Chương 1. NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA NHẬT BẢN ĐỐI VỚI ĐÔNG Á TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 1. Vị trí địa chính trị của Đông Á tác động qua lại tới Nhật Bản 1. Về an ninh - chính trị Đông Á là dải đất chạy dài từ bắc xuống nam nằm ở rìa phía Đông lục địa châu Á với hai khu vực Đông Bắc Á và Đông Nam Á.1 Có thể nói, nếu như chỉ kể ít nhất từ nửa sau thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, Đông Á hầu như chỉ là một khu vực/đối tượng cho những cuộc xâm lược thôn tính của các cường quốc thực dân châu Âu và Bắc Mỹ, thì từ nửa sau thế kỷ XX và nhất là sau chiến tranh lạnh, Đông Á đã trở thành một khu vực địa - chính trị quan trọng với vị thế quốc tế ngày càng nổi bật trên trường quốc tế, góp phần to lớn đối với chiều hướng phát triển của thế giới ngày nay.
Thực ra, không phải tận cuối những năm 1990 ý tưởng về xây dựng cộng đồng Đông Á mới được khởi xướng mà nội dung này đã được đề cập từ khá lâu. Với người Nhật, cụm từ “Cộng đồng châu Á” đã được nói đến từ cuối thế kỷ XIX khi đế quốc Nhật Bản bành trướng ra bên ngoài (vùng Viễn Đông và Đông Nam Á). Về sau Nhật Bản đã ra sức tuyên truyền cho việc xây dựng “Khối đại Đông Á phồn thịnh”. Ý tưởng về mở rộng hợp tác các nước trong khu vực tiếp tục được nêu ra dưới những tên gọi khác nhau, đặc biệt xuất hiện khá rầm rộ vào những năm 1960.
Đó là “Vòng cung kinh tế Đông Á”, “Vòng cung kinh tế châu Á Thái Bình Dương”, “Cộng đồng kinh tế lòng chảo Thái Bình Dương” … Những năm 1990 Nhật Bản lại kêu gọi thiết lập “Hành lang phát triển châu Á”.2 Vấn đề cộng đồng lại được khơi dậy khi Thủ tướng Malaixia Mahathiar đề xuất thành lập “Nhóm Kinh tế Đông Á” (East Asian Economic Group – EAEG), bao gồm hầu hết các nước ven biển Đông Á và hoạt động trong khuôn khổ APEC. Theo quan điểm của một số nước Đông Á, cơ chế hợp tác dựa trên nguyên tắc hoạt động của ASEAN. Nội dung chính của cơ chế hợp tác bao gồm các hội nghị cấp 1 Nguyễn Quốc Hùng (2008), An ninh Đông Á, Tạp chí Đông Nam Á, số 2/2008, tr. 2 Nguyễn Duy Dũng (2017), Xây dựng cộng đồng Đông Á: Những thách thức chủ yếu, Viện nghiên cứu Đông Bắc Á, 2017.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cao, các kỳ gặp mặt của các nguyên thủ quốc gia, cấp bộ trưởng và mục đích cơ bản là thúc đẩy hội nhập khu vực, trước hết là khía cạnh kinh tế.Mặc dù hợp tác Đông Á theo mô thức ASEAN+3 tiến triển chậm nhưng cũng đạt được một số kết quả nhất định. Cơ chế hợp tác ASEAN+3 đã được hình thành, thể hiện trong các văn kiện, như Tuyên bố chung Hợp tác Đông Á, các báo cáo của Nhóm tầm nhìn Đông Á (EAVG), các báo cáo của Nhóm nghiên cứu Đông Á, các đề nghị tổ chức cấp cao Đông Á, khu vực mậu dịch tự do Đông Á, cộng đồng Đông Á, các sáng kiến của Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc. Hàng năm, các quan chức cấp cao của ASEAN+3 thường xuyên gặp gỡ, ký các thoả thuận hợp tác về nhiều lĩnh vực, nhất là về kinh tế. Thực tế vẫn còn tồn tại không ít sự khác biệt trong tiếp cận nhận thức về cộng đồng Đông Á.
Tuy nhiên trong công trình này, khái niệm Đông Á được dùng theo cách hiểu phổ biến gồm Nhật Bản, bán đảo Triều Tiên, Trung Quốc và các nước thành viên ASEAN ở Đông Nam Á. Trong những năm gần đây, liên kết Đông Á trở thành đối tượng được quan tâm của các nhà chính trị, kinh tế và đề tài nghiên cứu của các nhà khoa học. Trong thực tiễn, mặc dù còn nhiều khó khăn, cản trở trên con đường hội nhập, song hợp tác khu vực Đông Á đã đạt được những thành tựu nhất định nhờ sự nỗ lực chung của cả cộng đồng các nước Đông Á. Hợp tác về chính trị - an ninh tại khu vực tuy tiến triển chậm nhưng cũng có những tiến bộ nhất định.
Hiện nay, các nước Đông Á đều đang tập trung cho lợi ích phát triển nên đều cần một môi trường an ninh-chính trị ổn định. An ninh-chính trị ổn định là một trong những động lực lớn nhất thúc đẩy quan hệ hợp tác Đông Á. Do vậy, các nước Đông Á đã đưa ra các sáng kiến, hình thành nên các thể chế với sự tham gia của đông đảo lực lượng chính trị và các tầng lớp khác nhau vào quá trình hợp tác khu vực ở Đông Á từ sau Chiến tranh Lạnh và nhất là từ sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ. Đặc biệt giữa 3 nước lớn trong khu vực là Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc đều đã thấu hiểu được sự cần thiết thúc đẩy quan hệ hợp tác đa phương.
Các nước Đông Á đã ngồi lại với nhau thông qua diễn đàn hợp tác đa 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phương ARF để bàn giải quyết các bất đồng, xung đột ở khu vực.3 Việc Nhật Bản sẵn sàng gia nhập tiến trình liên kết Đông Á thông qua diễn đàn ASEAN + 3 là bước khởi đầu đầy ý nghĩa, không chỉ với Nhật Bản mà còn đối với cả khu vực. Một mặt, chủ trương này đánh dấu những nét mới trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản – “Chính sách hướng về châu Á” và lý giải cho hàng loạt những đóng góp tích cực thúc đẩy hợp tác Đông Á của Nhật Bản. Mặt khác, thái độ ủng hộ của cường quốc kinh tế hàng đầu khu vực như Nhật Bản đượ ccoi là một trong những đảm bảo vững chắc hướng tới thành công của hợp tác Đông Á trên lĩnh vực an ninh, chính trị.4 Để tiến tới hội nhập Đông Á, các nước đã đề xuất những nguyên tắc hợp tác và đưa ra thảo luận tại các cuộc họp thượng đỉnh ASEAN + 3 và các cuộc hội thảo. Nguyên tắc thứ nhất là “Chủ nghĩa khu vực mở”, bởi vì sự ổn định và thịnh vượng của Đông Á không những phụ thuộc vào các quan hệ hợp tác khu vực mà còn phụ thuộc vào việc duy trì mối quan hệ hữu nghị với các nước ngoài khu vực.
Thực hiện nguyên tắc này, cả khu vực và cộng đồng quốc tế đều có lợi, xua tan đi nỗi lo của những người đã khẳng định rằng sự hội nhập khu vực Đông Á có thể dẫn đến việc tạo ra khối kinh tế khép kín. Nguyên tắc thứ hai là “Tiếp cận trên các lĩnh vực cần thiết, cụ thể” (functional approach). Dựa trên tình hình thực tế chứ không cố gắng xây dựng những khung khổ thể chế toàn diện từ đầu. Dựa trên những đánh giá về tình hình thực tế, phương pháp tiếp cận này sẽ tìm ra hướng hợp tác trên các mặt cụ thể, đa dạng với quan điểm tạo ra các điều kiện cơ bản cho sự hội nhập toàn diện của khu vực trong tương lai.
Nguyên tắc thứ ba là tôn trọng và thừa nhận các giá trị chung. Nguyên tắc này nhằm khuyến khích các nước Đông Á đấu tranh để giải quyết các vấn đề như luật pháp, nhân quyền, tham nhũng và tăng cường hiệu quả quản lý. Các nước có 3 Trần Thị Nhung (2007), Hợp tác Đông Á: Thành tựu và những vấn đề, Tạp chí Viện nghiên cứu Đông Bắc Á, số 3/2007. 4 Ngô Phương Anh (2011), Vai trò của Nhật Bản đối với tiến trình liên kết Đông Á, Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 1(119), tr.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thể giúp đỡ lẫn nhau bằng cách chia sẻ kinh nghiệm trong việc giải quyết các vấn đề trên. Nguyên tắc thứ tưđề cập đến vấn đề xây dựng lòng tin trong lĩnh vực an ninh và tạo thuận lợi cho việc hợp tác trong các lĩnh vực an ninh phi truyền thống qua việc làm rõ những khả năng quân sự của mỗi nước trong khu vực và tạo điều kiện cho các nước dễ dàng hiểu nhau khi có những chính sách khác biệt về quốc phòng. Trong quan hệ hợp tác an ninh, thành tựu cơ bản đạt được thuộc lĩnh vực an ninh phi truyền thống. Cụ thể là hợp tác trong lĩnh vực an ninh xã hội và bảo vệ môi trường.
Các hợp tác này bao gồm hợp tác chống khủng bố, chống dịch viêm đường hô hấp cấp (SARS), chống cúm gia cầm, buôn bán ma tuý. Sau sự kiện 11/9/2001, các cuộc họp cấp cao chính thức, không chính thức, các cuộc họp cấp bộ trưởng và các cuộc hội thảo giữa các nước trong khu vực Đông Á đã đề cập và đưa ra Tuyên bố chống khủng bố, xây dựng các kế hoạch và chương trình trao đổi tin tức, an ninh máy tính, xây dựng cơ cấu chống tội phạm trên mạng… Đồng thời quan tâm đến việc hợp tác trên các mặt khác như chống buôn lậu, ma tuý, nạn di dân bất hợp pháp, cướp biển, buôn lậu vũ khí, tội phạm kinh tế quốc tế, chủ nghĩa khủng bố… Khi bệnh dịch SARS bùng nổ, các nước ASEAN cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đã liên tục tổ chức các hội nghị giữa các bộ trưởng y tế để bàn cách chống SARS, đưa ra các biện pháp, hành động chung nhằm phối hợp ngăn ngõa sự lây lan và đẩy lùi dịch bệnh. Để đối phó với những thiên tai gây ra như hạn hán, bão lụt, động đất, sóng thần,…, các cuộc họp cấp bộ trưởng các nước trong khu vực Đông Á thường xuyên đề cập đến các vấn đề thiên tai và tìm cách khắc phục qua việc tổ chức các hội nghị về môi trường, lập mạng lưới thông tin chung để kiểm tra môi trường khu vực, dự báo thiên tai để phòng chống. Đặc biệt, sau khi cơn sóng thần xảy ra cuối năm 2004 tàn phá khu vực, cùng với các nước khác trên thế giới, các nước khu vực Đông Á đã tích cực ủng hộ về vật chất và cử các nhân viên y tế đến các nước bị ảnh hưởng để khôi phục lại cuộc sống bình thường cho người dân bị nạn.
14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trước xu hướng toàn cầu hoá và khu vực hoá ngày càng gia tăng, vì sự tồn tại và phát triển của mình, các quốc gia Đông Á đã và đang cố gắng thúc đẩy tiến trình hợp tác. Tuy nhiên, tiến độ của quá trình này hết sức chậm do còn tồn tại một số vấn đề. Đông Á là khu vực tồn tại nhiều mâu thuẫn và tranh chấp giữa các quốc gia trong khu vực. Những mâu thuẫn này hiện nay vẫn còn tồn tại trong hầu hết giữa các quốc gia và khi bùng nổ dễ lôi cuốn hoặc làm ảnh hưởng đến nước khác.