Chương 1. Cơ sở lý luận nghiên cứu di động xã hội của nhân lực KH&CN tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Chương 2. Hiện trạng di động xã hội trong cộng đồng KH&CN ở Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Chính sách tài chính để điều chỉnh hướng di động xã hội của nhân lực KH&CN tại Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam.
CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU DI ĐỘNG XÃ HỘI CỦA NHÂN LỰC KH&CN TẠI VIỆN HÀN LÂM KH&CN VIỆT NAM 1. Các khái niệm công cụ 1. Nhân lực khoa học và công nghệ Định nghĩa của Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO): Nhân lực KH&CN là những người trực tiếp tham gia vào hoạt động KH&CN trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực phù trợ [38]. Như vậy, định nghĩa của UNESCO không phân biệt nhân lực KH&CN theo bằng cấp mà phân biệt theo công việc hiện thời.
Định nghĩa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế Châu Âu (OECD) nguồn nhân lực bao gồm: “Toàn bộ những người có khả năng và nhu cầu lao động có bằng chuyên môn về một lĩnh vực khoa học và công nghệ nào đó từ cao đẳng trở lên, hoặc không có bằng cấp nhưng đảm nhiệm công việc đòi hỏi trình độ tương đương từ cao đẳng trở lên” [37]. Theo cuốn “Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2003” và cuốn “Cẩm nang về đo lường nguồn nhân lực KH&CN” xuất bản năm 1995 tại Paris của OECD, nhân lực KH&CN bao gồm những người đáp ứng được một trong những điều kiện sau đây: - Đã tốt nghiệp đại học và cao đẳng và làm việc trong một ngành KH&CN; - Đã tốt nghiệp đại học và cao đẳng, nhưng không làm việc trong một ngành KH&CN nào; - Chưa tốt nghiệp đại học và cao đẳng, nhưng làm một công việc trong một lĩnh vực KH&CN đòi hỏi trình độ tương đương. Đây chính là khái niệm nhân lực KH&CN theo nghĩa rộng. Theo đó, có thể hiểu nhân lực KH&CN bao gồm cả những người đã tốt nghiệp đại học nhưng không làm việc trong lĩnh vực KH&CN.
Khái niệm này dường như quá rộng để thể hiện nguồn nhân lực hoạt động KH&CN của một quốc gia. Do vậy, các nước thường sử dụng khái niệm nhân lực nghiên cứu và triển 12 z khai (NC&TK), hay còn gọi là R&D (research and development), để thể hiện lực lượng lao động KH&CN của mình. Theo Hướng dẫn thống kê nghiên cứu và triển khai (NC&TK) của OECD (Cẩm nang FRASCATI), nhân lực NC&TK bao gồm những người trực tiếp tham gia vào hoạt động NC&TK hoặc trực tiếp hỗ trợ hoạt động NC&TK. Nhân lực NC&TK được chia thành 3 nhóm: - Nhóm 1: Cán bộ nghiên cứu (nhà nghiên cứu/nhà khoa học/kỹ sư nghiên cứu).
Đây là những cán bộ chuyên nghiệp có trình độ cao đẳng/đại học, thạc sĩ và tiến sĩ hoặc không có văn bằng chính thức, song làm các công việc tương đương như nhà nghiên cứu/nhà khoa học, tham gia vào quá trình tạo ra tri thức, sản phẩm và quy trình mới, tạo ra phương pháp và hệ thống mới. - Nhóm 2: Nhân viên kỹ thuật và tương đương. Nhóm này bao gồm những người thực hiện các công việc đòi hỏi phải có kinh nghiệm và hiểu biết kỹ thuật trong những lĩnh vực của KH&CN. Họ tham gia vào NC&TK bằng việc thực hiện những nhiệm vụ khoa học và kỹ thuật có áp dụng những khái niệm và phương pháp vận hành dưới sự giám sát của các nhà nghiên cứu.
- Nhóm 3: Nhân viên phụ trợ trực tiếp NC&TK. Bao gồm những người có hoặc không có kỹ năng, nhân viên hành chính văn phòng tham gia vào các dự án NC&TK. Trong nhóm này bao gồm cả những người làm việc liên quan đến nhân sự, tài chính và hành chính trực tiếp phục vụ công việc NC&TK của các tổ chức NC&TK. Quan hệ giữa nhân lực KH&CN và nhân lực NC&TK có thể được thể hiện như sau: Nhân lực NC&TK (R&D) Nhân lực KH&CN Nhân lực có trình độ đang làm việc Tổng số nhân lực Nguồn: Phát triển nhân lực KH&CN ở các nước ASEAN, Trung tâm Thông tin KH&CN quốc gia, Hà Nội, 2005.
13 z Theo quan điểm của Bộ KH&CN, có 05 lực lượng làm KH&CN: - Nhân lực KH&CN làm quản lý KH&CN; - Nhân lực KH&CN làm việc trong các tổ chức KH&CN: các viện nghiên cứu, trường đại học, trung tâm nghiên cứu KH&CN. - Nhân lực KH&CN tại các doanh nghiệp; - Nhân lực KH&CN trong xã hội: Những người dân có sáng kiến cải tiến, yêu KH&CN và tìm các biện pháp áp dụng khoa học và kỹ thuật vào đời sống; - Nhân lực KH&CN là người Việt Nam đang công tác, sinh sống tại nước ngoài. Theo Đề án phát triển nhân lực KH&CN giai đoạn 2011 - 2020, nhân lực KH&CN trong quy hoạch này gồm: - Nhân lực làm công tác quản lý KH&CN: Nhân lực đang làm công tác quản lý tại Bộ KH&CN; Nhân lực thuộc Vụ KH&CN tại các Bộ, ngành; Nhân lực thuộc các Sở KH&CN. - Nhân lực khoa học đang làm việc trong các tổ chức KH&CN.
Nhân lực này đang hoạt động trong các lĩnh vực: + Khoa học xã hội và Nhân văn; + Khoa học tự nhiên; + Khoa học Nông nghiệp; + Khoa học Y - Dược; + Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ. Trong cuốn sách chuyên khảo “Di động xã hội của nhân lực KH&CN trong bối cảnh hội nhập quốc tế: Lý luận và thực tiễn”, PGS. Đào Thanh Trường đã đưa ra khái nhiệm “Nhân lực KH&CN là tập hợp những nhóm người tham gia vào các hoạt động nghiên cứu KH & phát triển CN với các chức năng: nghiên cứu sáng tạo, giảng dạy, quản lý, khai thác sử dụng và tác nghiệp góp phần tạo ra tiến bộ của KH&CN, của sự phát triển sản xuất và xã hội”[30, tr32]. Theo đó, nhân lực KH&CN bao gồm: Lực lượng nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp, lực lượng giảng dạy được đào tạo bậc cao và lực lượng quản lý khoa học ở các loại hình cơ quan khoa học [30, tr33].
Nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao Nhân lực KH&CN trình độ cao (luồng “chất xám”) là tập hợp những nhóm người tham gia vào các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ có trình độ tương đối cao (tốt nghiệp đại học trở lên). Di động xã hội Về bản chất khoa học, sự dịch chuyển của các luồng chất xám chính là “di động xã hội” (social mobility) (DĐXH) - một thuật ngữ xã hội học dùng để chỉ sự thay đổi của một hay nhiều cá thể giữa các đơn vị của hệ thống, tầng lớp xã hội. Kết quả của DĐXH dẫn đến sự vận động của con người hoặc nhóm xã hội từ vị trí, địa vị đến vị thế xã hội trong hệ thống phân tầng xã hội, cuối cùng dẫn đến biến đổi cấu trúc xã hội. Di động xã hội của nhân lực KH&CN Trong khoa học, đó là hiện tượng chảy não, một số người quen gọi một cách không thật sự chuẩn xác là “chảy máu chất xám”.
DĐXH của nhân lực KH&CN có thể được hiểu là sự dịch chuyển về vị trí xã hội của cá nhân hay một nhóm nhân lực KH&CN; sự thay đổi đi lên hoặc đi xuống về vị thế xã hội giữa các cá nhân/nhóm nhân lực KH&CN khác nhau trong hệ thống phân tầng xã hội trong khoa học, sự chuyển dịch từ một địa vị này đến một địa vị khác trong cơ cấu của KH&CN. Trong khoa học có cả di động dọc và di động ngang, cả di động kèm di cư và di động không kèm di cư. Di động dọc là thay đổi vị trí công tác trong nghề nghiệp cũng như xu hướng thăng tiến của người làm KH&CN (sự thay đổi về mặt địa vị hành chính trong khoa học chưa làm phát triển chiều sâu cảu khoa học); sự thay đổi vệ học vị, học hàm, kiến thức, kỹ năng nghề theo chiều sâu của lĩnh vực chuyên môn của người làm KH&CN (di động dọc trong khoa học làm phát triển chiều sâu của KH&CN). Còn di động ngang của nhân lực KH&CN thường biểu hiện cụ thể ở hiện tượng dịch chuyển lĩnh vực chuyên môn, lĩnh vực hoạt động của những 15 z người làm KH&CN.
Trong các tổ chức khoa học thì loại hình di động này thể hiện dưới hai hình thức: - Cá nhân người làm KH&CN có thể dịch chuyển từ một lĩnh vực chuyên môn này sang một lĩnh vực chuyên môn khác. Lĩnh vực chuyên môn họ chuyển tới có thể gần hoặc cũng có thể khác nhiều với lĩnh vực chuyên môn mà họ đang theo đuổi. - Cũng có thể nhân lực KH&CN chuyển dịch lĩnh vực hoạt động của mình trong tổ chức khoa học nhưng sự chuyển dịch đó không làm thay đổi vị thế khoa học của các nhân người làm KH&CN đó. Di động kèm di cư là sự di chuyển nhà khoa học khỏi nơi cư trú, còn di động không kèm di cư, còn gọi là “chảy máu chất xám tại chỗ”- là hiện tượng cộng tác từ xa của các nhà nghiên cứu, không chuyển chỗ ở khỏi nơi làm việc và nơi cư trú chính thức của mình.
Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực KH&CN Theo PGS. Mai Hà, hội nhập quốc tế về KH&CN là “quá trình phát triển KH&CN quốc gia và tích hợp để trở thành bộ phận cấu thành tích cực của hệ thống KH&CN quốc tế với thể chế được thống nhất, đảm bảo lợi ích lâu dài cho các quốc gia và các cộng đồng khoa học”. Các đặc điểm này được thể hiện rất rõ trong quá trình hội nhập quốc tế về KH &CN, theo đó thì hội nhập quốc tế về KH&CN có những đặc điểm như sau: - Tính tự nguyện (Willingness): nguyên tắc này đảm bảo không quốc gia nào bị ép hội nhập quốc tế. Việc quốc gia nào, khi nào tham gia hội nhập quốc tế là do năng lực và tầm nhìn lãnh đạo của quốc gia đó.
- Chấp thuận luật lệ chung: (Regulations acceptance): nguyên tắc này khuyến cáo các quốc gia tham gia phải chấp thuận những luật lệ chung đã có hoặc sẽ hình thành, đồng thời các luật lệ nội bộ cũng phải thích ứng với những luật lệ chung. - Tính hợp chuẩn (Standards conformity): Nguyên tắc này khuyến cáo các quốc gia tham gia phải chấp thuận những luật lệ chung đã có hoặc đã hình thành, đồng thời các luật lệ nội bộ cũng phải thay đổi để thích ứng với những luật lệ chung. 16 z - Cạnh tranh bình đẳng (Fair competition): Cạnh tranh bình đẳng là hệ quả tất yếu khi quốc gia nào cũng hướng tới lợi ích bền vững chính đáng trên cơ sở chấp thuận luật lệ chung và hợp chuẩn.