Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG R&D TRONG DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. Một số vấn đề chung về hoạt động R&D 1. Khái niệm và phân loại hoạt động R&D Theo UNESCO, khoa học là "Hệ thống các tri thức về mọi loại quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy”.
Theo quan niệm của UNESCO, NCKH được chia làm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm, gọi tắt là triển khai, viết tắt là R&D. - Nghiên cứu cơ bản là những nghiên cứu (lý thuyết hoặc thực nghiệm) nhằm tạo ra các tri thức mới về căn nguyên của các sự vật và hiện tượng, chưa có một ứng dụng đặc biệt nào. - Nghiên cứu ứng dụng là những nghiên cứu nhằm tạo ra các tri thức mới, nhưng chủ yếu là nhằm vào mục đích (trả lời câu hỏi “nghiên cứu để làm cái gì”) hoặc mục tiêu (trả lời câu hỏi “nghiên cứu cái gì?”) thực tế đặc biệt. - Triển khai là những nghiên cứu hoặc thực nghiệm nhằm tạo ra các vật liệu mới, sản phẩm mới, các hệ thống và dịch vụ mới nhằm hoàn thiện những sản phẩm vốn tồn tại.
UNESCO đưa ra một hình dung chi tiết về nội dung của triển khai, gồm 3 giai đoạn: 1) Chế tác mẫu sơ khởi (Prototypes): làm ra mẫu đầu tiên, như một bước hiện thực hóa tư tưởng khoa học thành sản phẩm hoặc công nghệ để chuẩn bị đưa vào sản xuất. 2) Làm pilot (Installations pilots): thử nghiệm để tạo ra quy trình sản xuất, tức tạo ra công nghệ sản xuất sản phẩm theo prototype đã làm thử thành công trong labô ở giai đoạn Prototype. 3) Sản xuất thử nghiệm (Production experimental): sản xuất thử, các nhà công nghệ thường gọi đó là giai đoạn sản xuất “loạt 0”, để khẳng định độ tin cậy của công nghệ. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Vũ Cao Đàm, “NCKH là sự phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người” [9, tr.
Có nhiều cách phân loại NCKH, nếu phân theo giai đoạn của nghiên cứu thì người ta phân chia thành 3 loại: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai (tương tự như theo quan niệm của UNESCO). Luật KH&CN năm 2013 đưa ra khái niệm “NCKH là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn”. Trong đó, - Nghiên cứu cơ bản là hoạt động nghiên cứu nhằm khám phá bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy. - Nghiên cứu ứng dụng là hoạt động nghiên cứu vận dụng kết quả NCKH nhằm tạo ra công nghệ mới, đổi mới công nghệ phục vụ lợi ích của con người và xã hội.
- Phát triển công nghệ là hoạt động sử dụng kết quả nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, thông qua việc triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm để hoàn thiện công nghệ hiện có, tạo ra công nghệ mới. - Triển khai thực nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả NCKH và phát triển công nghệ để tạo ra sản phẩm công nghệ mới ở dạng mẫu. - Sản xuất thử nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả triển khai thực nghiệm để sản xuất thử nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất và đời sống. Theo tác giả, Hoạt động R&D có thể hiểu là bất kỳ một công việc có tính hệ thống và sáng tạo được tiến hành nhằm gia tăng nguồn tri thức, bao gồm tri thức nhân loại, văn hóa và xã hội và sử dụng những tri thức này để phát minh ra những ứng dụng mới.
Trong khuôn khổ của luận văn này, hoạt động R&D bao gồm: hoạt động nghiên cứu đổi mới hoặc hoàn thiện công nghệ, máy móc, trang thiết bị, sản phẩm từ đó tạo ra công nghệ mới, sản phẩm mới có tính cạnh tranh cao. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đặc điểm của hoạt động R&D Theo Vũ Cao Đàm, NCKH là sự tìm tòi, khám phá mang tính sáng tạo mà người nghiên cứu chưa biết, đặc điểm của NCKH bao gồm: - Tính mới: là thuộc tính quan trọng của NCKH. Quá trình NCKH luôn là quá trình hướng tới những phát hiện mới hoặc sáng tạo mới, không có sự lặp lại như cũ những phát hiện hoặc sáng tạo mà các đồng nghiệp đi trước đã thực hiện.
- Tính tin cậy: kết quả nghiên cứu phải có khả năng kiểm chứng, một kết quả thu được ngẫu nhiên dù phù hợp với giả thuyết đã được đặt ra trước đó cũng chưa thể xem là đủ tin cậy để kết luận về bản chất của sự vật hoặc hiện tượng, cần phải kiểm chứng nhiều lần trong những điều kiện quan sát hoặc thí nghiệm hoàn toàn giống nhau. - Tính thông tin: sản phẩm NCKH được thể hiện dưới dạng báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học, mẫu sản phẩm mới, mô hình mới… luôn mang đặc trưng thông tin về: quy luật vận động của sự vật, một quá trình xã hội, quy trình công nghệ và các tham số đặc trưng,… - Tính khách quan: vừa là một đặc điểm của NCKH vừa là một tiêu chuẩn về phẩm chất của người NCKH. Để đảm bảo tính khách quan, người nghiên cứu cần phải luôn đặt các câu hỏi ngược lại những kết luận đã được xác nhận, giúp loại bỏ những nhận định, kết luận chủ quan trong kết quả nghiên cứu. - Tính rủi ro: sự thất bại trong NCKH hoàn toàn có thể gặp phải do quá trình khám phá bản chất sự vật và sáng tạo sự vật mới.
Trong NCKH, thất bại cũng được xem là một kết quả nghiên cứu. Xét về ý nghĩa kha học, đây là một kết quả quan trọng, giúp những người nghiên cứu tiếp theo không dẫm chân lên lối mòn, lãng phí các nguồn lực nghiên cứu. - Tính kế thừa: mỗi nghiên cứu hầu hết phải kế thừa các kết quả nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học khác nhau. Tính kế thừa có ý nghĩa quan trọng về mặt phương pháp luận nghiên cứu, hàng loạt phương hướng nghiên cứu mới và bộ môn khoa học mới xuất hiện chính là kết quả kế thừa lẫn nhau giữa các bộ môn khoa học.
16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tính cá nhân: đặc điểm này thể hiện vai trò cá nhân trong NCKH. Tính cá nhân được thể hiện trong tư duy cá nhân, nỗ lực cá nhân và chủ kiến riêng của cá nhân. - Tính bất định của sản phẩm dự kiến: không thể dự kiến chính xác sản phẩm thu được sau nghiên cứu, đôi khi là một phát hiện hoàn toàn mới trong khoa học. - Tính phi kinh tế: lao động NCKH rất khó định mức một cách chính xác như trong lĩnh vực sản xuất vật chất, thậm chí có thể nói không thể định mức.
Những thiết bị chuyên dụng cho NCKH hầu như không thể khấu hao, nếu nó được đặt trong labô của các nhà nghiên cứu, lý do: tần suất sử dụng không ổn định và hầu như thấp; tốc độ hao mòn vô hình luôn vượt trước rất xa so với tốc độ hao mòn hữu hình; hiệu quả kinh tế của NCKH hầu như không thể xác định. Lý luận chung về DN ngoài quốc doanh 1. Khái niệm và phân loại DN ngoài quốc doanh Luật DN năm 2005 định nghĩa “DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Căn cứ vào quy định này thì DN có những đặc điểm sau: - Là đơn vị kinh tế, có trụ sở giao dịch ổn định, có tài sản.
- Đã được đăng ký kinh doanh. - Thực hiện hoạt động kinh doanh. Điều 8 của Luật DN năm 2005 quy định, quyền của DN “Tự chủ kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh, đầu tư; chủ động mở rộng quy mô và ngành, nghề kinh doanh; được Nhà nước khuyến khích, ưu đãi và tạo điều kiện thuận lợi tham gia sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích”; “Chủ động ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại để nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh”. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là toàn bộ các đơn vị SXKD của tư nhân đứng ra thành lập, đầu tư kinh doanh và tổ chức quản lý.
Theo tác giả, DN ngoài quốc doanh là tổ chức kinh tế do một hoặc nhóm người đứng ra thành lập (tư nhân đứng ra thành lập), đầu tư kinh doanh và tổ chức 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quản lý, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. DN ngoài quốc doanh lấy sở hữu tư nhân làm nền tảng, có tính sinh lợi hợp pháp trong mọi hoạt động SXKD trong khuôn khổ của pháp luật. Xuất pháp từ hình thức sở hữu của DN ngoài quốc doanh, Nhà nước không cấp vốn hoạt động mà vốn hoạt động của DN do tư nhân bỏ ra hay một nhóm các thành viên là các tổ chức, cá nhân góp lại. Trong hoạt động SXKD, DN phải chịu trách nhiệm hữu hạn, vô hạn hay hỗn hợp cả vô hạn và hữu hạn tuỳ thuộc vào đặc trưng của từng loại hình SXKD.
Theo Luật DN 2005, có 4 loại hình DN ngoài quốc doanh: DN tư nhân; công ty hợp danh; công ty TNHH và công ty cổ phần. Hiện nay, ở Việt Nam, các DN được phân loại dựa vào Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển DN nhỏ và vừa. Theo đó, các cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Bảng 1.1: Phân loại DN vừa và nhỏ ở Việt Nam DN siêu DN nhỏ DN vừa nhỏ Quy mô khu Số lao Tổng Số lao Tổng Số lao vực động nguồn vốn động nguồn vốn động I. Nông, lâm Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 nghiệp và thủy 10 người 20 tỷ đồng người đến tỷ đến 100 người đến sản trở xuống trở xuống 200 người tỷ đồng 300 người Từ trên 200 Từ trên 10 Từ trên 20 II.