Luận văn: Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện Châu Phú, An Giang

Luận văn phân tích thực trạng và kết quả thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện Châu Phú, An Giang, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả.

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Chính sách công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

73
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh chính sách giảm nghèo bền vững tại Châu Phú

Giảm nghèo bền vững là chủ trương xuyên suốt, nền tảng trong hệ thống chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Tại huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, một địa phương có đặc trưng sản xuất nông nghiệp, công tác này càng có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển toàn diện. Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, huyện đã và đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm cải thiện đời sống người dân, đặc biệt là các hộ nghèo, hộ cận nghèo. Giai đoạn 2016-2020 đánh dấu bước chuyển mình quan trọng khi Việt Nam chính thức áp dụng chuẩn nghèo đa chiều, không chỉ dựa vào thu nhập mà còn xem xét mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản. Cách tiếp cận này giúp nhận diện chính xác hơn các đối tượng cần hỗ trợ, từ đó xây dựng chính sách can thiệp phù hợp và hiệu quả. Chính sách giảm nghèo tại Châu Phú không chỉ là sự hỗ trợ tài chính trực tiếp mà còn là một quá trình tác động tổng thể, từ nâng cao năng lực sản xuất, tạo việc làm, đến cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở. Vai trò của chính quyền địa phương được thể hiện rõ nét qua công tác chỉ đạo, điều hành và huy động nguồn lực, tạo nền tảng vững chắc cho người dân vươn lên thoát nghèo, góp phần xây dựng nông thôn mới An Giang.

1.1. Mục tiêu chương trình quốc gia giảm nghèo bền vững

Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020, được phê duyệt theo Quyết định số 1722/QĐ-TTg, đặt ra mục tiêu tổng quát là thực hiện giảm nghèo một cách bền vững, hạn chế tái nghèo. Chương trình không chỉ hướng đến cải thiện thu nhập mà còn tập trung nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo người dân có thể tiếp cận các dịch vụ thiết yếu. Cụ thể hóa mục tiêu này, huyện Châu Phú đã xây dựng các kế hoạch hành động chi tiết, lồng ghép hiệu quả các nguồn lực từ trung ương, địa phương và xã hội hóa để đầu tư vào cơ sở hạ tầng, hỗ trợ sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nâng cao năng lực cho cộng đồng.

1.2. Áp dụng chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn mới tại Châu Phú

Việc chuyển đổi từ chuẩn nghèo đơn chiều sang chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn mới theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg là một bước tiến quan trọng. Theo đó, một hộ gia đình được xác định là nghèo không chỉ khi có thu nhập dưới ngưỡng quy định mà còn khi thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Các dịch vụ này bao gồm y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, và tiếp cận thông tin. Cách tiếp cận này giúp chính quyền huyện Châu Phú xác định đúng và trúng đối tượng, từ đó triển khai các chính sách hỗ trợ phù hợp, giải quyết tận gốc các nguyên nhân gây ra đói nghèo, hướng tới mục tiêu thoát nghèo bền vững An Giang.

1.3. Vai trò của chính quyền và cộng đồng trong giảm nghèo

Thành công của chính sách giảm nghèo không thể thiếu sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và cộng đồng. Tại Châu Phú, Huyện ủy, UBND huyện đã chỉ đạo quyết liệt, thành lập Ban chỉ đạo giảm nghèo và phân công nhiệm vụ rõ ràng. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ đóng vai trò nòng cốt trong việc tuyên truyền, vận động và giám sát thực thi chính sách. Đặc biệt, việc tổ chức đối thoại trực tiếp với người nghèo đã giúp nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, từ đó điều chỉnh chính sách cho phù hợp, phát huy tinh thần tự lực vươn lên của người dân.

II. Thách thức lớn trong công tác thoát nghèo tại huyện Châu Phú

Mặc dù đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, công tác giảm nghèo tại huyện Châu Phú vẫn đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là tính bền vững của kết quả. Thực trạng đói nghèo tại Châu Phú cho thấy, dù tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh qua các năm, số hộ cận nghèo lại có xu hướng ổn định ở mức cao, thậm chí tăng nhẹ. Điều này cho thấy ranh giới giữa thoát nghèo và cận nghèo còn rất mong manh. Nguy cơ tái nghèo luôn hiện hữu do nhiều nguyên nhân như thiên tai, dịch bệnh, biến động thị trường nông sản, hoặc khi thành viên trong gia đình ốm đau, mất sức lao động. Một bộ phận người dân vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước, chưa chủ động tìm kiếm sinh kế ổn định. Bên cạnh đó, chênh lệch về điều kiện sống và khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản giữa các khu vực trong huyện vẫn còn tồn tại. Việc giải quyết những thách thức này đòi hỏi các giải pháp phải mang tính chiều sâu, tập trung vào việc nâng cao năng lực nội tại và tạo ra những sinh kế bền vững, thay vì chỉ dừng lại ở các biện pháp hỗ trợ tạm thời.

2.1. Phân tích thực trạng hộ nghèo và hộ cận nghèo tại địa bàn

Số liệu giai đoạn 2016-2020 cho thấy một bức tranh phức tạp. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 8,0% (4.747 hộ) đầu năm 2016 xuống còn 1,5% (916 hộ) cuối năm 2020. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ cận nghèo lại tăng từ 5,9% lên 6,47%. Theo báo cáo của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện, năm 2020 có 396 hộ thoát nghèo nhưng lại có tới 479 hộ cận nghèo mới phát sinh. Thực tế này cho thấy nhiều hộ sau khi thoát nghèo đã rơi vào nhóm cận nghèo, đời sống vẫn còn rất bấp bênh và dễ bị tổn thương trước các cú sốc kinh tế - xã hội.

2.2. Nguy cơ tái nghèo và tư tưởng ỷ lại vào chính sách

Một trong những rào cản lớn nhất đối với thoát nghèo bền vững An Giang là nguy cơ tái nghèo cao. Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc thiếu sinh kế ổn định, phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp vốn bấp bênh. Luận văn của tác giả Võ Hiếu Hậu chỉ ra, một bộ phận người dân chưa thực sự nỗ lực, còn tâm lý trông chờ, ỷ lại vào các chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Điều này không chỉ làm giảm hiệu quả của các chương trình mà còn tạo ra gánh nặng cho ngân sách và làm suy yếu động lực vươn lên của chính người nghèo.

III. Giải pháp hỗ trợ vốn và sinh kế cho hộ nghèo Châu Phú

Để giải quyết bài toán giảm nghèo tận gốc, huyện Châu Phú đã tập trung vào các giải pháp tạo “cần câu” thay vì cho “con cá”. Trọng tâm là các chính sách hỗ trợ vốn sản xuất kinh doanh và xây dựng các mô hình sinh kế hiệu quả, phù hợp với điều kiện địa phương. Nguồn tín dụng chính sách xã hội từ Ngân hàng chính sách xã hội Châu Phú đã trở thành đòn bẩy tài chính quan trọng, giúp hàng ngàn hộ dân có vốn để đầu tư vào trồng trọt, chăn nuôi, và phát triển kinh doanh nhỏ. Từ năm 2011 đến 2020, tổng doanh số cho vay đạt 169,190 tỷ đồng cho 8.696 lượt hộ. Song song với việc cung cấp vốn, huyện chú trọng triển khai các mô hình giảm nghèo hiệu quả, kết hợp với chuyển giao khoa học kỹ thuật. Các mô hình như chăn nuôi dê, nuôi lươn, may công nghiệp không chỉ tạo ra thu nhập trực tiếp mà còn mở ra hướng đi mới trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôngiải quyết việc làm tại Châu Phú cũng được đẩy mạnh, giúp người lao động nâng cao tay nghề, có cơ hội tìm kiếm việc làm ổn định tại các doanh nghiệp hoặc tự tạo việc làm.

3.1. Tín dụng chính sách xã hội Đòn bẩy tài chính then chốt

Hoạt động tín dụng chính sách được xem là một trong những trụ cột của công tác giảm nghèo. Ngân hàng chính sách xã hội Châu Phú đã triển khai hiệu quả các chương trình cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo. Nguồn vốn này được sử dụng đúng mục đích, giúp các hộ gia đình mua sắm công cụ sản xuất, con giống, vật tư nông nghiệp. Việc quản lý và thu hồi vốn được thực hiện chặt chẽ thông qua các tổ tiết kiệm và vay vốn tại cơ sở, đảm bảo nguồn vốn quay vòng và đến được với đúng đối tượng, góp phần quan trọng vào việc nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống người dân.

3.2. Phát triển các mô hình giảm nghèo hiệu quả tại địa phương

Huyện đã thành công trong việc xây dựng và nhân rộng nhiều mô hình giảm nghèo hiệu quả. Điển hình như mô hình may công nghiệp tại xã Khánh Hòa, Bình Chánh; mô hình chăn nuôi dê tại xã Bình Mỹ; mô hình chăn nuôi lươn và gà tại xã Thạnh Mỹ Tây. Mỗi mô hình không chỉ cung cấp kiến thức, kỹ thuật mà còn hỗ trợ vốn ban đầu (5 triệu đồng/hộ) để mua con giống hoặc công cụ. Các mô hình này đã giúp trên 80% hộ tham gia thoát nghèo và cho thấy khả năng nhân rộng cao, tạo ra sự lan tỏa tích cực trong cộng đồng.

3.3. Đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho lao động

Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, huyện Châu Phú đã đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Giai đoạn 2016-2020, toàn huyện đã mở 448 lớp dạy nghề cho hơn 12.000 học viên. Các chương trình đào tạo được thiết kế gắn liền với nhu cầu thực tế của thị trường lao động và tiềm năng của địa phương. Sau đào tạo, chính quyền tích cực giới thiệu việc làm, kết nối người lao động với các doanh nghiệp, góp phần tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo và tạo ra nguồn thu nhập ổn định, bền vững cho người dân.

IV. Phương pháp đảm bảo an sinh xã hội toàn diện tại Châu Phú

Bên cạnh các giải pháp về kinh tế, chính sách an sinh xã hội huyện Châu Phú được triển khai một cách toàn diện, đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau. Mục tiêu là giúp người nghèo và cận nghèo có thể tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản một cách đầy đủ, từ đó cải thiện chất lượng sống và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững. Chính sách hỗ trợ y tế được ưu tiên hàng đầu, 100% người thuộc hộ nghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí, và hộ cận nghèo được hỗ trợ phần lớn chi phí. Trong lĩnh vực giáo dục, các chính sách miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập đã tạo điều kiện cho con em hộ nghèo được đến trường. Về nhà ở, chương trình hỗ trợ theo Quyết định 33/2015/QĐ-TTg cùng với quỹ “Vì người nghèo” của Mặt trận Tổ quốc đã giúp hàng ngàn gia đình xây mới và sửa chữa nhà ở, ổn định cuộc sống. Các chính sách này không chỉ mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc mà còn là sự đầu tư cho tương lai, góp phần nâng cao dân trí, cải thiện sức khỏe cộng đồng và thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội huyện Châu Phú.

4.1. Nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và giáo dục

Chính quyền huyện Châu Phú đã thực hiện nghiêm túc các chính sách ưu đãi của nhà nước về y tế và giáo dục. Hộ nghèo được cấp thẻ BHYT miễn phí, hộ cận nghèo được hỗ trợ 100% chi phí (70% từ ngân sách Trung ương, 30% từ ngân sách tỉnh). Về giáo dục, học sinh thuộc hộ nghèo được miễn học phí và các chi phí liên quan từ mầm non đến THPT, học sinh hộ cận nghèo được giảm 50% học phí. Những hỗ trợ thiết thực này đã giảm bớt gánh nặng tài chính cho các gia đình khó khăn, đảm bảo quyền được chăm sóc sức khỏe và học tập của mọi người dân.

4.2. Chính sách hỗ trợ nhà ở và xây dựng nông thôn mới

An cư mới lạc nghiệp. Huyện Châu Phú đã lồng ghép hiệu quả chính sách hỗ trợ nhà ở với chương trình xây dựng nông thôn mới An Giang. Từ năm 2016-2018, 78 căn nhà đã được cất mới và 4 căn được sửa chữa theo Quyết định 33/2015/QĐ-TTg. Đặc biệt, thông qua vận động Quỹ “Vì Người nghèo”, Mặt trận Tổ quốc huyện đã hỗ trợ xây mới 2.010 căn nhà đại đoàn kết. Việc cải thiện điều kiện nhà ở không chỉ giúp người dân ổn định cuộc sống mà còn góp phần thay đổi diện mạo nông thôn, hoàn thiện các tiêu chí nông thôn mới.

V. Kết quả chính sách giảm nghèo và bài học tại Châu Phú

Giai đoạn 2016-2020, việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện Châu Phú đã đạt được những kết quả công tác giảm nghèo rất tích cực, góp phần quan trọng vào sự phát triển chung của địa phương. Tỷ lệ hộ nghèo giảm sâu, vượt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra, cho thấy sự quyết tâm và hiệu quả trong công tác chỉ đạo, điều hành của các cấp chính quyền. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân, đặc biệt là các hộ nghèo, đã được cải thiện rõ rệt. Nhận thức của người dân đã có sự chuyển biến mạnh mẽ, từ tâm lý thụ động, trông chờ sang chủ động, tự lực vươn lên. Nhiều mô hình giảm nghèo hiệu quả đã được hình thành và nhân rộng, tạo ra sinh kế bền vững và lan tỏa kinh nghiệm sản xuất kinh doanh trong cộng đồng. Tuy nhiên, bài học lớn nhất rút ra là cần phải chú trọng hơn đến chất lượng và tính bền vững của công tác giảm nghèo. Việc tỷ lệ hộ cận nghèo còn cao là một minh chứng cho thấy cần có những chính sách hỗ trợ sâu hơn, dài hạn hơn để các hộ mới thoát nghèo có thể đứng vững và tiếp tục phát triển.

5.1. Phân tích số liệu hộ nghèo và cận nghèo giai đoạn 2016 2020

Kết quả công tác giảm nghèo được thể hiện rõ qua các con số. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 8,0% đầu năm 2016 xuống còn 1,5% cuối năm 2020, bình quân mỗi năm giảm 1,3%. Đây là một thành tựu ấn tượng. Tuy vậy, số lượng hộ cận nghèo lại có sự biến động không đáng kể và tỷ lệ thậm chí còn tăng nhẹ, từ 5,9% (3.479 hộ) năm 2016 lên 6,47% (3.659 hộ) năm 2020. Điều này đặt ra yêu cầu phải có chính sách đặc thù cho nhóm đối tượng này để ngăn ngừa nguy cơ tái nghèo và giúp họ vươn lên mức sống trung bình.

5.2. Đánh giá tác động chính sách lên đời sống và nhận thức người dân

Các chính sách hỗ trợ đã tác động tích cực đến mọi mặt đời sống của người dân. Người nghèo được tiếp cận tốt hơn với các dịch vụ y tế, giáo dục, có vốn để sản xuất, có nhà ở kiên cố. Quan trọng hơn, công tác tuyên truyền, vận động đã làm thay đổi nhận thức, khơi dậy ý chí tự lực, tự cường. Người dân hiểu rõ hơn về chính sách của Đảng, Nhà nước và chủ động hơn trong việc tìm kiếm cơ hội thoát nghèo, góp phần vào sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội huyện Châu Phú.

VI. Định hướng tương lai giảm nghèo bền vững tại Châu Phú

Để tiếp nối những thành quả đã đạt được và khắc phục các hạn chế, huyện Châu Phú xác định phương hướng cho giai đoạn tới là tập trung vào chiều sâu và tính bền vững. Mục tiêu không chỉ là giảm tỷ lệ hộ nghèo mà còn là nâng cao mức sống, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo và đảm bảo an sinh xã hội một cách vững chắc. Vai trò của chính quyền địa phương sẽ tiếp tục được phát huy trong việc lồng ghép hiệu quả các chương trình, dự án, đặc biệt là giữa chương trình giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới. Huyện sẽ ưu tiên các giải pháp tạo sinh kế đa dạng, bền vững, khuyến khích ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp. Đồng thời, công tác truyền thông sẽ được đẩy mạnh hơn nữa nhằm nâng cao nhận thức, thay đổi tư duy, khơi dậy khát vọng vươn lên của người dân. Việc huy động các nguồn lực xã hội, sự chung tay của doanh nghiệp và cộng đồng sẽ là yếu tố then chốt để thực hiện thành công mục tiêu thoát nghèo bền vững An Giang trong giai đoạn mới, hướng tới một Châu Phú phát triển toàn diện và không còn người nghèo.

6.1. Tích hợp chính sách và huy động nguồn lực xã hội hóa

Trong tương lai, huyện cần tăng cường tích hợp, lồng ghép các chính sách và nguồn lực. Thay vì triển khai riêng lẻ, các chương trình hỗ trợ sản xuất, đào tạo nghề, tín dụng ưu đãi, và xây dựng cơ sở hạ tầng cần được phối hợp chặt chẽ để tạo ra tác động cộng hưởng. Bên cạnh nguồn lực nhà nước, việc đẩy mạnh xã hội hóa, kêu gọi sự tham gia của doanh nghiệp, các nhà hảo tâm và cộng đồng sẽ giúp tăng cường nguồn lực cho công tác giảm nghèo, đảm bảo tính bền vững và lan tỏa của chương trình.

6.2. Nâng cao năng lực và ý thức tự vươn lên của người dân

Giải pháp căn cơ nhất cho giảm nghèo bền vững là nâng cao năng lực cho chính người dân. Các chương trình cần tập trung hơn vào việc trang bị kiến thức, kỹ năng sản xuất, quản lý tài chính và khả năng thích ứng với thị trường. Công tác tuyên truyền phải được thực hiện thường xuyên để xóa bỏ tư tưởng ỷ lại, xây dựng ý chí tự lực, tự cường, khuyến khích các hộ nghèo, cận nghèo chủ động phấn đấu vươn lên bằng chính sức lao động của mình, trở thành chủ thể của quá trình giảm nghèo.

6.3. Gắn giảm nghèo với phát triển kinh tế xã hội đến 2025

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Châu Phú nhiệm kỳ 2020-2025 đã xác định rõ mục tiêu tiếp tục thực hiện tốt các chính sách giảm nghèo đa chiều gắn với giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động. Công tác giảm nghèo phải được xem là một nhiệm vụ trọng tâm, không thể tách rời trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội huyện Châu Phú. Việc phát triển các ngành kinh tế có lợi thế, thu hút đầu tư, xây dựng hạ tầng đồng bộ sẽ tạo ra nhiều việc làm và cơ hội nâng cao thu nhập cho người dân, đây chính là con đường giảm nghèo bền vững nhất.

04/10/2025
Luận văn thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện châu phú tỉnh an giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG 1. Giảm nghèo và giảm nghèo bền vững 1. Quan niệm về nghèo Xã hội loài người đã phát triển trải qua nhiều nấc thang của lịch sử, tương ứng với mỗi nấc thang đó là một trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Bằng hoạt động lao động sáng tạo, con người - chủ thể của lịch sử xã hội - đã sử dụng lực lượng sản xuất hiện có để tác động vào giới tự nhiên nhằm thỏa mãn các nhu cầu của mình.

Trình độ lực lượng sản xuất càng phát triển, năng suất lao động xã hội càng cao thì nhu cầu đáp ứng ngày càng nhiều, càng phong phú. Ngược lại, năng suất lao động xã hội thấp kém, trình độ lực lượng sản xuất lạc hậu, thì con người không thể đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu của mình như: ăn, mặc, ở, đi lại. và bị rơi vào tình trạng đói nghèo. Đến nay đã có nhiều nhà nghiên cứu và tổ chức quốc tế đưa ra khái niệm khác nhau về đói nghèo, nhưng nhìn chung, chúng không có sự khác biệt đáng kể.

Tiêu chí chung nhất để xác định đói nghèo trong các khái niệm này là mức thu nhập hay chi tiêu để thoả mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu của con người về: ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hoá, đi lại và giao tiếp xã hội. Sự khác nhau giữa các khái niệm là mức đo lường độ thoả mãn cao hay thấp, mà mức đó lại phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế- xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia. Đáng chú ý là nhiều công trình nghiên cứu và nhiều quốc gia đã sử dụng khái niệm người nghèo của Tổ chức Liên Hợp quốc. 8 Theo quan điểm của Tổ chức Liên Hợp quốc (UN): Người nghèo là những người có thu nhập dưới đường ranh giới nghèo, được xác định bằng số tiền cho nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở,…mà trước mắt là lương thực, thực phẩm để duy trì sự sống với mức tiêu dùng nhiệt lượng 2.300 Calo/người/ngày.

Theo Ngân hàng Thế giới (2009), nghèo là tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu như giáo dục, y tế, dinh dưỡng …Xét về mặt phúc lợi, nghèo có nghĩa là khốn cùng, nghèo có nghĩa là đói, không có nhà cửa, quần áo, ốm đau và không có ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường và đối với người nghèo sống trong cảnh bần hàn còn mang nhiều ý nghĩa hơn thế như người nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương trước những sự kiện bất thường nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ. Theo Waltts (1968) có nhiều quan niệm, khái niệm về nghèo được hiểu là thiếu khả năng thỏa mãn đối với các loại hàng hóa thông thường; theo Sen (1987), nghèo là thiếu khả năng hoạt động và kém phát triển, nghèo đói là vấn đề đa chiều; theo Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB, 1999), nghèo là tình trạng thiếu những tài sản cơ bản và cơ hội mà mỗi người có quyền được hưởng. Tại cuộc họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên hợp quốc về phát triển xã hội, tháng 6-2000 ở Giơnevơ (Thuỵ Sĩ), cộng đồng quốc tế tiếp tục cam kết giảm người nghèo trên thế giới. Hội nghị đã kêu gọi cộng đồng quốc tế đẩy mạnh chiến dịch tấn công vào đói nghèo và khuyến nghị các quốc gia cần có những chiến lược toàn diện về xoá đói, giảm nghèo.

Tháng 9- 2000, Hội nghị thiên niên kỷ của Liên hợp Quốc tại New York (Mỹ) một lần nữa khẳng định chống đói nghèo được coi là một trong những nội dung quan trọng, ưu tiên hàng đầu trong các mục tiêu phát triển của thế giới hiện nay. Ở nước ta, nghèo được chia thành các mức khác nhau: Nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo đa chiều. Do đó, để xác định nghèo, ở nước ta được căn cứ vào: chuẩn nghèo của Chính phủ do Bộ LĐ-TB&XH công bố; chuẩn nghèo của Tổng cục Thống kê và Ngân hàng thế giới. Quan niệm về giảm nghèo Hiểu một cách giản đơn, “giảm nghèo” hay “xóa đói giảm nghèo” là các biện pháp giảm bớt tình trạng nghèo khổ.

Ở góc độ quản lý nhà nước, “giảm nghèo” là chủ trương, chương trình mà ở đó, các cấp chính quyền đề ra những mục tiêu, giải pháp để giảm tỷ lệ người nghèo, hộ nghèo trong xã hội. Bản chất của giảm nghèo là cải thiện hay nâng cao mức độ thỏa mãn nhu cầu cơ bản. Mục tiêu của giảm nghèo là thoát nghèo (vượt qua chuẩn nghèo), làm cho đối tượng người nghèo nâng cao mức sống cả vật chất và tinh thần. Kết quả giảm nghèo được thể hiện chủ yếu ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo, hộ nghèo giảm xuống theo định kỳ.

Xét ở phương diện cộng đồng dân cư, giảm nghèo được hiểu là giảm số lượng, tỷ lệ người hay hộ không được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản. Ở phương diện gia đình, giảm nghèo là quá trình nâng cao mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của hộ gia đình. Bản chất của giảm nghèo là cải thiện hay nâng cao mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản. Nhưng mục tiêu của giảm nghèo là phải thoát nghèo (vượt chuẩn nghèo).

Do vậy, các hoạt động hỗ trợ giảm nghèo nếu chỉ đặt mục tiêu là cải thiện mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản là chưa đủ, mà cần phải xác định mục tiêu là thoát nghèo, có nghĩa là thỏa mãn các nhu cầu cơ bản ở mức độ cao (so với chuẩn). Tiêu chí xác định chuẩn nghèo Với cách hiểu đói nghèo nêu trên cho thấy chuẩn nghèo có sự biến động theo thời gian và không gian. Chuẩn nghèo là tiêu chí quan trọng để đánh giá tình trạng đói nghèo, là cơ sở để phân biệt giữa người nghèo và người không nghèo, đồng thời là công cụ để đo lường và giám sát tình trạng đói nghèo. * Ngân hàng thế giới đưa ra thước đo nghèo đói như sau: - Các nước công nghiệp phát triển: 14 USD/ngày/người.

- Các nước Đông Nam Á: 4 USD/ngày/người. 10 - Các nước thuộc Mỹ Latinh và vùng Caribê: 2 USD/ngày/người. - Các nước đang phát triển: l USD/ngày/người. - Các nước nghèo: 0,5 USD/ngày/người.

Căn cứ vào tình hình phát triển đất nước và mức sống thực tế của dân cư, từ năm 1993 đến nay, Việt Nam đã 8 lần tiến hành công bố tiêu chí cụ thể để xác định chuẩn nghèo. Theo đó, chuẩn nghèo trong giai đoạn 2016-2020 áp dụng theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. - Theo Nghị định số 07/2021/NĐ-CP, ngày 27/01/2021 của Chính phủ quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025 như sau: + Từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 tiếp tục thực hiện chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ. + Các tiêu chí đo lường nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025 bao gồm: Tiêu chí thu nhập: Khu vực nông thôn 1.000 đồng/người/tháng; khu vực thành thị 2.000 đồng/người/tháng.

Tiêu chí mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản: các dịch vụ xã hội cơ bản (06 dịch vụ), gồm: việc làm; y tế; giáo dục; nhà ở; nước sinh hoạt và vệ sinh; thông tin. Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản (12 chỉ số), gồm: việc làm; người phụ thuộc trong hộ gia đình; dinh dưỡng; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; phương tiện phục vụ tiếp cận thông tin (Bảng 1.1: Dịch vụ xã hội cơ bản, chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản và ngưỡng thiếu hụt trong chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025 Dịch vụ Chỉ số đo xã hội cơ lường mức độ bản thiếu hụt dịch Ngưỡng thiếu hụt (Chiều vụ xã hội cơ thiếu hụt) bản Hộ gia đình có ít nhất một người không có việc làm (người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, sẵn sàng/mong muốn làm việc nhưng không tìm được Việc làm việc làm); hoặc có việc làm công ăn lương nhưng không có hợp đồng lao động*. Việc (*) Xem xét cho việc làm thường xuyên, đều đặn, mang làm tính chất ổn định hoặc tương đối ổn định. Hộ gia đình có tỷ lệ người phụ thuộc trong tổng số nhân Người phụ khẩu lớn hơn 50%.

Người phụ thuộc bao gồm: trẻ em thuộc trong dưới 16 tuổi; người cao tuổi hoặc người khuyết tật đang hộ gia đình hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng. Hộ gia đình có ít nhất một trẻ em dưới 16 tuổi suy dinh Dinh dưỡng dưỡng chiều cao theo tuổi hoặc suy dinh dưỡng cân 2. Y tế nặng theo tuổi. Hộ gia đình có ít nhất một người từ đủ 6 tuổi trở lên Bảo hiểm y tế hiện không có bảo hiểm y tế.

Hộ gia đình có ít nhất một người trong độ tuổi từ 16 tuổi đến 30 tuổi không tham gia các khóa đào tạo hoặc không có bằng cấp, chứng chỉ giáo dục đào tạo so với Trình độ giáo 3. Giáo độ tuổi tương ứng [Người từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi dục của dục đang học hoặc đã tốt nghiệp trung học cơ sở; từ 18 tuổi người lớn đến 30 tuổi đang học hoặc đã tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc sơ cấp/trung cấp/cao đẳng nghề; hoặc người từ 16 tuổi đến 30 tuổi được doanh nghiệp tuyển 12 dụng và chứng nhận đào tạo nghề tại chỗ (hình thức vừa học vừa làm)]. Hộ gia đình có ít nhất 1 trẻ em từ 3 tuổi đến dưới 16 tuổi không được học đúng bậc, cấp học phù hợp với độ Tình trạng đi tuổi (trẻ từ 3 tuổi đến dưới 6 tuổi được tiếp cận giáo học của trẻ dục mầm non, trẻ từ 6 tuổi đến dưới 12 tuổi được tiếp em cận giáo dục tiểu học và trẻ từ 12 tuổi đến dưới 16 tuổi được tiếp cận giáo dục trung học cơ sở). Hộ gia đình đang sống trong ngôi nhà/căn hộ thuộc loại Chất lượng không bền chắc (trong ba kết cấu chính là tường, cột, nhà ở mái thì có ít nhất hai kết cấu được làm bằng vật liệu 4.

Nhà ở không bền chắc). Diện tích nhà Diện tích nhà ở bình quân đầu người của hộ gia đình ở bình quân nhỏ hơn 8m2. đầu người Hộ gia đình không tiếp cận được nguồn nước sạch Nguồn nước trong sinh hoạt (gồm: nước máy, giếng khoan, giếng 5. Nước sinh hoạt đào được bảo vệ, nước khe/mỏ được bảo vệ và nước sinh hoạt mưa, nước đóng chai bình).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ