Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ DƯỚI THỜI TỔNG THỐNG DONALD TRUMP 1.1 Nhân tố quốc tế Cuối thế kỷ XX, chiến tranh lạnh kết thúc đã mở ra một thời kỳ hoàn toàn mới cho nhân loại. Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu đã tạo cho Mỹ một lợi thế tạm thời. Là cực duy nhất còn lại, Mỹ ra sức củng cố vị trí siêu cường, mưu đồ bá chủ thế giới. Sau chiến tranh lạnh, toàn cầu hóa trở thành xu thế tất yếu không thể thay thế.
Sự trỗi dậy của các trung tâm kinh tế - chính trị như: Liên Bang Nga, Tây Âu, Nhật Bản, Trung Quốc,…. đã làm thay đổi cơ bản cục diện thế giới. Trong tác phẩm Tương lai của quyền lực, Josph.Jr đã viết:“ Thực tế sức mạnh được phân bố theo một kiểu phức tạp đại loại như một bàn cơ ba tầng, ở tầng trên sức mạnh quân sự phần lớn là một cực của Hoa Kỳ là nước duy nhất có cả vũ khí hạt nhân vượt bậc, lẫn lực lượng không quân, hải quân và bộ binh to lớn, hiện tại có khả năng triển khai khắp địa cầu; ở tầng giữa sức mạnh kinh tế là ba cực với Hoa Kỳ, châu Âu, Nhật Bản chiếm gần 2/3 sản phẩm thế giới. Sự tăng trưởng của Trung Quốc sẽ làm cho sức mạng kinh tế trở thành 4 cực ở thế kỷ sau.
Tầng cuối cùng: quan hệ suyên quốc gia vượt qua biên giới ngoài sự kiểm soát của chính quyền bao gồm yêu tố chủ chốt khác hản nhau như chủ ngân hàng và kẻ khủng bố, ở đây sức mạng bị phân tán rộng rãi’’ [6, tr. Trước xu thế mới của quan hệ quốc tế, các quốc gia trên thế giới đều ra sức điều chỉnh chiến lược phát triển và tập trung mọi sức lực vào ưu tiên phát triển kinh tế. Kinh tế trở thành trọng điểm trong quan hệ quốc tế, cạnh tranh sức mạnh tổng hợp quốc gia thay thế cho chạy đua vũ trang đã trở thành hình thức chủ yếu trong cuộc đọ sức giữa các cường quốc. Những cân nhắc về địa - kinh tế trên mức độ nào đó đã vượt qua tính toán về địa - chính trị.
Các nước ngày càng nhận thức sâu sắc rằng, sức mạnh của mỗi quốc gia là 15 một nền sản xuất phồn vinh, một nền tài chính hùng mạnh, một nền công nghệ có trình độ cao và đó mới là cơ sở để xây dựng sức mạnh thực sự của mỗi quốc gia. Theo đó, trên thế giới nổi lên các trung tâm kinh tế: Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, chiếm tời 2/3 GDP toàn cầu [37]. Với sức mạnh kinh tế của mình, ba siêu cường ngày càng chi phối, ảnh hưởng to lớn đến quan hệ quốc tế cũng như trật tự thế giới mới. Điều này mở ra tiền đề thực tế cho việc cạnh tranh trên lĩnh vực chính trị quốc tế giữa các cường quốc kinh tế nhằm giành quyền chi phối nhiều nhất trên mọi mặt của đời sống đương đại.
Ngoài ra, với sự phát triển của khoa học – công nghệ, nền kinh tế tri thức ra đời, trở thành đặc điểm lớn nhất của kinh tế thế giới hiện nay. Chính từ cuộc cánh mạng khoa học – công nghệ kết hợp với nhu cầu phát triển xã hội đang làm thay đổi một cách cơ bản tính chất, nội dung của giao lưu, hợp tác quốc tế, yêu cầu các quốc gia phải trên tinh thần vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa tồn tại hòa bình. Có thể thấy rằng, cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX là thời kỳ tình hình thế giới có nhiều thay đổi phức tạp. Nạn khủng bố, các cuộc chiến tranh liên quan đến vấn đề sắc tộc, tôn giáo, sự bất ổn về chính trị, khủng hoảng ở một số nước, một số khu vực như: Syria, Trung Đông, Bắc Phi, Myanmar vẫn tiếp tục diễn ra.
Trước những biến chuyển của tình hình thế giới, nước Mỹ cần phải có những chính sách phù hợp để ngăn ngừa sự xuất hiện của các đối thủ mới đe dọa đến vị trí siêu cường của mình. Vấn đề này buộc Mỹ phải có những đổi mới trong chính sách đối nội, đối ngoại của mình để phù hợp với những biến động ngày càng phức tạp của thế giới hiện nay. Nhân tố bên trong nước Mỹ 1. Kinh tế Kinh tế Mỹ là một nền kinh tế TBCN hỗn hợp, với mức độ công nghiệp hóa và trình độ phát triển cao.
Mỹ có thu nhập bình quân đầu người đứng thứ 7 thế giới theo danh nghĩa và thứ 11 thế giới tính theo PPP năm 2016 [38]. Đồng đô la Mỹ (USD) là 16 đồng tiền được sử dụng nhiều nhất trong các giao dịch quốc tế và là đồng tiền dự trữ phổ biến nhất thế giới. Mỹ hiện là nhà sản xuất hàng hóa lớn thứ hai thế giới, tổng sản lượng công nghiệp năm 2013 đạt 2,4 nghìn tỷ đôla [38]. Sản lượng này lớn hơn Đức, Pháp, Ấn Độ và Brazil cộng lại.
Những ngành công nghiệp chính bao gồm dầu mỏ, thép, ô tô, máy móc xây dựng, hàng không, máy nông nghiệp, viễn thông, hóa chất, điện tử, chế biến thực phẩm, hàng tiêu dùng, gỗ và khai khoáng. Nền kinh tế Mỹ vẫn có ngành sản xuất công nghiệp lớn nhất thế giới tính theo mức giá năm 2005. Những đối tác thương mại lớn nhất của nước Mỹ bao gồm: Trung Quốc, Canada, Mêhicô, Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc, Anh Quốc, Pháp, Ấn Độ và Đài Loan. Năm 2008, kinh tế nước Mỹ rơi vào tình trạng khó khăn dưới tác động nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế toàn cầu.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm tại Mỹ khoảng 3% không được duy trì, thay vào đó là con số khoảng 2%. Đầu năm 2009, nước Mỹ mất khoảng 800.000 việc làm/tháng [12, tr. Tháng 1/2009, Tổng thống Barrack Obama nhậm chức và kế thừa một nền kinh tế suy giảm từ Chính quyền Tổng thống George W. Tháng 10/2009, tỉ lệ thất nghiệp tăng lên 10,2% và tính từ đầu năm 2007 đến năm 2010, 8,7 triệu người lao động Mỹ đã mất việc [12, tr.
Trước tình hình đó, Quốc hội Mỹ và Tổng thống Barrack Obama đã thông qua các biện pháp kích thích tăng trưởng nền kinh tế đồng thời áp dụng chính sách cắt giảm thuế suất nhằm khuyến khích các công ty tuyển dụng trở lại. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cũng đã thực hiện các biện pháp đặc biệt nhằm củng cố nền kinh tế. Tháng 2/2009, một gói kích thích quy mô lớn nhằm phục hồi kinh tế đã được thông qua và gói kích cầu kinh tế trị giá gần 800 tỉ USD đã phát huy hiệu quả như tính toán của Chính phủ Mỹ. Theo số liệu chính thức, từ năm 2009 đến 2012, GDP của Mỹ tăng trưởng là nhờ gói kích thích này.
Tuy nhiên, thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình Mỹ không tăng, nợ công chính phủ Mỹ tăng lên mức 77% [12, tr. Mức độ tham gia của lực lượng lao động đang ở mức thấp nhất từ cuối thập niên 1970. Khoảng cách giàu nghèo ở nước Mỹ giai đoạn cuối nhiệm kỳ 2 của Tổng thống Barrack Obama đã cao hơn so với 8 năm trước, xã 17 hội Mỹ vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức. Năm 2009, khoảng 1 % những người giàu nhất nắm giữ 16,7 % tổng sản phẩm của cả nước; khi Tổng thống Barrack Obama sắp mãn nhiệm, tỷ lệ đó tăng lên tới 18,4 % [11, tr.
Có thể nói, Mỹ là “con nợ” lớn nhất của thế giới. Năm 2013, tổng số nợ của Mỹ lên tới 14,3 nghìn tỷ USD. Trong đó, nợ trong nước là 9,8 nghìn tỷ USD (riêng nợ người dân Mỹ là 3,6 nghìn tỷ USD), nợ nước ngoài là 4,5 nghìn tỷ USD. Trung Quốc là chủ nợ lớn nhất của Mỹ Ngày 16/4/2019, đã lên đến 24,5 nghìn tỷ USD trong khi tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2019 chỉ đạt 22 nghìn tỷ USD [38].
Trước bối cảnh khó khăn đó, vấn đề đặt ra là làm cách nào để tìm ra lối thoát cho những bế tắc trên một cách nhanh nhất nhằm giảm tối đa những thiệt hại và sự đe dọa đến vị thế siêu cường của Mỹ. Sau khi đắc cử Tổng thống Mỹ, Donald Trump đã tập trung vào phát triển kinh tế nhằm vực dậy nền kinh tế, giữ vững vị trí siêu cường của mình. Tổng thống Donald Trump đã nhiều lần tuyên bố nền kinh thế dưới thời của ông là nền kinh tế tốt nhất. Ông thông qua các đạo luật cắt giảm thuế, ủng hộ các hiệp định thương mai song phương, chủ trương tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người Mỹ, nỗ lực giảm thâm hụt thương mại….
Từ đó, tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế Mỹ phát triển, vượt qua các khó khăn, thách thức và giữ vững vị trí siêu cường của mình. Trong ba năm đầu tiên nhiệm kỳ của Tổng thống Trump, tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ giảm xuống còn 3,5% - mức thấp nhất trong 50 năm [38]. Thị trường chứng khoán của Mỹ tăng điểm mạnh mẽ so với đa số các đời Tổng thống trước đây. Theo hãng tin Bloomberg dẫn dữ liệu của công ty Bespoke Investment Group bắt đầu từ năm 1928 cho biết chỉ số S&P 500 đã tăng hơn 50% kể từ khi Trump đắc cử Tổng thống, cao hơn gấp đôi so với đời Tổng thống Obama [38].
Sự phát triển kinh tế là tiền đề, là nền tảng cho sự ổn định để phát triển chính trị, là cơ sở để Mỹ đưa ra những chính sách về chính trị phù hợp. Chính trị, quân sự Về chính trị Mỹ là một nhà nước Cộng hòa Liên bang theo chế độ tam quyền phân lập với sự phân chia thành 3 nhánh: Quyền lập pháp (Quốc hội gồm Hạ viện và Thượng viện), quyền hành pháp (đứng đầu là Tổng thống), quyền tư pháp (Tòa án liên bang). Các nhánh quyền lực của Liên bang hoạt động dựa trên nguyên tắc được ghi nhận trong Hiến pháp là “kiểm soát và cân bằng”, theo đó, mỗi cơ quan có quyền lực và trách nhiệm kiểm soát chéo hai cơ quan còn lại. Sự kiểm soát và cân bằng có thể biểu hiện qua nhiều hoạt động khác nhau của các nhánh quyền lực.
Tình hình chính trị - xã hội của nước Mỹ nhìn chung ổn định với sự thay nhau cầm quyền, điều hành đất nước của hai đảng tư sản lớn đó là Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa. Việc hoạch định và triển khai trong chính sách đối ngoại của hai đảng này thường chịu ảnh hưởng của hai trường phái lý luận là chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa tự do. Quan điểm của chủ nghĩa hiện thực cho rằng, các quốc gia phải dựa vào chính sức mạnh của mình (quân sự, kinh tế, mô hình phát triển,…) để bảo vệ an ninh và tăng cường vị thế quốc tế.