CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CỰU CHIẾN BINH 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm người có công Pháp lệnh ưu đãi người có công được thực hiện từ năm 1995 nhưng cho đến nay vẫn chưa có một văn bản nào nêu rõ khái niệm chính sách đối với người có công. Trong thực tiễn, khái niệm NCC xuất hiện trong lịch sử đấu tranh giành độc lập và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta.
Ngay từ những năm đầu sau khi giành độc lập dân tộc (ngày 27 tháng 7 năm 1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi đồng bào hằng năm chọn một ngày để đền ơn đáp nghĩa, ghi nhớ tri ân những người có công lao với Tổ quốc, với nhân dân. Người nói: “Thương binh là những người hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào, các đồng chí đã chịu ốm yếu, què quẹt. Vì vậy, Tổ quốc, đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy…", từ đó đến nay, ngày 27 tháng 7 hàng năm là dịp để đồng bào tỏ lòng hiếu nghĩa, bác ái và tỏ lòng yêu mến thương binh”.
Theo nghĩa rộng, khái niệm người có công để chỉ những người, những gia đình đã cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của đất nước. Theo nghĩa hẹp, khái niệm người có công để chỉ những cá nhân, gia đình không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ…có những đóng góp, cống hiến cho cách mạng trong các cuộc đấu tranh, chiến đấu để giải phóng và bảo vệ Tổ quốc được các cơ quan nhà nước, tổ chức có thẩm quyền công nhận. Trải qua các cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ để giành độc 7 n lập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế, số lượng người có công với cách mạng ở nước ta rất lớn. Nhân dân ta không bao giờ quên công lao to lớn ấy, đồng thời thấm nhuần tư tưởng của Bác Hồ về truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, Đảng và Nhà nước luôn đưa ra những chính sách để phần nào bù đắp về mặt vật chất và tinh thần cho họ, đó là một bộ phận của hệ thống chính sách xã hội.
Đó có thể là những quyết sách của Nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra trong đời sống xã hội trong đó chăm lo cho người có công là một trong những vấn đề mà chính sách điều chỉnh, phục vụ cho lợi ích của xã hội nói chung và người có công nói riêng. Như vậy, khái niệm người có công để chỉ những cá nhân, gia đình Việt Nam đã có những đóng góp, cống hiến cho cách mạng trong các cuộc đấu tranh, chiến đấu để giải phóng và bảo vệ Tổ quốc và xây dựng, phát triển đất nước.2 Khái niệm chính sách đối với người có công Chính sách đối với người có công là đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước căn cứ nhiệm vụ chính trị từng thời kỳ cách mạng, dựa trên sự phát triển kinh tế- xã hội nhằm ghi nhận công lao, sự đóng góp, hy sinh cao cả của người có công. Chính sách với người có công phản ánh sự quan tâm, trách nhiệm của Nhà nước, của cộng đồng, của thế hệ đi sau đối với thế hệ cha anh thông qua các văn bản pháp luật, các căn cứ pháp lý với người có công được thể chế hóa. Như vậy: “Chính sách đối với người có công là đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện chế độ đãi ngộ đối với những người có công với đất nước nhằm mục đích ghi nhận công lao, sự đóng góp, sự hy sinh cao cả của họ; đồng thời đền đáp, bù đắp phần nào về đời sống vật chất, tinh thần đối với người có công và gia đình của họ”.
Chính sách đối với người có công không chỉ đơn thuần ghi nhận sự biết 8 n ơn của Nhà nước, cộng đồng, xã hội đối với người có công và thân nhân trong gia đình họ mà còn thể hiện tinh thần nhân văn cao cả, góp phần ổn định chính trị- xã hội. Đặc điểm chính sách đối với người có công Người có công là toàn bộ những người trực tiếp hoặc gián tiếp cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của đất nước. NCC gồm những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ tuổi tác, miễn là họ có những hành động xuất sắc có lợi cho dân tộc, cho Tổ quốc được các cơ quan nhà nước, tổ chức có thẩm quyền ghi nhận. Người có công đa số đã chịu nhiều thiệt thòi trong đấu tranh giải phóng dân tộc, nên khi hòa bình đất nước thống nhất họ cũng mong muốn có một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được sống vui vẻ bên gia đình, con cháu, họ tìm những công việc phù hợp để lao động kiếm thêm thu nhập ổn định cuộc sống.
Bên cạnh đó người có công luôn chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước và những quy định tại địa phương, luôn trung thành và sẵn sàng bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN mà họ đã đem sức lực, máu xương để xây dựng và chiến đấu. Lịch sử dân tộc ta gắn liền với những cuộc chiến tranh trường kỳ, gian khổ. Để có được những chiến thắng và đất nước ta được như ngày hôm nay, chúng ta không thể không nói đến những người con ưu tú của dân tộc đã hy sinh cho sự nghiệp cách mạng giải phóng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Họ là những người có công lao to lớn mà Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân đời đời ghi nhớ, biết ơn và có nghĩa vụ bù đắp với những hy sinh mất mát, đó là trách nhiệm của toàn Đảng toàn dân.
Chính sách đối với NCC là việc Đảng, Nhà nước, cộng đồng giành sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ và tùy từng đối tượng được hưởng các chính sách ưu đãi như: 9 n 1. Trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần. Chính phủ quy định mức trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng đối với người có công với cách mạng và thân nhân của họ bảo đảm tương ứng với mức tiêu dùng bình quân của toàn xã hội. Khái niệm, đặc điểm chính sách đối với CCBVN và HCCBVN 1.
Khái niệm CCB Việt Nam và Hội CCB Việt Nam a. Khái niệm CCBVN Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, khái niệm “cựu chiến binh” được hiểu là: “Cựu chiến binh là người đã từng tham gia quân đội, lực lượng vũ trang trong một cuộc chiến tranh”. Theo Điều 2, Pháp lệnh cựu chiến binh quy định: Cựu chiến binh là công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã tham gia đơn vị vũ trang chiến đấu chống ngoại xâm giải phóng dân tộc, làm nhiệm vụ quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã nghĩ hưu, chuyển ngành, phục viên, xuất ngũ, bao gồm: - Cán bộ, chiến sĩ đã tham gia các đơn vị vũ trang do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức trước cách mạng tháng Tám năm 1945; - Cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam là bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng, biệt động đã tham gia kháng chiến chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế; - Cán bộ, chiến sĩ, dân quân, tự vệ, du kích, đội viên đội công tác vũ trang trong vùng địch tạm chiếm đã tham gia chiến đấu chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc; - Công nhân viên quốc phòng đã tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc; - Cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, dân quân, tự vệ đã 10 n tham gia chiến đấu, trực tiếp phục vụ chiến đấu, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đã hoàn thành nhiệm vụ trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ở đây có sự khác biệt khá lớn giữa cách hiểu trong từ điển và cách quy định của pháp luật về CCB ở Việt Nam.
Điều này được lý giải từ điều kiện lịch sử cũng như từ thực tiễn cách mạng Việt Nam. Khái niệm Hội CCBVN Từ khái niệm và quy định của pháp luật về CCBVN như trên, có thể hiểu HCCBVN là tập hợp tự nguyện của các CCBVN thành một tổ chức là HCCBVN. Tuy nhiên, ngoài những đặc điểm chung về một tổ chức hội tự nguyện, trong hệ thống chính trị Việt Nam có những đặc điểm riêng, do đó HCCBVN có những đặc điểm riêng như sau: HCCBVN là tổ chức do những CCBVN tự nguyện tập hợp lại. Tuy nhiên, khác với các quốc gia trên thế giới, do lịch sử cách mạng Việt Nam đã tạo nên HCCBVN có những điểm khác biệt so với HCCB của nhiều nước trên thế giới.
Hội được Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam có quyết định thành lập, được Nhân dân Việt Nam tôn trọng dành cho sự quan tâm đặc biệt, sự quan tâm thể hiện qua cách thức tổ chức, thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ của Hội, là tổ chức đại diện ý chí, nguyện vọng và quyền lợi chính đáng, hợp pháp của hội viên cựu chiến binh và CCB. Từ những phân tích nêu trên, khái niệm HCCBVN có thể được hiểu như sau: HCCBVN là tổ chức tự nguyện của những CCBVN đã tham gia các đơn vị vũ trang cách mạng, tham gia Quân đội nhân dân Việt Nam và các lực lượng khác thực hiện nhiệm vụ chiến đấu đánh đuổi quân thù giải phòng và bảo vệ Tổ quốc. Sau này do lực lượng Cựu chiến binh ngày càng giảm do tuổi cao sức yếu nên Hội cựu chiến binh mở rộng thêm đối tượng là cựu quân nhân xuất ngũ, ưu tú, có nguyện vọng tham gia vào hội Cựu chiến binh. Đặc điểm của Hội Cựu chiến binh Việt Nam Thứ nhất, HCCBVN là hội của những người xuất thân từ các tầng lớp nhân dân được Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đã trải qua các cuộc đấu tranh cách mạng giành chính quyền và các cuộc chiến tranh chính nghĩa để giải phóng và bảo vệ Tổ quốc; làm nhiệm vụ quốc tế giúp nhân dân các nước cùng chiến đấu giải phóng thoát khỏi ách thực dân nô lệ và thảm họa diệt chủng.
Thứ hai, HCCBVN là tập hợp của các CCBVN đang sống trên khắp các địa bàn của Tổ quốc và tham gia vào hoạt động trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Nhiều CCB được Đảng, chính quyền và nhân dân tín nhiệm bầu, cử vào giữ các cương vị lãnh đạo trong các cơ quan của Đảng, chính quyền và các đoàn thể. Uy tín, ảnh hưởng của họ có tác động mạnh đến quản lý nhà nước.