phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn đƣợc chia thành 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề chung về chính sách giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực hiện chính sách giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng Tây Bắc giai đoạn 2011 - 2016 Chƣơng 4: Định hƣớng và giải pháp tiếp tục thực hiện chính sách giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng Tây Bắc đến năm 2020, tầm nhìn 2025 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Những công trình đã công bố liên quan đến đề tài luận văn Giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số là chủ trƣơng lớn của Đảng. Đây là vấn đề thực tiễn đặt ra rất cấp bách đối với các ngành, các cấp cũng nhƣ mỗi ngƣời dân Việt Nam.
Vì vậy, xung quanh vấn đề này đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm tìm kiếm giải pháp tối ƣu cho sự nghiệp giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Liên quan trực tiếp đến đề tài luận văn, có thể kể đến các nhóm công trình chủ yếu sau: 1. Nhóm các công trình nghiên cứu những vấn đề chung về giảm nghèo Trần Tiến Khai & Nguyễn Ngọc Danh (2012), với “Quan hệ giữa sinh kế và tình trạng nghèo ở nông thôn Việt Nam“, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trƣờng Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, Mã số: CS-2012-02 đã khẳng định: Tình trạng nghèo không chỉ đƣợc đo lƣờng bằng chi tiêu hay thu nhập, mà còn bằng các chỉ báo về mức sống chỉ ra phúc lợi kinh tế - xã hội mà hộ gia đình có đƣợc.
Nghiên cứu đã nhằm đến việc khám phá các quan hệ qua lại giữa tình trạng nghèo về tiền và các đặc trƣng kinh tế - xã hội khác của hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam dựa trên cách tiếp cận sinh kế và tìm kiếm các chỉ báo kinh tế - xã hội phù hợp cho đo lƣờng nghèo đa chiều. Kết quả nghiên cứu xác nhận rằng có tối thiểu 10 chiều đo lƣờng cho tình trạng nghèo đa chiều và đại diện cho bốn nhóm tài sản sinh kế. Một số biến định lƣợng và phân loại đƣợc trích ra và sử dụng nhƣ là các chỉ báo phù hợp cho đo lƣờng 5 nghèo đa chiều. Phân loại hộ dựa trên tình trạng nghèo đa chiều tỏ ra có hiệu quả thống kê tốt hơn khi tính đồng nhất trong từng nhóm đƣợc cải thiện rõ ràng so với phân loại hộ dựa trên chi tiêu bình quân đầu ngƣời.
Nguyễn Đức Nhật và nhóm chuyên gia (2013) đã có công trình “Nghiên cứu mô hình giảm nghèo của các đối tác quốc tế ở Việt Nam“, Báo cáo trong khuôn khổ dự án “Hỗ trợ thực hiện Nghị quyết 80/NQ-CP về định hƣớng giảm nghèo bền vững (2011-2020) và Chƣơng trình mục tiêu quốc gia về Giảm nghèo bền vững (2012-2015)”, do Bộ Lao Động Thƣơng Binh và Xã hội, Tổ chức UNDP, Tổ chức Iris Aid đã tài trợ. Kết quả nghiên cứu đã khẳng định: tình trạng đói nghèo ở mỗi vùng miền có đặc tính khác nhau và cần các phƣơng pháp tiếp cận khác nhau; trong thực thi cần chú trọng tính tự chủ của địa phƣơng, sự tham gia của ngƣời dân và lựa chọn đối tác triển khai phù hợp. Quá trình phân tích chỉ ra rằng, mô hình của các tổ chức quốc tế thành công hơn bởi họ tuân thủ các nguyên tắc của lý thuyết kinh tế, xây dựng động lực tham gia của các bên và trao quyền tự quyết cho ngƣời dân. Các mô hình quốc tế cũng triển khai theo hƣớng nhỏ, chậm chắc và chú trọng về nâng cao năng lực so với các chƣơng trình đại trà nhanh và thiếu kiểm tra đánh giá của nhà nƣớc.
Nhóm các công trình nghiên cứu về giảm nghèo ở vùng Dân tộc và miền núi Lê Viết Long và nhóm nghiên cứu trƣờng đại học Thái Nguyên (2014), với “Những vẫn đề quan trọng trong phát triển bền vững của dân tộc thiểu số ở Việt Nam”. Bài tham luận đã đƣa ra đƣợc những vẫn đề quan trọng cho sự phát triển bền vững của DTTS ở Việt Nam bao gồm: Thiếu tính đại diện và sự tham gia của ngƣời DTTS trong việc xây dựng chính sách; Chính sách thiếu đồng bộ và sự điều phối; Phân biệt đối xử và kỳ thị; Giáo dục; Sinh kế; Quyền sử dụng 6 đất. Cùng viết về chủ đề phát triển kinh tế miền núi, các tác giả Phạm Thái Hƣng và cộng sự (2010) có bài “Nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam Thực trạng và thách thức tại các xã đặc biệt khó khăn thuộc Chương trình 135-II“, Hà Nội. Nghiên cứu này đã khai thác các khía cạnh quan trọng về mức sống của đồng bào các dân tộc thiểu số; mô tả một cách toàn diện về tình trạng nghèo và vấn đề mức sống của nhóm DTTS ở các xã đặc biệt khó khăn.
Mô tả này tập trung ở khía cạnh nghèo về thu nhập và các khía cạnh phi tiền tệ của vấn đề mức sống kinh tế (nhƣ: tiếp cận giáo dục, dịch vụ y tế và phát huy tính chủ động,. Đồng thời nghiên cứu về các yếu tố quyết định chênh lệch thu nhập giữa nhóm đa số và nhóm DTTS khác bằng cách phân tích chênh lệch thu nhập: một là khác biệt về các đặc điểm và nguồn lực giữa các nhóm dân tộc, hai là sự khác biệt về thu nhập từ các đặc điểm và nguồn lực, ba là đã tìm hiểu đồng bào các DTTS nghèo đƣợc hỗ trợ từ những chính sách và chƣơng trình hiện tại nhƣ thế nào. Sau những phân tích đó tác giả đã có những kiến nghị cho các chính sách và chƣơng trình trong tƣơng lai nhằm đƣa ra những hỗ trợ hiệu quả hơn cho việc nâng cao mức sống đối với nhóm DTTS. Những vấn đề đặt ra luận văn cần nghiên cứu giải quyết Các công trình nghiên cứu nêu trên cho thấy: hầu hết các nghiên cứu đều tập trung phân tích các đặc điểm nghèo đói, xác định các nguyên nhân của sự nghèo đói, các chính sách giảm nghèo cũng nhƣ các yếu tố cần thiết trong chính sách giảm nghèo.
Nhiều nghiên cứu cũng đã đánh giá các tác động của các chính sách giảm nghèo chủ yếu qua các tiêu chí tính hiệu quả, tính hiệu lực, phù hợp và bền vững của chính sách. Gần đây, đã có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa sinh kế và vấn đề giảm nghèo. Các công trình nghiên cứu trên đã cung cấp cho tác giả những gợi ý và về lý luận và thực tiễn để kế thừa trong luận văn của mình nhằm góp phần 7 thực hiện thành công mục tiêu của chính sách giảm nghèo cho đồng bào DTTS ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam trong thời gian tới. Tuy nhiên, việc nghiên cứu cơ chế, cách thức để thực hiện chính sách giảm nghèo cho đồng bào DTTS ở các tỉnh vùng Tây Bắc rất thiếu vắng.
Một số nghiên cứu tuy có đề cập vấn đề này nhƣng chƣa tập trung phân tích, đánh giá chính sách giảm nghèo để từ đó chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách. Chƣa có những nghiên cứu hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo một cách hệ thống và hoàn chỉnh của cả nƣớc nói chung và khu vực Tây Bắc nói riêng. Cơ sở lý luận về chính sách giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số 1. Khái quát về giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số 1.
Một số khái niệm cơ bản a. Nghèo Tại hội nghị bàn về xoá đói giảm nghèo do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc Thái Lan tháng 9/1993 đã đƣa ra khái niệm về nghèo đói nhƣ sau: “Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của các địa phương”. Ở Việt Nam quan niệm: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện thoả mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện. Một cách hiểu khác: Nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo.
Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia. Tại Việt Nam, nghèo đƣợc chia thành các cấp độ khác nhau: nghèo tuyệt đối, nghèo tƣơng đối, nghèo có nhu cầu tối thiểu. 8 Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cƣ thuộc diện nghèo không có khả năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống: ăn, mặc, ở, đi lại. Nghèo tƣơng đối: là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo có mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng và địa phương đang xét.
Nghèo có nhu cầu tối thiểu: Đây là tình trạng một bộ phận dân cư có những đảm bảo tối thiểu để duy trì cuộc sống như đủ ăn, đủ mặc, đủ ở và một số sinh hoạt hàng ngày nhưng ở mức tối thiểu. Giảm nghèo Thực tế không có nhiều tài liệu thảo luận về khái niệm “giảm nghèo” - có thể là do mục đích của “giảm nghèo” đã rất rõ ràng là giảm tình trạng nghèo trên cơ sở khái niệm và các tiêu chuẩn về nghèo đói. Theo Bộ Lao động – Thƣơng binh và Xã hội, các chƣơng trình giảm nghèo đƣợc hiểu là tập hợp các chính sách, biện pháp và dự án nhằm thúc đẩy khả năng tiếp cận của ngƣời nghèo đến dịch vụ xã hội, nhƣ vậy giảm nghèo lại có nghĩa là tăng khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội; hay giảm nghèo đƣợc hiểu là kết quả từ những nỗ lực của nhà nƣớc, cộng đồng và ngƣời dân làm cho ngƣời dân đạt đƣợc mức sống (mức thu nhập) vƣợt trên mức sống tối thiểu. Trên cơ sở khái niệm nghèo, khái niệm giảm nghèo đươc̣ xác đinḥ trong luâṇ văn này là giảm tình trạng dân cư chỉ có thể thoả mãn một phần nhu cầu cơ bản của cuộc sống.
Ở cấp độ cộng đồng, giảm nghèo đƣợc hiểu là giảm số lƣợng hay tỷ lệ ngƣời hay hộ không thỏa mãn những nhu cầu cơ bản.