phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu làm hai chương: Chƣơng 1. Những vấn đề chung về chính sách đối ngoại. Chính sách đối ngoại của Việt Nam với nước lớn - Trung Quốc, Hoa Kỳ. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI 1.
Lý luận chung về chính sách đối ngoại 1.1 Nhận thức về chính sách đối ngoại Định nghĩa chính sách đối ngoại vừa dễ lại vừa khó. Dễ vì chính sách đối ngoại thường được nhìn nhận là lĩnh vực hoạt động của nhà nước, hướng ra bên ngoài. Nói cách khác, đó là những gì ít được quan tâm và có phần xa lạ đối với đại đa số, ngược lại với những vấn đề đối nội diễn ra hàng ngày và liên quan đến mọi người dân trong nước. Khó là nên hiểu thế nào là bên ngoài.
Bên ngoài ở đây vừa hiểu là môi trường quốc tế - một tiến trình rất khó nắm bắt với biết bao thông số - vừa là các quốc gia lớn nhỏ trên thế giới và các chủ thế khác tham gia vào quan hệ quốc tế và luôn luôn tác động qua lại với nhau. Theo từ điển thuật ngữ ngoại giao, chính sách đối ngoại là “chủ trương, chiến lược, kế hoạch và các biện pháp thực hiện cụ thể do một quốc gia đề ra liên quan đến các mối quan hệ quốc tế mà quốc gia đó thiết lập với các quốc gia và các chủ thể khác nhằm tăng cường và bảo vệ lợi ích quốc gia của mình”[36;tr. 37] Đối ngoại là một từ ghép Hán - Việt trong đó đối tức là đối phó, đối xử, đối sách, ứng đối, ứng xử… ngoại là bên ngoài nước ngoài. Hiện nay, thuật ngữ đối ngoại dùng để chỉ những cách thức được thể hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về quan hệ với các nước, các tổ chức quốc tế.
Ví dụ: Đường lối đối ngoại của Đảng, Chính sách đối ngoại của Nhà nước… Như vậy, chúng ta thấy chính sách đối ngoại được nhìn nhận dưới các góc độ: lĩnh vực đối ngoại (đối ngoại Đảng, Nhà nước, ngoại giao nhân dân), nội dung đối ngoại (chủ trương, quan điểm), môi trường bên ngoài, phương thức và nghệ thuật triển khai chính sách đối ngoại (ứng phó, đối sách)….Vì thế khi xem xét, nghiên cứu nó cần được triển khai theo các chiều cạnh như vậy.2 Mối quan hệ giữa chính sách đối ngoại và chính sách đối nội Xét cho cùng, chính sách của mỗi quốc gia chỉ có một, không thể có một bên là chính sách đối nội và một bên là chính sách đối ngoại. Tuy nhiên, chúng ta thường chia làm hai thành tố trong một bộ phận. Và chúng luôn tác động qua lại với nhau và nhằm một mục đích duy nhất là duy trì, đảm bảo và mở rộng lợi ích dân tộc khi có thể. Trên thực tế các nhân tố bên trong quyết định khả năng hành động ở bên 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngoài đối với mỗi quốc gia đều phải đưa ra những biện pháp nhằm hạn chế những tác động tiêu cực và tận dụng mọi thời cơ.
Nhưng các quốc gia tồn tại được là do nằm trong một mối tổng hòa so với các quốc gia khác; các quốc gia cần nhau, đồng thời lại đấu tranh với nhau nhằm mở rộng lợi ích quốc gia của mình. Sự cạnh tranh này buộc mỗi quốc gia phải tách biệt ở một chừng mực nào đó chính sách đối nội và chính sách đối ngoại. Sự tách biệt này vừa do nhu cầu quản lý và vừa do lý do chính trị. Ở nước nào cũng vậy, quản lý đối nội gồm nhiều bộ, ngành khác nhau.
Điều này xuất phát từ thực trạng là công việc đối nội liên quan đến nhiều lĩnh vực và tác động trực tiếp đến lợi ích của từng người dân. Ngược lại, công tác đối ngoại chỉ giao cho một bộ. Trong thời kỳ hội nhập hiện nay, mặc dù hợp tác quốc tế liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội quốc gia và hoạt động đối ngoại được tiến hành ở mọi cấp và trong lĩnh vực, đối ngoại vẫn tập trung và thống nhất quản lý ở một đầu mối. Về lý do chính trị, các nước đều không muốn các nước khác biết hết những chính sách của mình và nhất là tìm cách tác động và gây ảnh hưởng.
Việc tách biệt đối nội và đối ngoại sẽ cho phép các nước toàn quyền hành động về đối nội và không bị nước ngoài phê phán. Chính vì lẽ đó trong luật quốc tế mới thừa nhận các nguyên tắc như “tôn trọng công việc nội bộ”, hay “không can thiệp”…vào công việc nội bộ của nhau.3 Tác động của chính sách đối ngoại đối với mỗi nƣớc Mỗi quốc gia dù lâu đời hay mới thành lập, đều có nhu cầu khẳng định bản sắc của mình trên trường quốc tế. Chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia tác động, ảnh hường đến quốc gia đó và nó thể hiện rõ vai trò với quốc gia của mình trong những trường hợp, hoàn cảnh đặc biệt như sau: - Khi có quan hệ căng thẳng với một nước nào đó, thậm chí có nguy cơ xảy ra chiến tranh. - Khi chủ quyền quốc gia hay toàn vẹn lãnh thổ bị đe dọa dưới nhiều hình thức khác nhau.
- Sự thống nhất quốc gia hay khối đoàn kết dân tộc có nguy cơ bị tan vỡ. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong những trường hợp trên, mọi lý lẽ như văn hóa, ngôn ngữ, lịch sử, huyết thống mà có lợi cho việc khẳng định bản sắc dân tộc thì đều được viện dẫn tới mức tối đa. Như đã biết, trong hai cuộc kháng chiến chống pháp và chống Mỹ. Việt Nam luôn luôn khẳng định câu nói nổi tiếng của Hồ Chí Minh “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một.
Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”. Trước hết, lời khẳng định này thể hiện quan điểm của Việt Nam về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, điều mà mọi người Việt Nam phải đứng lên cầm súng để bảo vệ trong khi kẻ thù lại không chịu thừa nhận. Đồng thời câu nói này là phương tiện mà các nhà ngoại giao sử dụng để tuyên truyền tính chính nghĩa của cuộc chiến tranh của ta và thành lập mặt trận nhân dân thế giới phản đối hành động chiến tranh của chính phủ Pháp trong những năm 50 và chính phủ Mỹ trong những năm 60 và 70 của thế kỷ 20. Tác động tiếp theo của chính sách đối ngoại với các quốc gia là bảo vệ lợi ích của mình trên trường quốc tế và chống lại mọi thế lực làm tổn hại hoặc đe dọa nó.
Do vậy, đường lối chính sách đối ngoại và nhiệm vụ đối ngoại luôn luôn phải xuất phát từ những mục tiêu và nhu cầu của sự nghiệp phát triển đất nước. Không thể có chính sách đối ngoại chung chung, xa rời hoàn cảnh thực tế đất nước. Càng không có chính sách đối ngoại hy sinh lợi ích dân tộc và một lợi ích khác.4 Chính sách đối ngoại của nƣớc lớn Nhìn dưới nhiều góc độ, người ta sẽ có những quan điểm khác nhau về nước lớn, có thể xét nước lớn dựa trên tiêu chí dân số, lãnh thổ; có thể xét dựa trên sức mạnh kinh tế với khả năng thao túng thị trường thế giới, ảnh hưởng bởi lĩnh vực kinh tế trọng yếu…; khả năng chi phối, ảnh hưởng về chính trị đối với các vấn đề quốc tế, sức mạnh về quân đội, vũ khí… Trong đề tài này các nước lớn được đề cập là Trung Quốc và Hoa Kỳ được xem như hai cường quốc chiếu theo góc nhìn quan hệ chính trị quốc tế hai cường quốc này đóng vai trò là các cực trên bàn cờ chính trị thế giới, giữ vị trí chi phối hệ thống quốc tế. Khái niệm nước lớn cũng gần nghĩa với khái niệm siêu cường bởi siêu cường là quốc gia có khả năng gây ảnh hưởng tới những sự kiện và phô trương sức mạnh trên phạm vi toàn thế giới.
Nhưng thường 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thì siêu cường được coi là có mức quyền lực cao hơn cường quốc, có thể chi phối cả cường quốc. Tác giả thống nhất cách gọi nước lớn thay cho các từ ngữ gần nghĩa. Các nước lớn luôn tự coi mình là chủ thể quan trọng và có vị thế nhất đối với các nước khác trong cộng đồng quốc tế. Trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, và qua các nhiệm kỳ với các chính trị gia nắm quyền khác nhau thì chính sách đối ngoại của các nước lớn luôn có sự thay đổi.
Song sự thay đổi ấy luôn ẩn sau đó là tham vọng bá quyền nước lớn. Những chính sách luôn luôn khác nhau ấy không đơn thuần là các cảm hứng chính chính trị của những nhà lãnh đạo. Dù có thay đổi theo hình thức và thời gian nào đi nữa thì mục tiêu của nước lớn là có một chính sách đối ngoại chi phối, ảnh hưởng và bá quyền. Trong tâm lý nước nhỏ, hoặc đâu đó trong suy nghĩ của người dân và các nhà lãnh đạo nước nhỏ và vừa thì bản thân họ cũng mong muốn quốc gia của mình có tầm ảnh hưởng cũng như nước lớn.
Ngay cả các nước nhỏ đã suy nghĩ vậy thì không có gì khó hiểu là các nước lớn tự cho mình các quyền và mặc định vai trò sen đầm của họ là như vậy.5 Chính sách đối ngoại với nƣớc lớn Chính sách đối ngoại với nước lớn là vấn đề luôn được các nước vừa và nhỏ quan tâm. Các nước nhỏ có vị thế chính trị trên bàn cờ quốc tế quá chệnh lệch về cán cân quyền lực, cũng như tầm ảnh hưởng và lợi ích của mình. Do đó, khả năng dễ bị nước lớn chi phối, can thiệp và đe dọa. Đây là lý do mà các nước nhỏ luôn đưa ra cho mình những đối sách để ứng xử với các nước lớn.
Đặc biệt, các quốc gia có lãnh thổ với nước lớn thì điều chú ý là luôn phải hoạch định cho mình chính sách đối ngoại phù hợp với lợi ích chung giữa nước mình và nước lớn. Trong lịch sử quan hệ chính trị quốc tế chứng mình rằng, các nước nhỏ trong các tình huống chính trị khác nhau đã hoạch định cho mình chính sách đối ngoại với nước lớn. Chính sách đối ngoại đó được thể hiện qua các hành động ngoại giao có thể là trung lập, đối đầu hoặc có thể là đồng minh…Tuy nhiên, với các cách khác nhau ấy luôn nổi lên vấn đề rằng, việc tách biệt sự ảnh hưởng của nước lớn hay độc lập trong tiếng nói đều là vấn đề khó khăn.