Luận văn: Thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở cho DTTS ở Long Điền, BR-VT

Luận văn phân tích chính sách hỗ trợ nhà ở cho đồng bào DTTS tại huyện Long Điền, Bà Rịa-Vũng Tàu, đề xuất các giải pháp thực tiễn.

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Chính Sách Công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

65
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan chính sách nhà ở DTTS huyện Long Điền BR VT

Chính sách nhà ở cho đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) là một trụ cột quan trọng trong hệ thống chính sách an sinh xã hội của Việt Nam. Tại huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, việc thực thi chính sách này không chỉ giải quyết nhu cầu nhà ở cấp thiết mà còn góp phần ổn định đời sống, phát triển kinh tế-xã hội và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Với dân số khoảng 1.719 khẩu thuộc 11 DTTS, huyện Long Điền đã và đang triển khai nhiều chương trình, đề án dựa trên các văn bản pháp lý của trung ương và địa phương. Mục tiêu chính là xóa nhà tạm, nhà dột nát, giúp các hộ nghèo DTTShộ cận nghèo DTTS có nơi an cư, từ đó tạo động lực vươn lên thoát nghèo bền vững. Việc triển khai các chính sách này được thực hiện dưới sự chỉ đạo của UBND huyện Long Điền và sự phối hợp chặt chẽ của Ban Dân tộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, đảm bảo các nguồn lực hỗ trợ đến đúng đối tượng và phát huy hiệu quả tối đa.

1.1. Vai trò của chính sách an sinh xã hội đối với đồng bào

An sinh xã hội, đặc biệt là hỗ trợ nhà ở cho đồng bào DTTS, đóng vai trò nền tảng trong việc giảm nghèo và phát triển bền vững. Một ngôi nhà kiên cố không chỉ là nơi che mưa che nắng mà còn là điều kiện tiên quyết để người dân yên tâm lao động sản xuất, con em được học hành ổn định. Tại huyện Long Điền, việc thực hiện chính sách này thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước, góp phần nâng cao niềm tin của đồng bào vào hệ thống chính trị. Chính sách này giúp thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng DTTS và các khu vực khác, đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau. Các chương trình hỗ trợ như xây dựng nhà đại đoàn kết đã trở thành biểu tượng của tinh thần tương thân tương ái, củng cố mối quan hệ đoàn kết giữa các dân tộc anh em trên địa bàn, góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

1.2. Cơ sở pháp lý và Quyết định của Thủ tướng về nhà ở DTTS

Việc thực hiện chính sách nhà ở cho DTTS tại Long Điền dựa trên một hệ thống văn bản pháp lý chặt chẽ. Nổi bật là các Quyết định của Thủ tướng về nhà ở DTTS như Quyết định số 2085/QĐ-TTg, Quyết định 33/2013/QĐ-TTg và gần đây là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển KT-XH vùng DTTS giai đoạn 2021-2030 theo Nghị quyết 88/2019/QH14. Các văn bản này quy định rõ đối tượng, điều kiện hỗ trợ đất ở, nhà ở, định mức hỗ trợ nhà ở, và cơ chế thực hiện. Tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, HĐND tỉnh đã cụ thể hóa bằng Nghị quyết số 48/2016/NQ-HĐND, tạo hành lang pháp lý vững chắc để UBND huyện Long Điền triển khai các đề án hỗ trợ một cách công khai, minh bạch và hiệu quả, đảm bảo nguồn vốn ngân sách và các nguồn lực xã hội hóa được sử dụng đúng mục đích.

II. Thách thức trong chính sách nhà ở cho DTTS huyện Long Điền

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu quan trọng, việc triển khai chính sách nhà ở cho DTTS tại huyện Long Điền vẫn đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Những rào cản này đến từ cả yếu tố khách quan lẫn chủ quan, đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị và sự nỗ lực của chính người dân. Các vấn đề nổi cộm bao gồm hạn chế về quỹ đất ở hợp pháp, vướng mắc trong thủ tục hành chính đất đai, và khó khăn trong việc giải ngân vốn hỗ trợ. Bên cạnh đó, một bộ phận đồng bào vẫn còn tâm lý trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước, chưa chủ động phát huy nội lực để vươn lên. Những thách thức này nếu không được giải quyết triệt để sẽ ảnh hưởng đến tiến độ và tính bền vững của chính sách, làm chậm quá trình cải thiện đời sống cho các hộ nghèo DTTS.

2.1. Hạn chế về quỹ đất và thủ tục hành chính đất đai phức tạp

Một trong những khó khăn lớn nhất là tình trạng thiếu quỹ đất ở hợp pháp để cấp cho các hộ DTTS. Nhiều hộ dân sinh sống trên đất nông nghiệp, đất do nhà nước quản lý hoặc đất nằm trong vùng quy hoạch, không đủ điều kiện pháp lý để xây dựng nhà ở kiên cố. Tài liệu nghiên cứu cho thấy, tại các địa phương như thị xã Phú Mỹ và huyện Long Điền, việc không còn quỹ đất công đã khiến việc hỗ trợ xây nhà cho nhiều hộ nghèo không thể thực hiện. Hơn nữa, các thủ tục hành chính đất đai liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất còn phức tạp, tốn nhiều thời gian, gây khó khăn cho cả chính quyền cơ sở và người dân trong quá trình hoàn thiện hồ sơ để nhận hỗ trợ.

2.2. Vấn đề giải ngân vốn hỗ trợ và tâm lý ỷ lại của hộ dân

Việc giải ngân vốn hỗ trợ và vốn vay ưu đãi đôi khi còn chậm, chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu xây dựng của người dân. Báo cáo của tỉnh BR-VT chỉ ra rằng tỷ lệ giải ngân vốn đối ứng từ Ngân hàng Chính sách xã hội còn thấp, chỉ đạt 57,2% kinh phí đã bố trí. Nguyên nhân một phần do đồng bào e ngại vay nợ, sợ không có khả năng trả, hoặc đã có nợ xấu từ các nguồn vay khác. Thêm vào đó, một bộ phận không nhỏ đồng bào vẫn còn tâm lý trông chờ, ỷ lại, chưa nhận thức đầy đủ trách nhiệm đối ứng và tự vươn lên. Trích dẫn từ tài liệu gốc cho thấy: "còn không ít hộ đồng bào dân tộc có tâm lý chủ quan, trông chờ ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước". Điều này làm giảm tính chủ động và tính bền vững của chính sách, khiến mục tiêu giảm nghèo gặp nhiều trở ngại.

III. Phương pháp hỗ trợ nhà ở cho đồng bào DTTS qua MTQG

Để giải quyết các thách thức, Chính phủ đã triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển KT-XH vùng DTTS và miền núi (MTQG). Đây là một phương pháp tiếp cận toàn diện, không chỉ tập trung vào nhà ở mà còn lồng ghép các chính sách về đất sản xuất, nước sinh hoạt, phát triển giáo dục và bảo tồn văn hóa. Chương trình này được xem là giải pháp đột phá, với nguồn lực đầu tư lớn và cơ chế thực hiện đồng bộ. Tại Bà Rịa-Vũng Tàu, Ban Dân tộc tỉnh đóng vai trò chủ trì, phối hợp với các địa phương như huyện Long Điền để cụ thể hóa các mục tiêu của chương trình. Trọng tâm là giải quyết dứt điểm tình trạng nhà ở tạm bợ, thiếu kiên cố, đảm bảo mọi hộ gia đình DTTS đều có nơi ở ổn định, an toàn, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo đa chiều và bền vững.

3.1. Mục tiêu xóa nhà tạm nhà dột nát trong chương trình

Mục tiêu cốt lõi của chính sách là xóa nhà tạm, nhà dột nát. Chương trình MTQG đặt ra chỉ tiêu cụ thể về giải quyết nhà ở cho hàng chục nghìn hộ trên cả nước. Theo đó, các hộ gia đình thuộc diện đối tượng sẽ được hỗ trợ một phần kinh phí từ ngân sách nhà nước, kết hợp với nguồn vay vốn ưu đãi làm nhà và vốn đối ứng của gia đình. Phương châm "Nhà nước hỗ trợ, nhân dân tự làm, cộng đồng giúp đỡ" được phát huy mạnh mẽ. Tại Long Điền, việc rà soát, bình xét đối tượng được thực hiện công khai từ cấp thôn, ấp, đảm bảo đúng người, đúng hoàn cảnh. Kết quả là hàng trăm căn nhà tạm đã được thay thế bằng những ngôi nhà bán kiên cố, giúp cải thiện rõ rệt điều kiện sống và mang lại niềm vui, sự phấn khởi cho đồng bào.

3.2. Vai trò của Ban Dân tộc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu trong Đề án

Ban Dân tộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu là cơ quan chuyên môn, tham mưu cho UBND tỉnh trong việc xây dựng và triển khai Đề án phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS. Ban Dân tộc có vai trò then chốt trong việc hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các địa phương, bao gồm cả huyện Long Điền, thực hiện đúng các chủ trương, chính sách. Cơ quan này chịu trách nhiệm tổng hợp nhu cầu, phân bổ nguồn vốn, và đánh giá hiệu quả thực hiện chính sách. Sự phối hợp chặt chẽ giữa Ban Dân tộc tỉnh và UBND huyện Long Điền đã tạo ra một cơ chế vận hành thông suốt, giúp tháo gỡ kịp thời các khó khăn, vướng mắc tại cơ sở, đảm bảo chính sách hỗ trợ nhà ở cho đồng bào DTTS được triển khai nhanh chóng và hiệu quả.

IV. Quy trình thực hiện chính sách nhà ở DTTS tại Long Điền

Để đảm bảo chính sách đến đúng đối tượng và phát huy hiệu quả, quy trình thực hiện chính sách nhà ở cho DTTS huyện Long Điền được xây dựng một cách bài bản, minh bạch. Quy trình này bao gồm các bước từ rà soát, lập danh sách đối tượng, thẩm định hồ sơ, phê duyệt hỗ trợ, đến tổ chức triển khai xây dựng và nghiệm thu, quyết toán. Mọi khâu đều có sự tham gia giám sát của Mặt trận Tổ quốc và cộng đồng dân cư. Việc xác định đúng đối tượng là hộ nghèo DTTShộ cận nghèo DTTS gặp khó khăn về nhà ở là bước đầu tiên và quan trọng nhất. Sau khi được phê duyệt, các hộ dân sẽ được hướng dẫn về cơ chế vay vốn ưu đãi làm nhà để có đủ nguồn lực tài chính, kết hợp với sự giúp đỡ của cộng đồng để xây dựng ngôi nhà mơ ước.

4.1. Điều kiện xét duyệt cho hộ nghèo và hộ cận nghèo DTTS

Đối tượng được hưởng chính sách là các hộ nghèo DTTShộ cận nghèo DTTS theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia hoặc chuẩn nghèo của tỉnh. Các hộ này phải đang sinh sống tại địa phương và thực sự gặp khó khăn về nhà ở: chưa có nhà, nhà ở tạm bợ, dột nát, hoặc nhà đã hư hỏng, xuống cấp có nguy cơ sập đổ. Một điều kiện quan trọng khác là hộ gia đình phải có đất ở hợp pháp hoặc được địa phương xác nhận đủ điều kiện bố trí đất ở theo quy hoạch. Việc bình xét được tiến hành công khai tại các cuộc họp thôn, ấp, có sự xác nhận của chính quyền xã, phường, thị trấn trước khi trình UBND huyện Long Điền phê duyệt, nhằm đảm bảo tính công bằng và chính xác.

4.2. Cơ chế vay vốn ưu đãi làm nhà và định mức hỗ trợ

Bên cạnh nguồn vốn hỗ trợ trực tiếp không hoàn lại từ ngân sách, cơ chế vay vốn ưu đãi làm nhà từ Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) là một kênh tài chính quan trọng. Theo quy định, các hộ đủ điều kiện có thể được vay một khoản vốn với lãi suất thấp và thời gian trả nợ kéo dài, giúp giảm bớt gánh nặng tài chính. Định mức hỗ trợ nhà ở và mức vay được quy định cụ thể trong từng giai đoạn, tuy nhiên, tài liệu nghiên cứu cũng chỉ ra một bất cập là mức hỗ trợ còn thấp so với chi phí xây dựng thực tế. Ví dụ, một số chính sách chỉ hỗ trợ 7 triệu đồng và cho vay tối đa 8 triệu đồng, tổng cộng 15 triệu đồng, không đủ để xây một căn nhà cơ bản. Điều này đòi hỏi hộ gia đình phải có thêm nguồn vốn đối ứng đáng kể.

V. Đánh giá kết quả thực hiện chính sách nhà ở DTTS 2016 2020

Giai đoạn 2016-2020 ghi nhận những kết quả tích cực trong việc thực hiện chính sách nhà ở cho DTTS tại huyện Long Điền và toàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Nhờ sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, đời sống của đồng bào đã có những chuyển biến rõ rệt. Hàng trăm hộ gia đình đã thoát khỏi cảnh nhà tạm, có nơi ở ổn định, khang trang hơn. Việc triển khai các Đề án đã góp phần quan trọng vào thành công của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển KT-XH vùng DTTS, thể hiện qua các số liệu cụ thể về số lượng nhà được xây mới và sửa chữa. Chính sách này không chỉ cải thiện điều kiện vật chất mà còn nâng cao đời sống tinh thần, giúp đồng bào thêm tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

5.1. Số liệu thực tế về xây dựng nhà ở và nhà đại đoàn kết

Theo báo cáo tổng kết, trong giai đoạn 2016-2020, toàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã thực hiện xây mới 626 căn nhà cho các hộ DTTS khó khăn. Tổng kinh phí hỗ trợ từ Đề án là 25.040 triệu đồng. Bên cạnh đó, Quỹ “Vì người nghèo” các cấp cũng hỗ trợ thêm cho 199 hộ với số tiền 3.980 triệu đồng, trong đó có nhiều mô hình nhà đại đoàn kết. Các hộ dân đã tích cực đối ứng kinh phí, ngày công lao động, với tổng vốn đối ứng lên đến 9.390 triệu đồng. Những con số này cho thấy sự thành công của chính sách khi huy động được sức mạnh tổng hợp từ Nhà nước, cộng đồng và chính người dân, góp phần thay đổi diện mạo nhà ở tại vùng đồng bào DTTS.

5.2. Tác động của chính sách đến đời sống kinh tế xã hội

Chính sách hỗ trợ nhà ở cho đồng bào DTTS đã tạo ra tác động lan tỏa tích cực. Khi có nhà ở ổn định, người dân có điều kiện tốt hơn để chăm lo sản xuất, phát triển kinh tế gia đình. Con cái họ có không gian học tập tốt hơn, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Tình trạng di cư tự do giảm, an ninh trật tự tại địa phương được đảm bảo. Việc triển khai chính sách cũng nâng cao năng lực quản lý, điều hành của đội ngũ cán bộ cơ sở. Quan trọng hơn, chính sách đã củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, tăng cường niềm tin của đồng bào đối với Đảng và Nhà nước, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội chung của huyện Long Điền.

VI. Giải pháp hoàn thiện chính sách nhà ở cho DTTS Long Điền

Để chính sách nhà ở cho DTTS tại huyện Long Điền phát huy hiệu quả cao hơn và mang tính bền vững, cần có những giải pháp đồng bộ trong thời gian tới. Việc hoàn thiện chính sách không chỉ dừng lại ở việc tăng mức hỗ trợ, mà còn phải giải quyết các vấn đề gốc rễ như quy hoạch đất đai, cải cách thủ tục hành chính và nâng cao năng lực cho cả cán bộ và người dân. Cần chuyển từ tư duy hỗ trợ, cho không sang hỗ trợ có điều kiện, kích thích ý chí tự lực, tự cường của đồng bào. Đồng thời, công tác tuyên truyền cần được đẩy mạnh để thay đổi nhận thức, giúp người dân hiểu rõ quyền lợi và trách nhiệm của mình, từ đó chủ động tham gia vào quá trình cải thiện cuộc sống.

6.1. Nâng cao năng lực cán bộ và công tác tuyên truyền chính sách

Một trong những hạn chế được chỉ ra là đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc ở cấp xã, phường còn kiêm nhiệm, thường xuyên thay đổi, dẫn đến việc nắm bắt tình hình và tham mưu chính sách chưa kịp thời. Do đó, cần bố trí cán bộ chuyên trách, ổn định và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thường xuyên. Song song đó, công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách cần được đổi mới về nội dung và hình thức, sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu, phù hợp với văn hóa của đồng bào. Việc tuyên truyền hiệu quả sẽ giúp người dân từ bỏ tâm lý ỷ lại, nâng cao ý thức trách nhiệm, chủ động tham gia xây dựng và bảo quản ngôi nhà của chính mình.

6.2. Đề xuất điều chỉnh định mức hỗ trợ nhà ở phù hợp thực tiễn

Thực tế cho thấy định mức hỗ trợ nhà ở hiện tại còn thấp so với giá cả vật liệu và chi phí nhân công xây dựng. Để đảm bảo tính khả thi, cần nghiên cứu, điều chỉnh mức hỗ trợ và mức cho vay ưu đãi sát với thực tế thị trường. Cần có cơ chế linh hoạt, cho phép địa phương huy động thêm các nguồn lực xã hội hóa để bổ sung vào nguồn vốn hỗ trợ. Ngoài ra, cần xây dựng các mẫu nhà ở phù hợp với điều kiện khí hậu, tập quán sinh hoạt của từng dân tộc, vừa đảm bảo tiêu chí "3 cứng" (nền cứng, khung cứng, mái cứng), vừa tiết kiệm chi phí và giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào.

04/10/2025
Luận văn thực hiện chính sách hỗ trợ về nhà ở cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện long điền tỉnh bà rịa vũng tàu

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu công cuộc đổi mới – đã đặt ra nhiều vấn đề đổi mới việc thực hiện chính sách dân tộc và đề ra một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi (Nghị quyết số 22/NQ-TW ngày 27/11/1989). Đại hội lần thứ VIII của Đảng khẳng định: "Vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược". Đại hội lần thứ IX của Đảng một lần nữa khẳng định lại và phát triển thêm: "Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc luôn 12 có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng”. Đặc biệt là Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (khóa IX) đã ra Nghị quyết riêng về Công tác dân tộc, trong đó nhấn mạnh: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam"(2).

Sau 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đại hội lần thứ X của Đảng một lần nữa khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta”(3). Tại Đại hội lần thứ XI, Đảng ta kế thừa các quan điểm, đường lối của các Đại hội trước đó, tiếp tục thể hiện tư tưởng kiên trì, nhất quán; “Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nghiên cứu xây dựng các cơ chế, chính sách, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội vùng dân tộc thiểu số.

Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các cấp. Chống kỳ thị dân tộc; nghiêm trị những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc"(4). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã tiếp tục bổ sung, phát triển chủ trương đường lối về dân tộc và chính sách dân tộc: “Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của nước ta. Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây nam Bộ và Tây 13 duyên hải miền Trung.

Nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực và chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, người tiêu biểu có uy tín trong cộng đồng các dân tộc. Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các cấp. Chống kỳ thị dân tộc; nghiêm trị những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc"(5). Để tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết số 24-NQ/TW về công tác dân tộc, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 57-KL/TW ngày 03/4/2009 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa IX) về công tác dân tộc.

Tại phiên họp ngày 17/10/2019 của Ban Chấp hành Trung ưởng Đảng khóa XII, sau khi nghe Ban Chỉ đạo Trung ương báo cáo kết quả tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, ý kiến của các cơ quan liên quan, Bộ Chính trị đã kết luận: "Qua hơn 15 năm thực hiện Nghị quyết, công tác dân tộc có nhiều chuyển biến tích cực, đạt được nhiều thành tựu toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc, đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, củng cố lòng tin của đồng bào dân tộc thiểu số đối với Đảng, Nhà nước"(6). Theo đó, ngày 30/10/2019, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 65-KL/TW về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới. Ngoài các văn kiện quan trọng trên, trong thời kỳ này công tác dân tộc và chính sách dân tộc còn có các chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm an ninh quốc phòng vùng DTTS, như: (i) Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 01/7/2004 của Bộ Chính trị (Khóa IX) về phương hướng phát 14 triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010; Kết luận số 26-KL/TW ngày 02/8/2012 của Bộ Chính trị (Khóa XI) về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 01/7/2004 của Bộ Chính trị khóa IX nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2020; (ii) Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/01/2002 của Bộ Chính trị (Khóa IX) về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên thời kỳ 2001- 2010; Kết luận số 12-KL/TW ngày 24/11/2011 của Bộ Chính trị (Khóa XI) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/01/2002 của Bộ Chính trị khóa IX về phát triển vùng Tây Nguyên thời kỳ 2011-2020; (iii) Nghị quyết số 21- NQ/TW ngày 20/01/2003 của Bộ Chính trị (Khóa IX) về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2001-2010; Kết luận số 28-KL/TW ngày 14/8/2012 của Bộ Chính trị (Khóa XI) về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2011-2020; (iv) Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 16/8/2004 của Bộ Chính trị (Khóa IX) về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ đến năm 2010; Kết luận số 25-KL/TW ngày 02/8/2012 của Bộ Chính trị khóa XI về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 39- NQ/TW ngày 16/8/2004 của Bộ Chính trị khóa IX nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ đến năm 2020. Như vậy có thể thấy, giai đoạn từ 2003 đến 2019, chủ trương, đường lối về công tác dân tộc, chính sách dân tộc được Ban Chấp hành trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đặc biệt quan tâm và ban hành bằng những văn bản cụ thể, làm cơ 15 sở cho Nhà nước thể chế hóa thành chính sách dân tộc.

Điểm đổi mới quan trọng nhất trong giai đoạn này là sự bổ sung, phát triển đường lối, quan điểm về vấn đề dân tộc trong Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng, trong đó, đáng chú ý là: (i) Thay đổi trật tự các từ thể hiện quan điểm, từ “bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng.” của Đại hội XI thành “bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết.” ; (ii) Bổ sung thêm quan điểm “giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc."; (iii) phát triển quan điểm "giúp nhau cùng tiến bộ." thành "giúp nhau cùng phát triển."; (iv) Bổ sung thêm địa bàn trọng điểm vùng có đông đồng bào DTTS "Tây duyên hải miền Trung”, ngoài 3 khu vực là Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ như Đại hội XI xác định; (v) bổ sung, phát triển "Nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực và chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, người tiêu biểu có uy tín trong cộng đồng các dân tộc". Khái quát về thực trạng kinh tế - xã hội vùng DTTS Nước ta có 53 DTTS với 14.232 người, gần 3 triệu hộ (chiếm 14,7% dân số cả nước), cư trú thành cộng đồng ở 51 tỉnh, thành phố, 548 huyện, 5266 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 382 xã biên giới (tiếp giáp với Trung Quốc, Lào và Campuchia). Địa bàn cư trú chủ yếu ở vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Tây Duyên hải miền Trung, chiếm 3/4 diện tích cả nước. Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng – an ninh, Đảng và Nhà nước ta đã xác định vùng đồng bào DTTS khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Tây Duyên hải Miền trung là những khu vực trọng yếu, giữ vị trí chiến lược quan trọng của đất nước.

Vùng đồng bào DTTS&MN có 5.957 xã khu vực III và 20.139 thôn, bản ngoài xã khu vực III thuộc diện đặc biệt khó khăn. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, tỷ trọng lao động vùng đồng bào 16 DTTS&MN làm việc trong khu vực nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao (hơn 80%), cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn thấp kém, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đồng bào các DTTS được tiếp cận và hưởng thụ các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức rất thấp so với bình quân chung cả nước: còn hơn 21% người DTTS trên 15 tuổi chưa đọc thông viết thạo tiếng Việt; khoảng 30% học sinh DTTS chưa được đi học đúng độ tuổi; Mức độ tiếp cận các dịch vụ y tế còn nhiều khó khăn, tỷ lệ được cấp thẻ BHYT cao nhưng tỷ lệ khám, chữa bệnh còn thấp, tỷ lệ phụ nữ mang thai được khám định kỳ mới đạt 71%, tỷ lệ sinh con tại nhà là 36,3%, trẻ em suy dinh dưỡng là 32%; gần 1/3 số hộ DTTS chưa được tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh; hơn 15,3% số hộ gia đình người DTTS ở nhà tạm, đặc biệt có 14 dân tộc có tỷ lệ nhà ở tạm gần 50%; 2/3 số hộ DTTS chưa có nhà xí hợp vệ sinh. Vùng đồng bào DTTS& MN đã và đang là “lõi nghèo của cả nước”: Thu nhập bình quân của hộ đồng bào DTTS ở nhiều nơi chỉ bằng 40-50% bình quân thu nhập trong khu vực; tỷ lệ dân số DTTS chiếm 14,7% nhưng tỷ lệ hộ nghèo chiếm 55,27% tổng số hộ nghèo của cả nước.

Hiện có 9 tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo người DTTS chiếm trên 90%; 4 tỉnh tỷ lệ hộ nghèo từ 70% - 90%. Một số nhóm DTTS có tỷ lệ hộ nghèo đang ở mức rất cao lên đến 70 - 80% như: Ơ Đu, Co,Khơ Mú, Xinh Mun, La Ha, Kháng, Mông và Xơ Đăng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ