CHƯƠNG 1 NHỮNG NHÂN TỐ CƠ BẢN TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ ĐỐI VỚI CHÂU PHI SAU CHIẾN TRANH LẠNH 1. Bối cảnh quốc tế mới sau khi chiến tranh Lạnh kết thúc Đầu những năm 1990, sau nhiều năm trì trệ và khủng hoảng chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chấm dứt một thời kỳ đối đầu căng thẳng giữa hai phe tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Cục diện thế giới hai cực tan rã với sự vượt trội của Mỹ, tuy nhiên sự độc chiếm của Mỹ không duy trì được lâu. Sự phục hồi và phát triển kinh tế nhanh chóng của Nhật Bản, EU và sự trỗi dậy của nhiều nước khác như Trung Quốc, Ấn Độ… đang hình thành một cục diện thế giới mới theo hướng đa cực “nhất siêu đa cường”.
Tuy nhiên, “cục diện đa cực chưa hẳn đã hình thành mà đang trải qua thời kỳ quá độ từ trật tự cũ để tiến tới một trật tự mới”.[50] Mỹ lúc đó nổi lên là siêu cường mạnh nhất so với các cường quốc khác với ưu thế vượt trội trên tất cả các lĩnh vực then chốt như kinh tế, chính trị, quân sự… vì thế mà Mỹ đã không ngại giấu giếm ý định lãnh đạo thế giới sau chiến tranh Lạnh. Mỹ bắt đầu thể hiện vai trò siêu cường của mình không chỉ trong các hoạt động của Liên hợp quốc, NATO… mà còn trực tiếp tham gia vào việc giải quyết các biến cố lớn trên thế giới và ở các khu vực khác nhau: chiến tranh vùng Vịnh, xung đột ở Coxovo, Somalia… Gần như ở bất cứ điểm nóng nào trên thế giới đều có sự can thiệp của Mỹ. Mỹ tiếp tục chủ trương củng cố quan hệ với Liên minh châu Âu (EU) và mở rộng hơn nữa khối NATO, tích cực điều chỉnh chiến lược ở các khu vực và cố gắng cải thiện quan hệ với các nước lớn như Trung Quốc, Nga… Những điều trên cho thấy Mỹ đang tìm cách để trở thành một cực duy nhất chi phối thế giới. Tuy nhiên việc Mỹ trở thành một cực duy nhất của trật tự thế giới mới là điều khó thực hiện khi bản thân các tổ chức quốc tế, khu vực, các nước lớn… sẽ không chịu ngồi yên để chịu sự chi phối và điều khiển của Mỹ.
Tất cả mọi quốc gia đều muốn tăng khả năng ảnh hưởng trong các vấn đề quốc tế và các tổ chức quốc tế. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bởi vậy, ảnh hưởng của Mỹ vấp phải sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các cường quốc kinh tế và chính trị khác như EU, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản… Do đó, xu thế phát triển của trật tự thế giới trong tương lai sẽ là hướng đến một hệ thống đa cực, trong đó, một số quốc gia sẽ nắm vai trò chủ chốt trong việc ảnh hưởng tới cục diện thế giới. Đặc điểm nổi bật của thời kỳ này là cuộc chạy đua vừa công khai vừa không công khai để giành lấy quyền lực trong tương lai và diễn ra trong xu thế hòa bình, vừa hợp tác vừa kiềm chế lẫn nhau. Bên cạnh đó, bài học của thời kỳ chiến tranh Lạnh đã chứng tỏ phương pháp quan hệ quốc tế lấy đối đầu chính trị - quân sự là chủ yếu không còn phù hợp, phải gánh chịu nhiều tổn thất dù là nước thắng cuộc hay bại trận.
Trong khi đó, phương thức lấy hợp tác và cạnh tranh về kinh tế - chính trị là chính lại thu được nhiều tiến bộ. Trong khi Mỹ và Liên Xô mải mê chạy đua vũ trang thì các nước khác như Nhật Bản, Tây Âu và một số nước khác lại ra sức tập trung phục hồi nền kinh tế bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh, rút ngắn khoảng cách về kinh tế- kỹ thuật với Mỹ và trở thành đối thủ cạnh tranh với Mỹ. Từ đó có thể nhận thấy sự hưng thịnh hay suy vong của một quốc gia được quyết định bởi sức mạnh tổng hợp của quốc gia đó, trong đó đặc biệt là thực lực kinh tế và khoa học - kỹ thuật. Vì vậy sau chiến tranh Lạnh, tất cả các quốc gia đều đang ra sức điều chỉnh chiến lược phát triển và tập trung mọi sức lực vào ưu tiên phát triển kinh tế.
Những cân nhắc về địa - kinh tế trên mức độ nào đó đã vượt qua các tính toán về địa - chính trị khi mà kinh tế trở thành trọng điểm trong quan hệ quốc tế, cạnh tranh sức mạnh tổng hợp quốc gia thay thế cho chạy đua vũ trang đã trở thành hình thức chủ yếu trong cuộc đọ sức giữa các cường quốc. Sức mạnh của mỗi quốc gia là một nền sản xuất phồn vinh, một nền tài chính lành mạnh và một nền công nghệ có trình độ cao- đó mới là cơ sở để xây dựng sức mạnh thật sự của mỗi quốc gia. “Sự phát triển hay suy thoái của các yếu tố này tạo nên sự hưng thịnh và suy vong không chỉ của các cường quốc mà cả các quốc gia khác trong một thế giới phức tạp đan xen và phụ thuộc nhau. Bên cạnh đó, tự do hóa và toàn cầu hóa là một vấn đề được cả thế giới quan tâm khi sau chiến tranh Lạnh, hầu hết các nước ở mức độ khác nhau đều có sự điều chỉnh về 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chiến lược kinh tế, trong đó mở cửa, hội nhập trở thành một xu thế không thể đảo ngược.
Nếu như trước đây, trao đổi thương mại chỉ chú trọng mở rộng trong nội bộ khối, khu vực thì ngày nay gần như toàn thế giới đã là một thị trường thống nhất dưới áp lực đòi hỏi của tự do hóa, toàn cầu hóa. Cùng với xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa, là sự ra đời của các tổ chức với các quy mô từ khu vực đến quốc tế đang diễn ra dồn dập ở hầu khắp các châu lục, thậm chí liên châu lục. Các tổ chức quốc tế rất đa dạng, chức năng cũng không dừng lại ở việc giải quyết các cuộc xung đột quốc tế và khủng hoảng. Trào lưu này phát triển mạnh trong thập niên 1990 sẽ tiếp tục gia tăng cả về lượng và chất trong những năm đầu thế kỷ XXI, cùng với quá trình toàn cầu hoá sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến các lĩnh vực của đời sống quốc tế, mang lại cả những thuận lợi và khó khăn cho mỗi quốc gia trong quá trình hội nhập vào những thể chế chung đó.Tầm quan trọng của châu Phi trên bản đồ thế giới 1.
Vị trị địa lý Châu Phi là châu lục đứng thứ ba trên thế giới cả về dân số và diện tích sau châu Á và châu Mỹ. Với diện tích khoảng 30.050 km² bao gồm cả các đảo cận kề thì nó chiếm 20,4% tổng diện tích đất đai của Trái Đất với 55 quốc gia và hơn 1 tỷ dân sinh sống. Ngày nay, các quốc gia ở châu Phi đều độc lập, tất cả trong số đó có đường biên giới được tạo ra trong thời kỳ chủ nghĩa thực dân của người châu Âu.[35] Châu Phi có vị trí địa- chính trị quan trọng trên bản đồ thế giới. Vùng Bắc Phi là láng giềng với châu Âu khi chỉ cần vượt qua Địa Trung Hải.
Khu vực Đông Bắc châu Phi, hay còn gọi là vùng Sừng châu Phi lại rất gần với khu vực Trung Đông “nóng bỏng” hiện nay. Châu Phi là nơi phân cách hai đại dương: phía tây là Đại Tây Dương, phía đông là Ấn Độ Dương. Từ xa xưa, Ấn Độ Dương đã rất náo nhiệt bởi tàu buồm lợi dụng các đợt gió mùa để lưu hành. Còn Đại Tây Dương đã bị châu Âu chinh phục bởi những phát kiến của châu Âu từ thế kỷ XV.
Sự giao lưu thông thương từ Đông sang Tây đã có từ thời Thượng cổ khi những đoàn người buôn bán sử dụng lạc đà để đi qua sa mạc Sahara và sau này càng sầm uất hơn khi tàu thuyền 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có thể thông thương theo tuyến đường biển nối từ Ấn Độ Dương qua vịnh Aden, vào biển Đỏ rồi sang Địa Trung Hải để ra Đại Tây Dương ở phía Bắc châu Phi hoặc qua Mũi Hảo Vọng ở phía Nam châu Phi. Sự giao lưu buôn bán của châu Phi với châu Âu và khu vực Trung Đông ngay từ xưa đã nảy sinh nhiều vấn đề bởi các mặt hàng nổi tiếng là vàng và nô lệ. Ngày nay, vị trí địa lý của châu Phi vẫn tiếp tục tạo ra những vấn đề địa- chính trị phức tạp. Bên cạnh những mặt hàng là các loại tài nguyên thiên nhiên và các nông sản từ châu Phi xuất đi và các mặt hàng là sản phẩm chế tạo, hàng công nghiệp.
từ nơi khác nhập về thì châu Phi còn làm cho Mỹ và phương Tây lo lắng về việc gia tăng buôn bán các loại hàng cấm bao gồm cả vũ khí cũng như nuôi dưỡng cho các loại tội phạm quốc tế, trong đó có nạn rửa tiền và chủ nghĩa khủng bố.[3] Như vậy có thể nói, vị trí địa- chính trị và địa- chiến lược của châu Phi đã khiến châu lục này trở thành một địa bàn chiến lược quan trọng trong chính sách đối ngoại của Mỹ, là một bộ phận trong chiến lược toàn cầu và là một ưu tiên trong kế hoạch chiến lược an ninh quốc gia mới của nước này. Tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên và thị trường rộng lớn Lợi thế trước tiên và cũng là quan trọng nhất của châu Phi chính là sự ưu đãi của thiên nhiên đã giành cho châu lục này nhiều nguồn tài nguyên quý giá. Ngược lại với tình trạng kinh tế nghèo nàn thuộc loại nhất thế giới trong tương quan so sánh với các nền kinh tế khác, châu Phi lại giàu có về mặt tài nguyên thiên nhiên… Nguồn tài nguyên của châu Phi vừa phong phú về chủng loại vừa giàu có về trữ lượng. Hiện nay châu Phi chiếm 90% trữ lượng coban, 90% platin, 99% sản lượng crom, 64% sản lượng mangan, 33% sản ượng uranium, 70% sản lượng tantalite, 68% sản lượng coban, 54% sản lượng vàng của thế giới (Bảng 1.2) Về mặt dầu mỏ, châu Phi chỉ sở hữu khoảng 8% trữ lượng dầu mỏ thế giới, tương đương với 101,8 tỷ thùng.
Tuy trữ lượng dầu mỏ không cao, song châu Phi, đặc biệt là vùng Đông Phi lại được đánh giá là “vựa dầu và khí gas sản lượng cao đang cần được khai phá” và là “một trong những trữ lượng dầu lớn cuối cùng của thế giới”. Nhờ vào những phát hiện về các mỏ dầu mới ở Cộng hòa Chad, 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.