CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TẠI ĐỊA PHƯƠNG 1.1 Khái niệm công nghiệp Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm công nghiệp. Có quan điểm cho rằng khái niệm công nghiệp là một khái niệm được dùng để chỉ một bộ phận của ngành công nghiệp được tiến hành ở địa phương, hay chính xác hơn là các hoạt động sản xuất mang tính chất công nghiệp diễn ra ở địa phương. Một số tác giả khác đã sử dụng thuật ngữ công nghiệp để bao hàm toàn bộ những hoạt động phi nông nghiệp diễn ra trong phạm vi lãnh thổ của mỗi địa phương, tức là bao gồm cả xây dựng và các hoạt động dịch vụ khác. Nó bao gồm các ngành nghề tiểu, thủ công nghiệp, thủ công cổ truyền, các ngành nghề công nghiệp mới, các tổ chức hoạt động dịch vụ nông thôn với các quy mô khác nhau.
Nói đến công nghiệp là nói đến phát triển ngành nghề công nghiệp, các tổ chức hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp ở địa phương. Việc tồn tại những ý kiến khác nhau về khái niệm công nghiệp tại địa phương chủ yếu xuất phát từ thực trạng các doanh nghiệp công nghiệp ở địa phương còn nhỏ bé và có sự chia cắt trong quản lý giữa Trung ương và địa phương; quy mô và chính sách phát triển công nghiệp chưa được xác định rõ ràng, hợp lý. Ở các địa phương có tỷ trọng nông nghiệp lớn trong cơ cấu kinh tế thì công nghiệp lại càng nhiều vẻ, nhiều dạng, quy mô còn manh mún và chưa ổn định, trình độ công nghệ thấp kém. Mức độ chuyên môn hoá và phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn còn thấp, có khi nhiều ngành nghề công nghiệp và dịch vụ đan xen với nhau, khó tách biệt.
Nhưng điều đó dễ dẫn tới cách hiểu đồng nhất khái niệm công nghiệp với công nghiệp nông thôn. Trước những quan điểm khác nhau như trên, cần tiếp cận khái niệm công nghiệp theo những góc độ khác nhau. Thứ nhất, tiếp cận theo địa bàn phát triển kinh tế tại địa phương, công nghiệp được xem như khu vực công nghiệp được bố trí theo địa bàn quản lý. Cách tiếp cận này thường được chính quyền địa phương sử dụng cho việc lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong vùng lãnh thổ của họ.
Từ quan điểm này công nghiệp có thể được coi như một bộ phận của kinh tế địa phương, phát triển theo một tỉ lệ hợp lý khi so với các ngành kinh tế khác của địa phương. 9 Thứ hai, tiếp cận theo ngành, công nghiệp được coi là một bộ phận của ngành công nghiệp được bố trí, phân bố tại địa phương có mối liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trong ngành này và phát triển trong tổng thể phát triển ngành công nghiệp của cả nước. Thứ ba, tiếp cận góc độ phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp được hình thành từ một thực tế là mức tăng dân số cao, đời sống thấp, ruộng đất canh tác hạn hẹp, thất nghiệp và bán thất nghiệp nhiều trong khu vực nông thôn. Công nghiệp được coi như một phương tiện tạo ra việc làm và thu nhập cho những người dân và là phương thức thu hút có hiệu quả lực lượng lao động dư thừa đang gia tăng ở nông thôn.
Theo như cách tiếp cận này công nghiệp bao gồm toàn bộ những hoạt động sản xuất công nghiệp và những dịch vụ liên quan ở nông thôn. Đây là phương tiện phát triển kinh tế - xã hội và giải quyết những vấn đề trong khu vực nông thôn nói chung và củng cố công nghiệp nông thôn nói riêng. Như vậy, khái niệm công nghiệp sẽ được tiếp cận trong bối cảnh mà hoạt động phát triển công nghiệp được triển khai tại mỗi địa phương được coi như là phương tiện tạo ra việc làm và thu nhập cho người dân, thu hút lao động dư thừa của địa phương đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Quá trình phát triển công nghiệp ở mỗi địa phương cũng bao gồm các hoạt động hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm và tạo thuận lợi trong quá trình sản xuất.
Những ngành công nghiệp đã hình thành và phát triển cũng như được bố trí tại địa phương dựa trên những lợi thế về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội, nguồn lực và những lợi thế khác, sử dụng có hiệu quả nguồn nguyên liệu hoặc lao động tại địa phương. Thứ tư, tiếp cận từ góc độ tổ chức không gian kinh tế - xã hội theo lý thuyết phát triển vùng địa phương. Các lý thuyết phát triển vùng đã chỉ ra các nguyên lý tổ chức không gian kinh tế- xã hội sao cho có hiệu quả nhất tác động đến sự phát triển của vùng nhằm tăng cường hiệu ứng và liên kết các quá trình phát triển trong một trật tự kinh tế xã hội hướng tới phát triển bền vững. Cơ cấu kinh tế vùng, địa phương là biểu hiện về mặt vật chất cụ thể của phân công lao động xã hội theo lãnh thổ.
Cơ cấu công nghiệp theo lãnh thổ hợp lý là kết quả trực tiếp của tổ chức không gian kinh tế - xã hội. Khi tiến hành tổ chức không gian cần tính toán lựa chọn phương án tốt nhất xác định các đối tượng vào lãnh thổ một cách tối ưu. Chính vì vậy, việc tổ chức không gian kinh tế – xã hội tại vùng địa phương không chỉ bố trí hợp lý các đối tượng mà còn sàng lọc các đối tượng giữ lại trong lãnh thổ để phù hợp với sức chứa của vùng địa phương. Từ đó thúc đẩy sự phát triển cao hơn của cơ cấu vùng địa phương.
Đó chính là kết quả lựa chọn và hình 1 0 thành các ngành kinh tế, các thành phần, tổ chức kinh tế phù hợp với đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, phong tục, tập quán của vùng địa phương. Cơ cấu kinh tế vùng địa phương hợp lý phải đảm bảo hai nhóm mục tiêu cơ bản: mục tiêu phát triển của bản thân vùng địa phương; mục tiêu của nền kinh tế quốc dân thực hiện theo chức năng vùng địa phương trong chiến lược phát triển của quốc gia. Lý thuyết phát triển vùng luôn nhấn mạnh đến vai trò của vùng động lực, cực phát triển hay các khu vực theo hình thức phát triển trọng điểm lãnh thổ. Do đó, tổ chức không gian kinh tế – xã hội vùng địa phương cần chứa đựng những khu vực này để phát huy hiệu quả lợi thế so sánh, nâng cao năng lực cạnh tranh vùng địa phương.
Các hình thức cơ bản là: vùng động lực hay vùng kinh tế trọng điểm (thuộc vùng lớn quốc gia); chùm và chuỗi đô thị; hành lang kinh tế; đặc khu kinh tế; khu công nghiệp; khu vườn ươm công nghiệp. Như vậy, tại vùng địa phương, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp có thể được phân bổ theo các đặc điểm tổ chức không gian kinh tế, tạo thành các vùng, cực, khu vực có yếu tố động lực phát triển, đồng thời có thể tồn tại dưới dạng các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ và vừa. Công nghiệp vừa và lớn được đặt tại địa phương như là kết quả của chính sách phi tập trung công nghiệp của Chính phủ để làm giảm mật độ công nghiệp của các đô thị. Những khu công nghiệp như thế thường được bố trí tại khu giáp ranh của các thành phố lớn, vừa có tác dụng giảm tải cho khu vực đô thị và cung cấp thêm việc làm trong khu vực.
Đối với khu vực nông thôn việc phát triển công nghiệp thông qua những doanh nghiệp công nghiệp quy mô nhỏ, với cơ sở sản xuất có trình độ công nghệ thích hợp, sử dụng vốn đầu tư phù hợp với người dân nông thôn. Phát triển công nghiệp là tìm cách phát huy các mặt mạnh, tìm kiếm và tạo ra những thế mạnh mới, tạo ra các giá trị gia tăng cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại,… liên quan đến các hoạt động của lĩnh vực công nghiệp; sự thay đổi các yếu tố và thái độ của các tác nhân trong từng thời điểm nhất định. Phát triển công nghiệp được hiểu đó là việc đề ra cho lãnh thổ vùng địa phương chiến lược phát triển công nghiệp được bảo đảm thực thi bởi chính sách phát triển dựa trên lợi thế; chiến lược này sẽ thường xuyên được đánh giá và xác định, điều chỉnh theo sự xuất hiện của các tình huống, các yếu tố và tác nhân mới, hay theo sự phát triển của môi trường kinh tế, chính trị, xã hội có liên quan. Phát triển công nghiệp không chỉ liên quan đến việc hội nhập với thị trường bên ngoài mà còn liên quan tới sự xoá bỏ những lỗ hổng tại địa phương đó, nghĩa là khuyến khích các doanh nghiệp tìm kiếm những nhà cung cấp và 1 1 khách hàng ngay tại địa phương của mình.
Khuyến khích sự tương tác giữa các doanh nghiệp địa phương sẽ tạo ra cơ hội kinh doanh, phát triển công nghệ cũng như quy mô đầu tư của các doanh nghiệp tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương. Từ các cách tiếp cận ấy có thể rút ra khái niệm công nghiệp được đề cập trong Luận văn này bao gồm: Các ngành công nghiệp, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ công nghiệp trên địa bàn một tỉnh, vùng, theo ranh giới địa lý xác định. Theo khái niệm này công nghiệp đã bao gồm không phân biệt các loại hình sở hữu, loại hình quản lý, quy mô thuộc địa bàn của một địa phương xác định. Công nghiệp là bộ phận của công nghiệp quốc gia, gắn với không gian kinh tế-xã hội của địa phương theo ranh giới xác định.2 Vai trò của công nghiệp Phát triển công nghiệp là những nội dung quan trọng, là hợp phần của công nghiệp của mỗi quốc gia.
Cho dù có nhiều cách tiếp cận và nhận định khác nhau về phát triển công nghiệp nhưng hầu hết các quan điểm này đều thống nhất đề cao vai trò của phát triển công nghiệp, đó là: 1.1 Phát triển công nghiệp đóng góp vào sự tăng trưởng của vùng địa phương nói riêng và nền kinh tế quốc dân nói chung Sự phát triển kinh tế đáng ghi nhận của các nước Đông Á trong hơn một thập kỷ gần đây mà đặc biệt là sự tăng trưởng kinh tế thần kỳ của Trung Quốc đã được ghi nhận như là một hình mẫu của thế giới về hoạch định và thực thi phát triển công nghiệp. Trung Quốc với phát triển công nghiệp phù hợp dưới mô hình các đặc khu kinh tế trong 10 năm gần đây luôn duy trì tốc độ tăng trưởng cao và đã phát triển đến mức được gọi là "Công xưởng của thế giới".