũy vốn (tiết kiệm) trong nội bộ nền kinh tế rất hạn chế. Bên cạnh đó, ở nhiều nước tâm lý chung của dân chúng là chưa yên tâm bỏ vốn đầu tư.
Trong khi đó nhu cầu vốn đầu tư để phát triển nhằm rút ngắn khoảng cách với các nước công nghiệp phát triển lại rất lớn. Đầu tư quốc tế (FDI), với vai trò là một nguồn vốn bổ sung từ bên ngoài, giúp các nước kể trên giải được bài toán thiếu vốn đầu tư và dần thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn. Thứ hai, FDI đóng góp vào bù đắp thâm hụt cán cân vãng lai trên cán cân thanh toán Cán cân thanh toán (BOP) thông thường bao gồm các hạng mục sau đây: Cán cân vãng lai (Current Account - CA), Cán cân vốn (Capital Account – KA), Khoản mục lỗi và sai sót (OM), Cán cân tổng thể (OB), Cán cân bù đắp chính thức (OFB. Thông thường, cán cân tổng thể của các quốc gia không ở trạng thái cân bằng, cán cân tổng thể có thể thặng dư (OB > 0) hoặc thâm hụt (OB < 0).
Nếu các hạng mục khác không thay đổi, để cân bằng cán cân thanh toán, một quốc gia đang/kém phát triển với cán cân vãng lai thâm hụt cần thu hút dòng vốn chảy vào nền kinh tế nhằm thặng dư cán cân vốn. Bằng cách này, dòng vốn FDI có thể bù đắp sự thiếu hụt mậu dịch và ngoại hối và thâm hụt tài khoản vãng lai trên cán cân thanh toán. Thứ ba, FDI mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới 11 Ở nhiều nước, kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp FDI chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Bên cạnh đó, thông qua mối quan hệ hiện có với các nhà đầu tư nước ngoài, hàng hóa của doanh nghiệp FDI có thể tiếp cận thị trường thế giới.
Vai trò này của FDI được thể hiện rõ ở các quốc gia áp dụng chính sách thu hút FDI định hướng xuất khẩu. Thứ tư, FDI tăng nguồn thu của chính phủ Các nguồn thu của Chính phủ bao gồm 6 hạng mục: Thuế và phí, Cho thuê tài sản quốc gia, Bán tài sản quốc gia, Lợi nhuận của doanh nghiệp nhà nước, Viện trợ và Vay nợ Như vậy, với việc tăng trưởng của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và sự xuất hiện của các doanh nghiệp FDI. Về lý thuyết, chính phủ có thể kỳ vọng thu được thuế và phí từ hoạt động đầu tư kinh doanh của các doanh nghiệp này, đóng góp vào ngân sách quốc gia. Vai trò đối với tạo việc làm và nâng cao kỹ năng lao động Thứ nhất, FDI tạo việc làm: Tác động của FDI đến việc làm trong nền kinh tế chủ nhà phụ thuộc vào số lượng việc làm được tạo ra trực tiếp trong công ty con nước ngoài và tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của hoạt động của công ty con đối với công ty con nước ngoài.
FDI có thể tăng việc làm một cách gián tiếp thông qua việc tạo thêm việc làm tại các nhà cung cấp và nhà phân phối. FDI làm tăng số lượng việc làm ở nước sở tại một cách trực tiếp khi nó liên quan đến việc thành lập một công ty con nước ngoài mới hoặc mở rộng các công ty con hiện có. Thứ hai, FDI góp phần nâng cao kỹ năng lao động: Năng suất lao động ở doanh nghiệp FDI thường cao hơn doanh nghiệp trong nước. Đặc biệt với hình thức doanh nghiệp liên doanh, nhà đầu tư nước sở tại tham gia quản lý với nhà đầu tư nước ngoài nên có cơ hội tiếp cận, học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài trong sản xuất kinh doanh.
doanh nghiệp, từng bước nâng cao kiến thức kinh doanh hiện đại. Ví dụ: kinh nghiệm xây dựng và đánh giá dự án, kinh nghiệm tổ chức và điều hành doanh nghiệp,.