Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Trung Đông trong giai đoạn Tổng thống Barack Obama (2009-2012)

Khám phá chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Trung Đông dưới thời Tổng thống Barack Obama từ 2009 đến 2012 trong luận văn thạc sĩ này.

Chuyên ngành

Quan hệ quốc tế

Tác giả

Lê Thị Hoài Thu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2013

129
6
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về chính sách đối ngoại của Mỹ tại Trung Đông 2009 2012

Chính sách đối ngoại của Mỹ tại Trung Đông dưới thời Tổng thống Obama (2009-2012) đã trải qua nhiều biến động. Khu vực này không chỉ có vị trí địa chiến lược quan trọng mà còn là nơi tập trung nhiều vấn đề phức tạp như xung đột Israel - Palestine, chương trình hạt nhân của Iran và các cuộc khủng hoảng chính trị khác. Chính quyền Obama đã cố gắng điều chỉnh chính sách để đối phó với những thách thức này, đồng thời tìm kiếm một cách tiếp cận hòa bình hơn trong quan hệ quốc tế.

1.1. Tầm quan trọng của Trung Đông trong chính sách đối ngoại của Mỹ

Trung Đông được coi là 'trung tâm của bàn cờ thế giới' với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đặc biệt là dầu mỏ. Mỹ đã luôn xem khu vực này là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của mình. Sự hiện diện quân sự và kinh tế của Mỹ tại đây không chỉ nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia mà còn để duy trì ổn định khu vực.

1.2. Những thách thức chính trong chính sách đối ngoại của Obama

Dưới thời Obama, Mỹ phải đối mặt với nhiều thách thức như xung đột kéo dài giữa Israel và Palestine, sự gia tăng ảnh hưởng của Iran, và các cuộc khủng hoảng chính trị tại Syria và Iraq. Những vấn đề này đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc điều chỉnh chiến lược đối ngoại của Mỹ để đạt được hòa bình và ổn định trong khu vực.

II. Phân tích chính sách đối ngoại của Obama tại Trung Đông

Chính sách đối ngoại của Obama tại Trung Đông được xây dựng dựa trên nguyên tắc 'ngoại giao thông minh', nhằm kết hợp giữa sức mạnh quân sự và ngoại giao. Chính quyền Obama đã cố gắng giảm bớt sự can thiệp quân sự trực tiếp và thay vào đó là tăng cường hợp tác với các quốc gia trong khu vực.

2.1. Chiến lược an ninh quốc gia của Obama tại Trung Đông

Chiến lược an ninh quốc gia của Obama nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng quan hệ đối tác với các quốc gia trong khu vực. Điều này bao gồm việc hợp tác với các nước Ả Rập và Israel để giải quyết các vấn đề an ninh chung, đồng thời giảm thiểu sự phụ thuộc vào quân sự.

2.2. Các biện pháp cụ thể trong chính sách đối ngoại

Obama đã thực hiện nhiều biện pháp cụ thể như thúc đẩy tiến trình hòa bình Israel - Palestine, áp dụng các biện pháp ngoại giao để giải quyết vấn đề hạt nhân Iran, và hỗ trợ các cuộc cách mạng Arab. Những biện pháp này nhằm tạo ra một môi trường hòa bình và ổn định hơn tại Trung Đông.

III. Kết quả và tác động của chính sách đối ngoại của Obama

Chính sách đối ngoại của Obama đã đạt được một số kết quả tích cực nhưng cũng gặp nhiều khó khăn. Việc ký kết thỏa thuận hạt nhân với Iran là một trong những thành công lớn, nhưng xung đột tại Syria và tình hình căng thẳng với Israel vẫn là những thách thức lớn.

3.1. Thành công trong việc ký kết thỏa thuận hạt nhân với Iran

Thỏa thuận hạt nhân với Iran vào năm 2015 đã được xem là một bước tiến quan trọng trong việc giảm bớt căng thẳng và ngăn chặn sự phát triển vũ khí hạt nhân. Điều này không chỉ giúp ổn định khu vực mà còn cải thiện quan hệ giữa Mỹ và các nước đồng minh.

3.2. Những thách thức trong quan hệ với Israel và Palestine

Mặc dù Obama đã cố gắng thúc đẩy tiến trình hòa bình giữa Israel và Palestine, nhưng những nỗ lực này gặp phải nhiều trở ngại. Sự gia tăng các cuộc xung đột và chính sách định cư của Israel đã làm cho tình hình trở nên phức tạp hơn, gây khó khăn cho việc đạt được một giải pháp lâu dài.

IV. Tương lai của chính sách đối ngoại của Mỹ tại Trung Đông

Tương lai của chính sách đối ngoại của Mỹ tại Trung Đông sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm sự thay đổi trong chính quyền Mỹ, tình hình chính trị trong khu vực và các mối quan hệ quốc tế. Việc duy trì ổn định và hòa bình tại Trung Đông vẫn là một thách thức lớn.

4.1. Dự báo về chính sách của Mỹ sau nhiệm kỳ Obama

Dự báo rằng chính sách đối ngoại của Mỹ sẽ tiếp tục tập trung vào việc duy trì quan hệ với các đồng minh trong khu vực, đồng thời tìm kiếm các giải pháp hòa bình cho các xung đột hiện tại. Tuy nhiên, sự thay đổi trong chính quyền có thể dẫn đến những điều chỉnh trong chiến lược.

4.2. Tác động của các yếu tố bên ngoài đến chính sách

Các yếu tố bên ngoài như sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc và Nga tại Trung Đông, cũng như các cuộc khủng hoảng toàn cầu khác sẽ ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại của Mỹ. Việc điều chỉnh chiến lược để thích ứng với những thay đổi này sẽ là cần thiết.

V. Kết luận về chính sách đối ngoại của Mỹ tại Trung Đông

Chính sách đối ngoại của Mỹ tại Trung Đông dưới thời Tổng thống Obama đã có những bước tiến quan trọng nhưng cũng gặp nhiều thách thức. Việc tìm kiếm một giải pháp hòa bình cho các xung đột trong khu vực vẫn là một nhiệm vụ khó khăn. Tương lai của chính sách này sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm sự thay đổi trong chính quyền và tình hình chính trị toàn cầu.

5.1. Tóm tắt những điểm chính trong chính sách

Chính sách đối ngoại của Obama đã nhấn mạnh tầm quan trọng của ngoại giao và hợp tác quốc tế. Những thành công và thất bại trong chính sách này sẽ ảnh hưởng đến cách mà Mỹ tiếp cận Trung Đông trong tương lai.

5.2. Những bài học rút ra từ chính sách đối ngoại

Các bài học từ chính sách đối ngoại của Obama cho thấy rằng việc kết hợp giữa sức mạnh quân sự và ngoại giao là cần thiết để đạt được hòa bình và ổn định tại Trung Đông. Sự linh hoạt trong chiến lược sẽ là yếu tố quyết định cho thành công trong tương lai.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ chính sách đối ngoại của mỹ đối với trung đông dưới thời tổng thống barack obama 2009 2012

Trích đoạn nội dung tài liệu

Phần mở đầu, Kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn bao gồm 3 chƣơng: CHƢƠNG 1: “NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH QUYỀN OBAMA ĐỐI VỚI TRUNG ĐÔNG”, trình bày khái quát về khu vực Trung Đông và sự can dự của Mỹ vào khu vực từ đầu thập niên 1990 đến năm 2008. CHƢƠNG 2: “CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH QUYỀN TỔNG THỐNG OBAMA ĐỐI VỚI KHU VỰC TRUNG ĐÔNG”, phân tích về chính sách (mục tiêu, chủ trƣơng và biện pháp triển khai) của Chính quyền Obama CHƢƠNG 3: “ĐÁNH GIÁ VỀ CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH QUYỀN OBAMA ĐỐI VỚI KHU VỰC TRUNG ĐÔNG”, đƣa ra những đánh giá về kết quả triển khai chính sách, tác động và dự báo về chính sách của Mỹ đối với khu vực Trung Đông sau năm 2012. 9 CHƢƠNG 1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH QUYỀN OBAMA ĐỐI VỚI TRUNG ĐÔNG 1. Tình hình Trung Đông và sự can dự của Mỹ vào khu vực từ đầu thập niên 1990 đến năm 2008 1.

Khái quát về khu vực Trung Đông Do tính chất phức tạp và đang dạng về địa lý, chính trị, văn hóa và tôn giáo nên hiện nay trên thế giới không có một quan điểm thuần nhất về khu vực Trung Đông. Đây là vùng đất giao thoa giữa 3 châu lục Á - Âu - Phi và cũng là xác định một vùng văn hóa, vì thế nó không có biên giới chính xác. Trái lại, đang tồn tại một số cách phân loại khác nhau về Trung Đông, tùy theo những đặc điểm, yêu cầu và mục đích của ngƣời phân loại. Theo cách phân loại dựa trên tính chất và đặc điểm địa lý, khu vực Trung Đông (Trung Cận Đông) là hai cách gọi dùng để chỉ cùng một khu vực.

Vùng “Trung Cận Đông” có tính ƣớc lệ hơn, đƣợc ngƣời châu Âu dùng để chỉ những thuộc địa của Đế chế Ottoman, gần nhƣ hƣớng hoàn toàn về Địa Trung Hải. Đó là một thuật ngữ cổ điển “levant” (phƣơng Đông - chỉ hƣớng mặt trời mọc). Thuật ngữ này trong một thời kỳ dài đƣợc dùng để chỉ khu vực nằm ở phía Đông Địa Trung Hải. Còn “Trung Đông” là cách gọi trƣớc đây do ngƣời Anh tạo ra, kể từ đầu thế kỷ XX.

Nó đƣợc sử dụng chủ yếu từ năm 1945, để chỉ khu vực trải rộng từ Libya tới Afghanistan. Dựa theo tính chất văn hóa, khu vực Trung Đông bao gồm phía đông của thế giới Ả-rập, từ phía Đông của Libya và “thung lũng bất tử” của sông Nil trải rộng tới tận phía Đông của Afghanistan. Theo cách gọi này, khu vực Trung Đông bao gồm các quốc gia Arab ở Tây Á và 3 nƣớc châu Phi là Libya, Ai Cập và Sudan. Israel không thuộc thế giới Arab; Pakistan thuộc về thế giới Ấn Độ.

10 Ở thế giới phƣơng Tây, khu vực Trung Đông thƣờng đƣợc coi là một vùng cộng đồng đa số các quốc gia hồi giáo Ả-rập. Tuy nhiên, khu vực Trung Đông lại bao gồm nhiều nền văn hóa và các nhóm dân tộc riêng biệt nhƣ Arab, syria, Azerbajian, Berber, Chaldean, Druze, Hy Lạp, Do Thái, Kurd, Maronites, Ba Tƣ và Thổ. Đa số các định nghĩa của phƣơng Tây (cả trong những cuốn sách tham khảo và trong sử dụng thông thƣờng) về khu vực Trung Đông là “các quốc gia ở Tây Nam Á, từ Iran tới Ai Cập”. Một cách nhìn nhận khác của ngƣời châu Á, thì khu vực Trung Đông (không tính Bắc Phi) đƣợc gọi là khu vực Tây Á, để phân biệt với khu vực Trung Á và Nam Á.

Một định nghĩa đƣợc sử dụng rộng rãi khác về khu vực Trung Đông là của công nghiệp hàng không, đƣợc duy trì trong tổ chức tiêu chuẩn của Hiệp hội Vận chuyển Hàng không Quốc tế. Theo định nghĩa này (tới đầu năm 2006), Trung Đông là khu vực bao gồm 16 quốc gia và vùng lãnh thổ là Bahrain, Ai Cập, Iran, Iraq, Israel, Jordan, Kuwait, Lebanon, Palestine, Oman, Qatar, Arab Saudi, Sudan, Syria, Các Tiểu Vƣơng quốc Ả-rập Thống nhất (UAE) và Yemen. Theo phân loại dựa trên cơ sở địa - chính trị - kinh tế của Ngân hàng Thế giới (WB), khu vực Trung Đông bao gồm 6 nƣớc trong Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh - GCC (Arab Saudi, Bahrain, Qatar, UAE, Kuwait, và Oman) và các nƣớc Jordan, Iran, Iraq, Israel, Libya, Malta, Palestine, Syria, Yemen. Trong khuôn khổ tài liệu này, với trọng tâm là nghiên cứu về an ninh - chính trị, nên khu vực Trung Đông đƣợc tính bao gồm 14 quốc gia và vùng lãnh thổ là thuộc khu vực Tây Á: Arab Saudi, Bahrain, Qatar, Các Tiểu Vƣơng quốc Ả-rập Thống nhất (UAE), Kuwait, Jordan, Iran, Iraq, Israel, Libya, Palestine, Syria, Yemen và Oman.

Khu vực Trung Đông có tổng diện tích khoảng 5,5 triệu km2, chiếm 11 khoảng 1,15% diện tích bề mặt trái đất. Đây là khu vực khô cằn, chủ yếu là các hoang mạc và sa mạc cát lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, Trung Đông là khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên, nhất là dầu mỏ và khí đốt. Tính đến giữa năm 2012, dân số khu vực Trung Đông khoảng 229 triệu ngƣời với tỷ lệ gia tăng dân số khoảng 1,9%/năm.

Các quốc gia khu vực Trung Đông đều thuộc vào một trong các mô hình thể chế nhà nƣớc nhƣ Cộng hòa Hồi giáo, Quân chủ Lập hiến hoặc Quân chủ Hồi giáo Chuyên chế. Ngoại trừ Israel, tại nhiều nƣớc Trung Đông, sự phát triển của quốc gia đều bị hạn chế bởi thể chế chính trị, nạn tham nhũng, các khoản ngân sách khổng lồ dành cho quốc phòng, cũng nhƣ sự phụ thuộc của nền kinh tế vào dầu mỏ. So với các khu vực khác, thể chế chính trị tại Trung Đông bị đánh giá là kém hiệu quả, bởi nhiều nguyên nhân nhƣ tôn giáo, xung đột, chiến tranh triền miên, nguồn lợi dầu mỏ, sự can dự của các quốc gia bên ngoài… Các nƣớc Trung Đông đều có những cơ chế và cơ quan lập pháp, nhƣng trên thực tế, các Nghị viện (Quốc hội) có rất ít thực quyền. Quyền lực tập trung chủ yếu vào các cơ quan hành pháp, gồm Nhà vua (Quốc vƣơng), Tổng thống (hoặc Thủ tƣớng) và các Bộ trƣởng.

Trung Đông là khu vực giàu có về tài nguyên, nhất là dầu mỏ - tài nguyên đặc biệt quan trọng, luôn chiếm vị trí chi phối nền kinh tế khu vực và đóng vai trò lớn trong nền kinh tế thế giới. Trên bản đồ dầu mỏ thế giới, Trung Đông đƣợc mệnh danh là “rốn dầu thế giới”, khi chiếm tới hơn 53,8% tổng trữ lƣợng dầu mỏ đƣợc phát hiện trên toàn cầu, tƣơng đƣơng khoảng 796,8 tỷ thùng (nhiều số liệu cho rằng, trữ lƣợng dầu mỏ của Trung Đông còn lên tới trên 66% tổng trữ lƣợng toàn cầu), trong đó các nƣớc có trữ lƣợng dầu mỏ lớn đã đƣợc phát hiện nhƣ Arab Saudi (khoảng 18%, tƣơng đƣơng 165,5 tỷ thùng); Iran (10,4%, tƣơng đƣơng 155 tỷ thùng); Iraq (9,5%, tƣơng đƣơng 141 tỷ thùng)… Cùng với dầu mỏ, nguồn khí đốt của Trung Đông cũng chiếm 12 một vị trí quan trọng trên bản đồ chính trị và kinh tế thế giới. Theo số liệu tính toán của Tổ chức các nƣớc Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC), tính đến cuối năm 2011, trữ lƣợng khí đốt đƣợc phát hiện của khu vực Trung Đông vào khoảng 79. Các quốc gia có trữ lƣợng khí đốt lớn là Iran (khoảng 33.620 tỷ m3), Qatar (khoảng 25.100 tỷ m3), Arab Saudi (khoảng 8.200 tỷ m3)1 Trung Đông cũng là khu vực sản xuất tới 32,6% sản lƣợng dầu thô của thế giới mỗi ngày (tƣơng đƣơng khoảng 23 triệu thùng/ngày).

Trong năm 2011, mỗi ngày Trung Đông xuất khẩu đến 19,7 triệu thùng dầu (đa số là dầu thô) và chiếm tới 36,2% tổng lƣợng dầu xuất khẩu của toàn thế giới. Trên thị trƣờng khí đốt tự nhiên, Trung Đông cũng là khu vực đứng thứ 3 về sản xuất khí đốt tự nhiên. Năm 2011, Trung Đông sản xuất đƣợc khoảng 515 tỷ m3 khí đốt, chiếm 15,4% tổng sản xuất khí đốt tự nhiên của thế giới.2 Về địa kinh tế, Trung Đông đƣợc mệnh danh là “rốn dầu của thế giới”, đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong đảm bảo nguồn cung năng lƣợng cho nền kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Mỹ nói tiêng. Theo Báo cáo hàng năm của Tổ chức Dầu lửa Thế giới (OPEC; 2012), đến năm 2011, trữ lƣợng dầu lửa đã thăm dò của toàn khu vực Trung Đông chiếm tới 54% tổng trữ lƣợng toàn cầu; trữ lƣợng khí đốt chiếm gần 41% tổng trữ lƣợng toàn cầu; ngành công nghiệp dầu mỏ của khu vực sản xuất 33% tổng sản lƣợng dầu mỏ và 16% tổng sản lƣợng khí đốt toàn thế giới.

Sản lƣợng dầu khí của Trung Đông chủ yếu dành cho xuất khẩu (gần 90% sản lƣợng dầu và 26% sản lƣợng khí). Trong khi đó, Mỹ là quốc gia đứng đầu thế giới về tiêu thụ dầu (năm 2011, tiêu thụ 19,2 triệu thùng dầu/ngày, chiếm 22% tổng sản lƣợng tiêu thụ thế giới), trong đó Mỹ phải nhập khẩu tới trên 56% (năm 2011 nhập khẩu 1 OPEC, Annual Statistical Bulletin 2012, http://www.org/opec_web/en/publications/202.htm 2 OPEC, Annual Statistical Bulletin 2012, Tlđd. 13 10,6 triệu thùng dầu/ngày). Lƣợng dầu nhập khẩu từ Trung Đông của Mỹ chiếm từ 15 - 20% tổng sản lƣợng nhập khẩu của Mỹ.

Chính vì vậy, ngay từ những năm đầu của thế kỷ 20, giới chức Mỹ đã khẳng định, nguồn dầu lửa của khu vực Trung Đông là món quà vô giá của lịch sử thế giới, có tầm quan trọng quyết định đến “sức mạnh chiến lƣợc” của Mỹ. Tình hình khu vực Trung Đông từ năm 1990 đến năm 2008 Từ những năm 1990 trở lại đây, kinh tế của các nƣớc khu vực Trung Đông đạt đƣợc một số tiến bộ. Trong giai đoạn 1990 - 2000, tăng trƣởng kinh tế của các nƣớc khu vực đạt mức trên 3%, trong đó một số quốc gia có mức tăng trƣởng cao nhƣ Lebanon (7,2%), Jordan (5,1%), Iran (4,2%)… Từ năm 2001 - 2008, các quốc gia Trung Đông luôn nằm trong danh sách các nƣớc có tốc độ tăng trƣởng nhanh trên thế giới, với tốc độ tăng trƣởng luôn đạt mức xấp xỉ 6%/năm. Sự tăng trƣởng nhanh này, trƣớc hết là nhờ vào việc giá dầu thế giới liên tục tăng.

Một nguyên nhân khác là nhiều nƣớc đã và đang thực hiện cải cách, chuyển đổi kinh tế sang cơ chế thị trƣờng, mở rộng trao đổi thƣơng mại thế giới, nhằm giảm bớt sự phụ thuộc của nền kinh tế vào dầu mỏ. Tuy nhiên, theo đánh giá của nhiều nhà phân tích, vài chục năm qua, do bị kìm hãm bởi các chế độ chuyên chế (trung bình, mỗi vị vua Arab nắm giữ quyền hành 20 năm) nên thế giới Arab Hồi giáo đã bị thụt lùi rất rõ. Điều này dẫn tới rối loạn về xã hội và các tầng lớp trong xã hội ngày càng thất vọng. Chỉ số phát triển con ngƣời của thế giới Arab Hồi giáo bị đánh giá rất thấp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ