CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH KINH TẾ HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Trên thế giới hiện nay chưa có khái niệm chung DN NVV Ở mỗi quốc gia khác nhau có những quan niệm và cách nhìn khác nhau, tùy từng điều kiện kinh tế, xã hội và các yêu cầu phát triển kinh tế đất nước mà mỗi quốc gia quan niệm về DN NVV theo các góc độ và tiêu chí khác nhau. DN NVV được đề cập đến với các tên như: SME, SMEs hay SME là viết tắt của cụm từ Small and Medium Enterprise, những cụm từ này có nghĩa là DN NVV. Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về vốn, lao động hay doanh thu.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại căn cứ vào quy mô, đó là: Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa”. [1] Theo tiêu chí của Ngân hàng thế giới (World Bank), doanh nghiệp siêu nhỏ là “Doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 người đến 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động”[2] Tại Nhật Bản, trong Bộ luật cơ bản về DN NVV của Nhà nước Nhật đã xác định các DN NVV là: đối với lĩnh vực công nghiệp chế biến và khai thác thì doanh nghiệp sử dụng dưới 300 lao động, có số vốn sản xuất kinh doanh dưới 100 triệu yên. Một số quốc gia khác lại xác định quy mô DN NVV không phải chỉ theo từng ngành kinh tế kỹ thuật, không chỉ dựa trên tiêu chí vốn và lao động mà còn dựa vào doanh thu của DN NVV. Ở Đài Loan đối với ngành công nghiệp chế tạo, xây dựng và khai khoáng ở thì doanh thu không vượt quá 1,5 triệu USD, vốn không được vượt quá 120 triệu tệ Đài Loan và sử dụng dưới 50 lao động thì được gọi là DN NVV … Công văn số 681/CP- KTN ngày 20/6/1998 của Chính phủ về việc định 14 hướng chiến lược và chính sách phát triển các DN NVV xác định: “doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và số lao động trung bình hàng năm dưới 200 người thì được gọi là vừa và nhỏ” [3].
Tuy nhiên, cũng được áp dụng linh hoạt tùy vào điều kiện của mỗi địa phương để chọn lựa các tiêu chí xác định DN NVV. Điều 3, Nghị định số 90/2001/NĐ – CP của Chính phủ về trợ giúp phát triển DN NVV đã đưa ra định nghĩa như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên”[4]. Có thể nói, việc xác định DN NVV đã được cụ thể hóa về các tiêu chuẩn hơn.
Nghị định số 56/2009/NĐ- CP ngày 30/06/2009 về trợ giúp phát triển DN NVV đã khái niệm rõ ràng, chi tiết hơn, phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ theo ba cấp độ, nhấn mạnh đến tiêu chí tổng nguồn vốn để đánh giá, phân loại về doanh nghiệp vừa và nhỏ: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên. Tại Điều 4 Luật Hỗ trợ DN NVV năm 2017, đã qui định: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: a) Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; b) Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng. c) Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ. Như vậy, có thể hiểu: DN NVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật được chia thành 3 cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo 15 quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân sử dụng theo năm.
Khái niệm về chính sách kinh tế a) Khái niệm về kinh tế Thuật ngữ kinh tế (economy) tiếng Anh được bắt đầu từ yconomie của tiếng Pháp trung đại, nó được bắt nguồn từ oeconomia của tiếng Latinh Trung Cổ, và oeconomia lại bắt nguồn từ oikonomia hay oikonomos là tiếng Hy Lạp cổ đại. Nghĩa đầu tiên của từ oikos có nghĩa là "ngôi nhà", nghĩa thứ hai nemein là "quản lý. Có thể hiểu “kinh tế” theo những quan niệm này là “quản lý ngôi nhà”. James, Paul (2015), người Anh đã khái niệm về Kinh tế (economy) “là một lĩnh vực sản xuất, phân phối và thương mại, cũng như tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ.
Tổng thể, nó được định nghĩa là một lĩnh vực xã hội tập trung vào các hoạt động, tranh luận và các biểu hiện vật chất gắn liền với việc sản xuất, sử dụng và quản lý các nguồn tài nguyên khan hiếm” [7] Như vậy có thể hiểu: kinh tế thuộc về sản xuất, chế biến, lưu thông, phân phối, tiêu thụ và trao đổi hàng hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất trong xã hội. Từ bản chất này của kinh tế cho thấy kinh tế luôn theo đuổi tối đa hóa nguồn tài nguyên và nguồn lực hiệu quả phục vụ và thỏa mãn nhu cầu vật chất của con người. Từ đó, hoạt động giao thương phát triển và đem lại giá trị bền vững cho đời sống kinh tế- xã hội loài người. Kinh tế là thước đo giá trị của xã hội, là các hoạt động tạo ra giá trị thông qua hình thức buôn bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ.
b) Khái niệm về chính sách Có nhiều quan niệm về chính sách. Như vậy có thể hiểu chính sách được hiểu là kế hoạch hành động, được thỏa thuận hoặc được lựa chọn bởi Chính phủ hoặc đảng chính trị hoặc doanh nghiệp, như vậy có chính sách công và chính sách tư, là cách thức hoạt động của một chủ thể nhất định nào đó nhằm giải quyết các vấn đề đang tồn tại và định hướng phát triển. 16 c) Khái niệm về chính sách kinh tế Kinh tế là các hoạt động liên quan đến hoạt động sản xuất, phân phối, lưu thông và tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm, của cải trong xã hội. Còn chính sách là kế hoạch hành động, được thỏa thuận hoặc lựa chọn bởi các chủ thể quyền lực khác nhau.
Vì vậy, có cả chính sách kinh tế của Nhà nước và có cả chính sách kinh tế của các tổ chức khác. Chính sách kinh tế của Nhà nước là bộ công cụ chủ yếu mà Nhà nước dùng để tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư của mọi thành phần kinh tế của một quốc gia, nó được thể hiện qua một loạt các qui định điều chỉnh về thuế, đầu tư và chi tiêu chính phủ, chính sách tiền tệ, tín dụng, chính cách lãi suất, và chính sách thương mại.v…Chính sách kinh tế là một khái niệm quan trọng và phổ biến trong lĩnh vực kinh tế và quản lý kinh tế của các thành phần kinh tế dù là khu vực công hay khu vực tư. Như vậy, có thể hiểu chính sách kinh tế là những quy định, hướng dẫn, những kế hoạch hành động và quyết định của Nhà nước hoặc của các Tổ chức khác nhau nhằm điều hành, điều chỉnh và phát triển kinh tế của một tổ chức hoặc phát triển kinh tế của một quốc gia. Khái niệm về chính sách kinh tế hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng, khái niệm “hỗ trợ” có nghĩa là "giúp đỡ thêm, bổ sung thêm" khái niệm hỗ trợ được hiểu là “ sự giúp đỡ”, mang tính chính sách, thể hiện việc chỉ có giúp, cho thêm vào với mục đích giúp các cá nhân, tổ chức bắt đầu một công việc mới, tạo điều kiện về các nguồn lực giúp đối tượng tồn tại, phát triển và vượt qua được khó khăn, thách thức để thực hiện được mục tiêu của mình.
Một số quốc gia chưa thật sự “rạch ròi” giữa khái niệm “bồi thường” và “hỗ trợ”. Thí dụ như là Nhà nước lấy đất nông nghiệp sản xuất của nông dân, về bản chất là bồi thường về đất, nhưng vì luật quy định về giá đất nông nghiệp xác định theo kiểu thu nhập từ sản xuất nông nghiệp nên giá đất quá thấp, rồi áp dụng thêm 17 khoản gọi là “hỗ trợ”. Nói đến “hỗ trợ” cần phải nhắc đến chủ thể hỗ trợ và đối tượng được hỗ trợ. Ở đây, khái niệm về “hỗ trợ DN NVV”, thực chất là đang nói đến ảnh hưởng tiêu cực của các khủng hoảng, như đại dịch Covid-19 đến mọi hoạt động sản xuất và kinh doanh của các DN NVV.
Nên về bản chất, các DN NVV đang cần được giúp đỡ ở mọi phương diện của các tổ chức, cá nhân, đặc biệt là của Nhà nước để các doanh nghiệp vừa và nhỏ vượt qua được những tổn thất do các cuộc khủng hoảng đem lại như là tổn thất sau đại dịch Covid-19. Đại dịch COVID-19 đã gây ra cú sốc kinh tế toàn cầu, ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế thế giới. Tăng trưởng của các quốc gia ở mức âm; thương mại và đầu tư toàn cầu giảm sút; người lao động không có việc làm, thất nghiệp gia tăng ở hầu hết các quốc gia. Đi liền với thách thức, khó khăn của đại dịch Covid-19 là những cơ hội cho thương mại điện tử phát triển, tạo điều kiện cho công nghệ số có đất được thực hành.
COVID-19 tạo đà để đẩy mạnh quá trình ứng dụng công nghệ số và rút ngắn quá trình ứng dụng cách mạng 4.0 vào trong sản xuất, kinh doanh. Covid-19 gây ra nhiều khó khăn nhưng cũng đem lại nhiều cơ hội mới cho các doanh nghiệp nếu như các DN NVV được sự hỗ trợ từ Nhà nước về các chính sách, các đòn bẩy giúp sức từ Nhà nước về kinh tế tài chính.