CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE ĐÀO TẠO NHÂN LỰC THONG TIN 1. Một số khái niệm liên quan 1. Thông tin KH&CN Trong cuộc sống hàng ngày, ở đâu và lúc nao chúng ta cũng nghe nói đến hai từ “thông tin”, chang hạn thông tin là nguồn lực của sự phát triển, thông tin hỗ trợ việc hoạch định chính sách, thời đại ngày nay là thời đại của thông tin, thông tin quí hơn vàng, có thông tin là có tat cả. Vậy thông tin là gì? Thực tế, có rất nhiều cách hiểu về thông tin.
Thậm chí ngay trong các từ dién cũng không đưa ra một định nghĩa chính xác về thông tin. Vi dụ: Trong bách khoa toàn thư của Liên Xô xuất bản lần thứ 3, tập 10 viết “Thông tin là tin tức được truyền đi bởi con người bằng lời nói, chữ viết hoặc các phương tiện khác”. Theo từ điển Oxford của Anh, thông tin là “điều mà người ta đánh giá hoặc nói đến là tri thức, tin tức”; các từ điển khác đồng nhất thông tin với kiến thức “thông tin là điều mà người ta biết” hoặc “thông tin là sự chuyền giao tri thức làm tăng thêm hiểu biết của con người”. Thuật ngữ “Thông tin” theo gốc tiếng Latin “informatio” (gốc của từ hiện đại “information”) có hai nghĩa.
Một là, nó chỉ một hành động rất cụ thé tạo ra một hình dạng (forme). Hai là, tùy theo tình huống, nó có nghĩa là truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm hay một biểu tượng. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, khái niệm thông tin cũng phát triển theo. Theo nghĩa thông thường, thông tin được hiểu là các số liệu, kiến thức được tổn tại và vận động trong quá trình xử lý, lưu trữ, tìm kiếm và truyền phát.
Trong lý thuyết toán học của thông tin thống kê của C.Shannon, thông tin là số đo độ bat định (càng tăng hiểu biết về một sự vật, hiện tượng nào đó chúng ta càng làm giảm độ chưa biết hoặc độ bất định của nó). 10 Căn cứ vào đặc điểm, nội dung của tin tức, có thé chia thông tin thành các loại thông tin kinh tế, thông tin sản xuất, thông tin KH&CN. Mỗi loại thông tin đều có đặc trưng riêng, song nhìn chung chúng đều đóng vai trò quan trọng trong quá trình hoàn thiện quản lý, phát triển khoa học kỹ thuật và kinh tế. Trong tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5453-1991 nêu : “Thông tin là nội dung con người gán cho dữ liệu với các qui ước (ký hiệu) đã biết, được sử dụng trong việc trình bày chúng”.
Trong phạm vi luận văn này, khái niệm thông tin KH&CN được hiểu theo định nghĩa tại Khoản 1, điều 2 Nghị định 159/2004/NĐ-CP ngày 31/8/2004 quy định về hoạt động thông tin KH&CN, theo đó: “Thông tin KH&CN là các dữ liệu, số liệu, dữ kiện, tri thức khoa học va công nghệ (bao gom khoa học tự nhiên KH&CN, khoa học xã hội và nhân văn) được tao lập, quản lý và sử dụng nhằm mục đích cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước hoặc đáp ứng nhu cau của tổ chức, cá nhân trong xã hội” Như vậy, thông tin KH&CN không chi bó hẹp trong phạm vi thông tin về khoa học tự nhiên, KH&CN mà còn bao gồm cả thông tin trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Vai trò cua thông tin KH&CN Từ vài thập kỷ qua, cùng với hai yếu tố năng lượng và nguyên liệu, thông tin KH&CN đã được coi là nguồn lực thứ 3, một dạng đặc biệt quan trọng, có vai trò to lớn trong việc thúc đây phát triển mọi quá trình xã hội và hoạt động kinh tế - xã hội của con người. Thông tin KH&CN được coi là hàng hóa đặc biệt vì khi sử dụng, chúng không những không mat đi mà giá trị của chúng càng được nhân lên và hiệu quả chúng mang lại càng tăng. Không phải ngẫu nhiên mà hiện nay người ta coi thông tin KH&CN là yếu tô nền tảng của kinh tế tri thức.
Đặc biệt, ở các nước phát triển, vị trí hàng đầu trong số các nguồn lực đã nhường lại cho thông tin và tri thức. Quan niệm chung về thông tin KH&CN đã thay đổi từ chỗ coi việc đầu tư cho thông tin KH&CN là đầu tư vì phúc lợi xã hội chuyển thành đầu tư cho sự phát triển. 11 Bản thân khái niệm thông tin được xác định như sự thủ tiêu độ bất định đã chứa đựng ý nghĩa về trật tự, kinh tế và hiệu quả. Vai trò của thông tin KH&CN trong việc phát triển kinh tế xã hội, theo các nhà nghiên cứu, được thê hiện qua các đặc tính sau: + Thông tin KH&CN không những là tài nguyên để phát triển kinh tế mà còn có thé thay thế một phan các tài nguyên truyền thống (lao động, nguyên liệu, năng lượng, tài chính, .) + Thông tin KH&CN giúp tối ưu hóa hoạt động KHKT, sản xuất dẫn đến thay thế các nguồn tài nguyên vật chất (cổ điển) bang các nguồn tài nguyên phi vật chat (thông tin).
Chi phí cho thông tin rất nhỏ bé so với hiệu quả mà chúng mang lại. + Khoa học trở thành động lực phát triển chỉ theo mức độ chuyển hóa tiềm năng sáng tạo của nó thành thông tin. Không thé phủ nhận vai trò quan trong của thông tin KH&CN đối với lĩnh vực nghiên cứu khoa học nói riêng và sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Tuy nhiên, vai trò cua thông tin KH&CN, xét ở khía cạnh khác, cũng vô cùng quan trọng.
Thật vậy, chúng ta đang sống trong thời kỳ mà người ta hay gọi là “bùng nỗ thông tin” hay “khủng hoảng thông tin”. Hiện tại, trên toàn thế giới, chỉ tính riêng lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật, hàng năm cho ra đời khoảng 5 van tạp chí với 4,5 triệu bài báo, 110 nghìn cuốn sách, 30 vạn bản mô tả sáng chế, phát minh, 25 vạn báo khoa học và thiết kế thử nghiệm, nửa triệu catalog công nghiệp. Khối lượng các tài liệu này, cứ sau chu kỳ 10 đến 15 năm lại tăng gấp đôi. Tuy nhiên, do không kiểm soát được thông tin và xử lý thông tin kém, các công trình nghiên cứu, thiết kế trùng lặp nhau làm lãng phí từ 40% đến 70% tổng kinh phí đầu tư cho khoa học trong những năm 70.
Theo ước tính của Viện sỹ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô S.R Miculinxki, nếu chỉ hợp lý hóa làm giảm đi 50% số thời gian của các nhà khoa học Xô Viết đang bỏ ra để tìm kiếm thông tin thì đội ngũ các nhà khoa học Liên Xô sẽ tăng thêm 125 nghìn người. 12 Nói cách khác, nêu làm tốt công tác thông tin KH&CN thì hàng năm thé giới không phải lãng phí từ 40 - 70% kinh phí dành cho nghiên cứu khoa học do sự trùng lắp của các đề tài, công trình nghiên cứu. Các nhà khoa học sẽ dành thời gian nhiều hon dé nghiên cứu các van đề thực sự mới và cần thiết, những công trình mà chưa ai nghiên cứu. Qua đó, tính hiệu quả của các đề tài cũng được nâng lên.
Nhân lực thông tin KH&CN Nhân lực thông tin KH&CN được hiểu bao gồm những người đang trực tiếp làm công tác thông tin tại các cơ quan, tổ chức tiễn hành hoạt động thông tin KH&CN và những cá nhân đang được đảo tạo nghề thông tin tại các cơ sở dao tạo đại học, cao đăng, trung cấp .dé trở thành cán bộ thông tin về sau. Loại thứ nhất, nhân lực hiện dang lam công tac thông tin KH&CN, theo quy dinh tai diéu 12, muc 2 Nghị định 159/2004/NĐ-CP, bao gồm: + Cá nhân có đăng ký kinh doanh, đăng ký nghề tư vấn mà trong hoạt động nghề nghiệp được phép tổ chức cung cấp dịch vụ thông tin KH&CN theo qui định tại nghị định này. + Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thực hiện nhiệm vụ thông tin KH&CN theo chuyên môn, nghiệp vụ được cấp có thâm quyền được giao. Ở Việt Nam, các cá nhân có đăng ký kinh doanh, hoạt động độc lập trong lĩnh vực thông tin KH&CN còn ít, chủ yếu là các cán bộ khoa học kiêm nhiệm.
Do vậy, luận văn chỉ tập trung chủ yếu vào phân tích chính sách đào tạo, bồi dưỡng đối với các cán bộ thông tin thực hiện nhiệm vụ thông tin trong các cơ quan thông tin KH&CN thuộc Hệ thống thông tin KH&CN quốc gia, là đối tượng chủ yếu của nguồn nhân lực này. Loại thứ hai, các sinh viên đang được đào tạo dé trở thành cán bộ thông tin trong tương lai. Ở Việt Nam hiện có 1 trường Đào tạo tiến sỹ thông tin thư viện, 3 trường Dai học dao tạo thạc sỹ thông tin thư viện, 8 trường dao tạo can bộ thông tin thư viện ở bậc cử nhân, 4 trường đảo tạo ở bậc cao đăng, trung cấp với số lượng với số lượng sinh viên ra trường lên đến hàng nghìn người mỗi năm. 13 Đây là nguồn nhân lực bổ sung, kế cận rất quan trọng và quyết định sự phát triển hoạt động thông tin nói chung và thông tin KH&CN nói riêng.
Do vậy, khi nghiên cứu về chính sách đào tạo nhân lực thông tin không thé không dé cập đến chính sách dao tạo nguồn nhân lực tương lai quan trọng này. Vai tro của can bộ thông tin KH&CN Sự thành công hay thất bại của bất kỳ hoạt động nào, suy cho cùng, là do con người quyết định. Hoạt động thông tin KH&CN cũng vậy, muốn hoạt động thông tin được hiệu quả thì tin tức phải đến được với người có nhu cầu thông tin, từ đó thông tin mới phát huy được tác dụng và mới trở thành nguồn lực phát triển. Chăng hạn, thông tin về một giống lúa mới cho năng suất cao nếu không truyền đến được với người nông dân thì nó sẽ không có tác dụng.
Ngược lại, nếu người nông dân được tiếp cận được thông tin này thì họ sẽ nhanh chóng áp dụng vào sản xuất tạo ra năng suất cao, đóng góp vào sự phát triển kinh tế. Khi đó thông tin sẽ phát huy tác dụng và trở thành nguồn lực cho sự phát triển. Người đứng ra làm cầu nối giữa nguồn tin KH&CN và người dùng tin không ai khác chính là cán bộ thông tin. Do vậy, vai trò này của cán bộ thông tin là rất quan trọng.
Nếu cán bộ thông tin làm tốt vai trò này tức là góp phần quan trọng vào sự phát triển KH&CN chung của đất nước. Đặc biệt với Việt Nam hiện nay, một nước đang tiến hành CNH đi đôi với HĐH đất nước, thì nguồn tin KH&CN trong nước và trên thé giới được Nhà nước đặc biệt quan tâm.