CHƯƠNG 1:CO SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE CHÍNH SÁCH PHAT TRIEN NÔNG NGHIỆP CUA DIA PHƯƠNG 1. Cơ sở lý luận về chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp của dia phương 1. Khải niệm chính sách và chính sách phát triển nông nghiệp a) Khái niệm chính sách Chính sách nông nghiệp (agricultural policy) là chính sách bảo vệ lợi ích kinh tế của nông dân thông qua các biện pháp như trợ giá, trợ cấp thu nhập trực tiếp và khuyến khích nâng cao hiệu quả thông qua việc hé trợ họ trong quá trình cơ giới hoá, áp dụng công nghệ mới và hình thức tô chức mới. Tinh hợp lý của chính sách nông nghiệp có thé suy ra từ chính ban chất của nó: khác với công nghiệp, ngành nông nghiệp dễ bị ton thương bởi các biến cố nằm ngoài tầm kiêm soát của nông dân như thời tiết, thị trường thế giới.
Vì vậy, mức cung về nông sản biến động mạnh qua các năm và điều nay làm cho giá nông sản và thu nhập của nông dân thay đổi đáng kể. Ngoai ra, cuộc cách mạng trong nông nghiệp có xu hướng làm cho cung về nông sản tăng nhanh hơn cầu, dẫn tới giá nông sản liên tục giảm và thu nhập của nông dân cũng giảm theo. Hai nguyên nhân này và những hậu quả về mặt văn hóa - xã hội - chính trị mà chúng có thể gây ra làm cho chính sách nông nghiệp trở nên cần thiết Theo James Anderson : “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thé trong việc giải quyết các van dé mà họ quan tâm”. Theo Từ điển Tiếng Việt thì “chính sách” là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhăm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế đã đề ra”.
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia : Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của chính phủ, nó bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được và cách làm đề thực hiện các mục tiêu đó.Những mục tiêu nay bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn hoá — xã hội. Có nhiều quan niệm về phạm trù “chính sách”. Một nghiên cứu của Đại học Kinh tế quốc dân cho răng: “chính sách là hệ thống quan điểm, chủ trương, biện pháp và quản lý được thé chế hoá băng pháp luật cua nhà nước dé giải quyết các van đề kinh tế, xã hội của đất nước”. Kinh tế gia Franc Ellis lại cho rằng : “chính sách được xác định như là đường lỗi hành động mà chính phủ lựa chọn đối với mọi lĩnh vực của nền kinh tế, ké cả các mục tiêu mà chính phủ tìm kiếm và sự lựa chọn các phương pháp dé theo đuôi các mục tiêu đó” Có người lại cho răng : có chính sách của nhà nước, có chính sách của doanh nghiệp.
Những quan niệm trên đề cập đến phạm trù chính sách theo những khía cạnh khác nhau và theo những mục đích khác nhau. Tuy nhiên, khi đề cập đến phạm trù chính sách cần phải làm 16 : nó là gi, ai là người tạo ra nó, nó tác động tới ai, đến cái gì. Từ yêu cau trên có thê hiéu rằng, chính sách là “kiểu”, là biện pháp can thiệp của nha nước vao một ngành, một lĩnh vực hay toàn bộ nên kinh té theo những mục tiêu nhất định, với những điều kiện thực hiện nhất định trong một thời hạn xác định. b) Khái niệm chính sách phát triển nông nghiệp Chính sách phát triển nông nghiệp là chính sách bảo vệ lợi ích kinh tế của nông dân thông qua các biện pháp như trợ giá , trợ cấp thu nhập trực tiếp và khuyến khích nâng cao hiệu quả thông qua việc hỗ trợ họ trong quá trình cơ giới hoá, áp dụng công nghệ mới và hình thức tổ chức mới.
10 Chính sách phát triển nông nghiệp thé hiện hành động của Chính phủ nhằm thay đôi môi trường của sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển. Các quan niệm về chính sách, chính sách phát triển nông nghiệp trên đây đứng trên góc độ nghiên cứu, phương thức tiếp cận khác nhau, nhưng nhìn chung đều thống nhất ở những nội dung cơ bản và cùng nhằm vào mục đích phát triển nền kinh tế nói chung và nông nghiệp từ sự can thiệp từ Chính phủ Theo PGS.Lê Đình Thắng : “Chính sách phát triển nông nghiệp được hiểu là tong thé các biện pháp phi kinh tế hoặc kinh tế có liên quan đến nông nghiệp và các ngành liên quan nhằm tác động vào nông nghiệp theo những mục tiêu nhất định , trong một thời gian nhất định” Chính sách phát triển nông nghiệp liên quan đến nhiều lĩnh vực, phân phối lưu thông và tiêu thụ sản phâm.Các van đề có liên quan đến sản xuất bao gồm các tác động đến giá thị trường tư liệu sản xuất, các tác động đến sự tiến bộ của khoa học,kỹ thuật và công nghệ, thị trường yếu tố đầu vào , các vấn đề có liên quan đến tô chức phối hợp nguồn lực. Các van đề liên quan đến tiêu dùng sản pham gồm phân phối sản phẩm, thuế xuất nhập khâu sản phẩm, giá mua sản pham. Các van dé có liên quan đến lưu chuyền sản phâm, bảo quản , chế biến, vận chuyền, bán sản phẩm.
Chính sách nông nghiệp, nông thôn là tông thể các biện pháp kinh tế và những biện pháp khác của Nhà nước ( từ Trung ương đến địa phương) tác động đến nông nghiệp, nông thôn và các ngành, lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến nông nghiệp, nông thôn nhằm đạt được những mục tiêu nhất định, với những điều kiện thực hiện nhất định và trong một thời hạn xác định. Chính sách nông nghiệp nông thôn khác với chính sách nói chung ở đối tượng mà nó tác động. Đó chính là nông nghiệp , nông thôn và các ngành có liên quan trực tiếp đến nông nghiệp, nông thôn.Trong nông thôn, hoạt động nông nghiệp diễn ra là chủ yếu, đồng thời còn có hệ thống các ngành cùng phát triển. Vì vậy , bên cạnh tính đặc thù của ngành nông nghiệp, tính gắn kết giữa nông nghiệp với các ngành khác cũng tạo nên tính đặc thù của các ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn.Ngoài ra, những hoạt động liên quan đến nông nghiệp, nông thôn cũng bị chi phối bởi các đặc điểm của nông nghiệp, nông thôn.
Tất cả những điều đó đòi hỏi các chính sách nông nghiệp, nông thôn cũng có những đặc điểm mang tính đặc thù và có mối quan hệ găn kêt với nhau. 11 Mặt khác, nông nghiệp nông thôn không chỉ là các hoạt động kinh tế mà còn có những hoạt động xã hội hết sức đặc thù. Những vấn đề về lao động việc làm, đói nghẻo, dân số , kế hoạch hoá gia đình, những vấn đề thuần phong, mỹ tục nếp sống ở nông thôn cũng có những điểm khác biệt với thành thị. Vì vậy, bên cạnh các chính sách can thiệp đến hoạt động kinh tế, các chính sách tác động đến các hoạt động mang tính xã hội cũng hết sức quan trọng.
Chính sách nông nghiệp , nông thôn được thực hiện thông qua các biện pháp kinh tế là chủ yếu. Tuy nhiên, các biện pháp can thiệp của Nhà nước đến nông nghiệp, nông thôn thông qua chính sách còn là những biện pháp phi kinh tế như các biện pháp giáo dục, đặc biệt là các biện pháp tô chức, hành chính.Sự kết hợp hài hoà các biện pháp phù hợp với đặc điểm tâm lý của dân cư nông thôn là nhân tổ dam bảo sự thành công của sự can thiệp của Nhà nước thông qua chính sách. Đặc điểm của chính sách phát triển nông nghiệp Nông nghiệp, nông thôn trải rộng trên không gian rộng lớn, phụ thuộc chặt chẽ vào các điều kiện tự nhiên. Vì vậy, nông nghiệp, nông thôn có tính đa dạng và có những đặc điểm đặc thù.
Đặc điểm của chính sách nông nghiệp, nông thôn do các đặc điểm của nông nghiệp, nông thôn chi phối. Cụ thé: Trước hết, các chính sách đối với nông nghiệp thường mang tính hỗ trợ là chủ yếu. Bởi vì, nông nghiệp, nông thôn là ngành lĩnh vực có những điều kiện sản xuất khó khăn hơn các ngành và lĩnh vực khác. Trong nông thôn, hoạt động nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn.
Nông nghiệp lại là ngành phụ thuộc rất lớn vào các điều kiện tự nhiên. Vì vậy, đây là ngành có tính chất lao động nặng nhọc, lợi nhuận thấp, TỦI ro cao. Hơn nữa, sản xuất nông nghiệp vừa tạo ra những sản phẩm hữu hình, có điều kiện bù đắp chi phí dé thực hiện tái sản xuất; nhưng cũng có những sản phẩm vô hình (những sản phẩm tạo cảnh quan môi trường, cung cấp oxy cho sự sống con người), những sản phâm chưa được bù đắp chi phí hoặc có bù đắp nhưng vẫn chưa thoả đáng. Thứ hai, chính sách nông nghiệp, nông thôn có tính vung, tính khu vực rõ rệt.
Rõ ràng, tính không đều của nông nghiệp, nông thôn trong phát triển kinh tế và các điều kiện xã hội giữa các vùng, các miễn trong nước, giữa các tầng lớp dân cư trong nông thôn đòi hỏi chính sách nông nghiệp, nông thôn phải có những văn bản tương xứng. Ví dụ: cũng từ mục tiêu khai thác đất hoang hoá nhưng đất hoang hoá ở miền trung du và miền núi khác với đất hoang hoá vùng bãi bồi ven sông, ven biển. Vi vậy, nhà nước đã có 2 quyết định tương ứng với việc khai thác 2 loại đất. Dé là 12 Quyết định 327 với mục đính khai thác đất trống đồi núi trọc và Quyết định 773 với mục đích khai thác đất bãi bồi, ven sông ven biển.
Hoặc có riêng Chương trình 135 với Quyết định 135 về xây dựng các cơ sở hạ tầng cho các xã có các điều kiện khó khăn. Thứ ba, đôi khi một chính sách nông nghiệp, nông thôn có cả tính kinh tế và tính phi kinh tế, Bởi vì, ở nông thôn những vấn đề kinh tế và những vấn đề xã hội nông thôn đan quyện vào nhau, trong đó những van dé xã hội cũng rất bức xúc và có nhiều điểm đặc thù. Những vấn đè nghèo đói ở nông thôn rất trầm trọng và có nhiều nguyên nhân khác biệt với thành phố. Nguồn lao động ở nông thôn có số lượng lớn, nhưng chất lượng thấp.
Tất cả những đặc điểm trên của nông nghiệp, nông thôn đòi hỏi các chính sách nông nghiệp, nông thôn phải có sự gắn kết giữa các chính sách kinh tế và chính sách xã hội, tính phi kinh tế có thể xảy ra. Ví dụ: chính sách xây dựng cơ sở hạ tầng cho dân cư miền núi, nhất là hệ thống điện.