phần mở đầu, kết luận, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách phát triển các cụm công nghiệp trên địa bàn cấp tỉnh Chƣơng 2: Phân tích và đánh giá thực trạng chính sách phát triển cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển các cụm công nghiệp trên địa bàn Hà Nam đến năm 2025. 11 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÁC CỤM CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH 1. Bản chất và vai trò của chính sách phát triển các cụm công nghiệp trên địa bàn cấp tỉnh 1. Một số vấn đề liên quan đến cụm công nghiệp và phát triển các cụm công nghiệp a) Khái niệm về cụm công nghiệp và phát triển cụm công nghiệp Hiện nay, CCN có nhiều cách hiểu khác nhau giữa các học giả, các tổ chức nƣớc ngoài và ở Việt Nam.
Potter (1990) Cụm công nghiệp là sự tập trung về vị trí địa lý của các ngành công nghiệp nhằm tận dụng các cơ hội qua liên kết địa lý. Các công ty trong cụm công nghiệp sẽ chia sẻ các yêu cầu và các mối quan hệ bên trong với nhà cung cấp và khách hàng. Các mối quan hệ bên trong công ty yêu cầu các dịch vụ bổ sung từ các nhà tƣ vấn, đào tạo và huấn luyện, các tổ chức tài chính, các công ty chủ chốt. Cụm công nghiệp sẽ tạo ra lực lƣợng lao động, hàng hoá xuất khẩu và dịch vụ chất lƣợng cao, kết nối quan hệ giữa các cơ quan quản lý nhà nƣớc, các trƣờng đại học, viện nghiên cứu, các quỹ hỗ trợ và các bên hữu quan.
Theo Kuchiku A cho rằng, CCN là sự tập trung về mặt địa lý trong một quốc gia hay một vùng lãnh thổ của các công ty có liên kết với nhau, các nhà cung cấp chuyên biệt, các nhà cung cấp dịch vụ và các tổ chức có liên quan trong một lĩnh vực cụ thể. Nhƣ vậy, CCN là một khái niệm không mới trên thế giới nhƣng ở Việt Nam khái niệm CCN mới đƣợc đề cập đến trong những năm gần đây. Theo Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg ngày 19/8/2009 của Thủ tƣớng Chính phủ: “Cụm công nghiệp là khu vực tập trung các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, cơ sở dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; có ranh giới địa lý xác định, không có dân cƣ sinh sống; đƣợc đầu tƣ xây dựng chủ yếu nhằm di dời, sắp xếp, thu hút các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các 12 cá nhân, hộ gia đình ở địa phƣơng vào đầu tƣ sản xuất, kinh doanh; do Uỷ ban nhân dân các tỉnh quyết định thành lập”. Đến năm 2017, Chính phủ ban hành Nghị định 68/2017/NĐ-CP ngày 25/5/2017 của Chính phủ về quản lý, phát triển CCN, trong đó khái niệm cụm công nghiệp đã có sự điều chỉnh: “Cụm công nghiệp là nơi sản xuất, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cƣ sinh sống, đƣợc đầu tƣ xây dựng nhằm thu hút, di dời các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác vào đầu tƣ sản xuất kinh doanh”.
Trong luận văn này, cao học viên sử dụng khái niệm CCN của Nghị định 68/2017/NĐ-CP ngày 25/5/2017. Tuy khái niệm về CCN diễn đạt có sự khác nhau nhất định, xong có thể hiểu CCN là một hệ thống sản xuất địa phƣơng, đƣợc đặc trƣng bởi sự tập trung theo địa lý các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và dịch vụ có sự chuyên môn hóa trong cùng một hoạt động hoặc một nhóm các hoạt động bổ trợ cho nhau. Sự tập trung theo địa lý của các doanh nghiệp đã tạo ra các thể chế thúc đẩy sự hình thành và phát triển các mối quan hệ, sự hợp tác và cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng lãnh thổ, đồng thời tạo ra mạng lƣới các nhà cung cấp, mạng lƣới khách hàng và tạo ra sự đổi mới, các lợi ích chung cho các thành viên trong cùng lãnh thổ. Từ khái niệm cụm công nghiệp có thể hiểu phát triển cụm công nghiệp là hoạt động của Đảng, nhà nƣớc, đảng bộ chính quyền địa phƣơng bằng đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách, biện pháp nhằm gia tăng số lƣợng, chất lƣợng, cơ cấu các cụm công nghiệp, thu hút các nhà đầu tƣ của mọi thành phần kinh tế-xã hội đất nƣớc, địa phƣơng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên cơ sở tuân thủ quy định của pháp luật.
Phát triển cụm công nghiệp đƣợc thể hiện ở 03 nội dung cơ bản: Phát triển số lƣợng các cụm công nghiệp, phát triển các cụm công nghiệp về chất lƣợng và phát triển cơ cấu các cụm công nghiệp theo yêu cầu của chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc, địa phƣơng trong từng thời kỳ. 13 b) Tiêu chí đánh giá sự phát triển của các cụm công nghiệp Để đánh giá sự phát triển của cụm công nghiệp có thể dựa vào các tiêu chí sau: * Số lƣợng cụm công nghiệp Số lƣợng cụm công nghiệp trên địa bàn phản ánh tiềm năng phát triển cũng nhƣ kết quả quy hoạch, đầu tƣ xây dựng và phát triển các cụm công nghiệp để thu hút vốn đầu tƣ, phát triển sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp của địa phƣơng. * Diện tích cụm công nghiệp Chỉ tiêu này phản ánh số hécta (ha) đất đƣợc quy hoạch để xây dựng cụm công nghiệp. Chỉ tiêu này cho phép chúng ta so sánh, phân loại các cụm công nghiệp thành các loại lớn, trung bình và nhỏ tùy theo diện tích đất quy hoạch.
* Tỷ lệ diện tích đƣợc lấp đầy Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả khai thác về việc sử dụng mặt bằng tại các cụm công nghiệp Diện tích đất đã cho thuê % diện tích lấp đầy = x 100% Tổng diện tích đất của cụm công nghiệp Chỉ tiêu này đƣợc đƣa ra nhằm đánh giá tính hiệu quả việc khai thác và sử dụng đất đƣợc sử dụng trên tổng diện tích đất của cụm công nghiệp đƣợc phê duyệt. Đồng thời qua đó có thể đánh giá, so sánh trong việc khai thác, sử dụng quỹ đất giữa các cụm công nghiệp. * Tỷ lệ vốn đầu tƣ trên một đơn vị diện tích đất cụm công nghiệp Tổng vốn đầu tƣ (tỷ đồng) Tỷ lệ vốn đầu tƣ (tỷ đồng/ha) = Tổng diện tích cụm công nghiệp (ha) Chỉ tiêu này dùng để đánh giá, so sánh hiệu quả thu hút vốn đầu tƣ trên một đơn vị diện tích đất cụm công nghiệp với nhau, từ đó có thể đánh giá đƣợc tính hấp dẫn, thu hút đầu tƣ của các cụm công nghiệp một cách chính xác. 14 * Số lao động Một trong các mục tiêu chính của CCN là tạo đƣợc nhiều việc làm ổn định có kĩ thuật chuyên môn cho lao động địa phƣơng, góp phần quan trọng vào việc nâng cao thu nhập, mức sống cho ngƣời dân và an sinh xã hội của địa phƣơng.
Chỉ tiêu số lao động trên một đơn vị diện tích đất cụm công nghiệp (lao động/ha) dùng để đánh giá khả năng thu hút lao động và giải quyết việc làm giữa các cụm công nghiệp trong việc giải quyết tình trạng thất nghiệp và lao động dƣ thừa ở các địa phƣơng. Tỷ lệ lao động có chuyên môn, tay nghề: Phản ánh trình độ chuyên môn và tay nghề của những ngƣời lao động. Từ đó đánh giá đƣợc trình độ khoa học công nghệ của các dự án hoạt động trong cụm công nghiệp. * Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của cụm công nghiệp - Về kinh tế: Chỉ tiêu này đánh giá mức độ đóng góp của các cụm công nghiệp cho xuất khẩu, các khoản đóng góp cho ngân sách.
Chỉ tiêu này đánh giá khả năng và năng lực đóng góp của cụm công nghiệp vào tăng trƣởng kinh tế, tăng trƣởng GDP. Từ đó cho thấy sự cần thiết phát triển cụm công nghiệp của địa phƣơng. - Về xã hội: Chỉ tiêu này cho thấy ngoài việc giải quyết việc làm, sự phát triển các cụm công nghiệp còn có tác động đến các vấn đề xã hội, môi trƣờng sống, văn hóa của ngƣời lao động trong CCN. - Về công nghệ-môi trƣờng: Chỉ tiêu này cho biết các cụm công nghiệp đƣợc quy hoạch và phát triển ra sao, trình độ công nghệ ứng dụng đến đâu, trình độ xử lý môi trƣờng nhƣ thế nào?.
- Về cơ cấu tổ chức quản lý: Chỉ tiêu này đánh giá quyết tâm của địa phƣơng trong việc đổi mới cơ chế quản lý nhƣ thế nào cho đạt hiệu quả cao nhất trong thu hút đầu tƣ, phát triển các cụm công nghiệp trên địa bàn. Bản chất của chính sách phát triển các cụm công nghiệp trên địa bàn cấp tỉnh a) Khái niệm và mục tiêu của chính sách phát triển các cụm công nghiệp * Khái niệm chính sách phát triển cụm công nghiệp 15 CCN là một bộ phận của ngành CN, là lĩnh vực có nhiều đặc điểm mang tính đặc thù. Tính đặc thù trong hoạt động kinh tế, xã hội của CCN đòi hỏi nhà nƣớc phải có biện pháp can thiệp khác với các lĩnh vực khác. Sự đòi hỏi đó là cơ sở khách quan hình thành nên chính sách phát triển CCN.
Từ những phân tích trên, chính sách phát triển CCN đƣợc hiểu là: những biện pháp can thiệp, tác động của nhà nƣớc nhằm thúc đẩy phát triển CCN theo mục tiêu nhất định trong điều kiện, thời gian thực hiện cụ thể. Ở Việt Nam hiện nay, chính sách phát triển CCN là một thuật ngữ gắn với quá trình thực hiện chiến lƣợc CNH-HĐH đất nƣớc. Theo cấp độ, đối tƣợng soạn thảo và ban hành chính sách có các chính sách phát triển CCN của Trung ƣơng và chính sách Địa phƣơng. Chính sách phát triển CCN của Trung ƣơng là chính sách do các cấp Trung ƣơng soạn thảo và ban hành (từ Chính phủ cho đến các Bộ, Ngành ở Trung ƣơng).
Chính sách phát triển CCN Trung ƣơng có phạm vi tác động rộng, huy động các nguồn lực lớn với sự tham gia của nhiều cấp, nhiều ngành. Nhƣ vậy, theo đối tƣợng soạn thảo, chính sách phát triển CCN của địa phƣơng là chính sách do từng địa phƣơng soạn thảo, ban hành theo phân cấp của hệ thống quản lý Nhà nƣớc hiện hành. Chính sách phát triển CCN của địa phƣơng có phạm vi tác động theo từng địa phƣơng, tƣơng ứng với cấp soạn thảo và ban hành chúng. Vì vậy, mức độ huy động nguồn lực và phạm vi ảnh hƣởng nhỏ hơn.