CHƯƠNG 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN, KINH NGHIỆM THUC TIEN VE CHÍNH SÁCH VÀ THUC THI CHÍNH SÁCH BẢO HIẾM HƯU TRÍ TU NGUYEN CHO LAO ĐỘNG PHI CHÍNH THỨC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ngoài nước Cho tới nay, đã có nhiều nghiên cứu về thực trạng bao phủ của hệ thống bảo hiểm hưu trí tới lao động KVPCT và đề xuất các giải pháp, đặc biệt là ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. Nghiên cứu của Goursat và Pellerano (2016) về bảo hiểm hưu trí cho KVPCT ở Zambia cho thấy, tỷ lệ bao phủ của bảo hiểm hưu trí ở nước này còn rất thấp và chủ yếu là dành cho lao động khu vực chính thức.
Các nguyên nhân chủ yếu của thực trạng này là do lao động thường xuyên thay đổi công việc và thu nhập, khuôn khổ pháp luật còn thiếu và yêu, khả năng đóng góp của lao động và doanh nghiệp còn hạn chế do chỉ phí sản xuất cũng như chi phí tuân thủ còn cao; kiến thức hiểu biết pháp luật về bảo hiểm hưu trí tự nguyện còn yếu; sự tin cậy với thể chế của chính phủ chưa cao; và việc tuân thủ pháp luật còn thấp. Pháp luật có liên quan tới an sinh xã hội nói chung và bảo hiểm hưu trí tự nguyện nói riêng đã được mở rộng, nhưng dường như lao động phi chính thức bị lãng quên. Nghiên cứu về Rwanda, Ntibitura (2013) phân tích về hệ thống bao hiểm hưu trí tự nguyện của nước này. Hệ thống hưu trí tự nguyện với vai trò là hệ thống có ty lệ người tham gia, người thụ hưởng và thu/chi lớn nhất.
Tác giả cho thấy lao động trong KVPCT chiếm tới 92% lực lượng lao động của Rwanda với phần lớn công việc là tự làm hoặc kinh doanh hộ gia đình trong lĩnh vực nông nghiệp. Tỷ lệ bao phủ của hệ thống bảo hiểm xã hội ở Rwanda 4 hiện tại chỉ vào khoảng 7% tong lực lượng lao động va không có bảo hiểm hưu trí tự nguyện. Nghiên cứu cho thấy nhiều thách thức trong việc bao phủ lao động KVPCT như phan lớn lao động KVPCT có thu nhập bat thường nên việc xác định mức thu nhập dé đóng bả hiểm xã hội rất khó khăn và không tin cậy; phần lớn lao động KVPCT làm nông nghiệp nên thu nhập có tính mùa vụ và phụ thuộc lớn vào khí hậu; lao động công việc thất thường và có thu nhập thấp là yếu tổ khiến cho người sử dung lao động không muốn đăng ký với bảo hiểm xã hội; lao động ở các vùng dia ly khác nhau lại có sự khác biệt lớn về thu nhập, loại công việc nên hiệu quả của việc đôn đốc đóng góp với người lao động và người sử dụng lao động vẫn còn thấp; và chế độ hưởng và mức hưởng cho lao động KVPCT còn hạn chế, ít hơn chế độ cho người lao động khu vực chính thức. Phân tích về Sri Lanca với vị thế của một nước có mức thu nhập trung bình thấp, Rannan-Eliya (2008) cho thấy nước này đang nỗ lực mở rộng hệ thống bảo hiểm hưu trí tự nguyện sang các đối tượng lao động KVPCT: năm 1987 có chương trình bảo hiểm tỷ lệ bao phủ là gần 60%; năm 1990 có chương trình bảo hiểm hưu trí và tỷ lệ bao phủ hiện tại là gần 50%; và năm 1996 có chương trình bảo hiểm hưu trí cho lao động tự làm và tỷ lệ bao phủ hiện chỉ là gần 5%.
Phân tích của tác giả cho thấy người lao động phi chính thức (cụ thê ở đây là lao động tự làm) không mặn mà với bảo hiểm hưu trí tự nguyện là do cách tính mức hưởng không tính tới các yếu tố lạm phát, thay đổi về lương cũng như tuổi thọ của người tham gia; không có sự hỗ trợ của chính phủ với những người có thu nhập rất thấp; và hiệu quả quản lý hành chính cũng như năng lực kỹ thuật của hệ thống còn rất yếu khiến nhiều đối tượng không tham gia được. McKellar (2009) phân tích về thực trạng tham gia bảo hiểm hưu trí tự nguyện ở các nước Châu Á và chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu cũng như đề xuất chính sách. Phân tích ở Ấn Độ cho thấy nước này có tới 369 triệu người 5 (chiếm hơn 90% lực lượng lao động) là lao động phi chính thức. Hệ thống hưu trí mới (NPS) được thành lập vào đầu năm 2003 dé thu hút nhóm đối tượng lao động này nhưng tỷ lệ bao phủ thay đổi rất chậm (chỉ 3% lực lượng lao động) mà nguyên nhân chính là do các quy định rất ngặt nghèo về đóng, hưởng và tham gia hoặc rút khỏi hệ thống.
Phân tích cho Thái Lan, nghiên cứu này cho thấy nước này có một hệ thống BHXH đa tầng với mục tiêu đảm bảo thu nhập cho các đối tượng tham gia. Mặc dù vậy, tỷ lệ bao phủ BHXH với lao động phi chính thức mới chỉ ở mức 30%. Nguyên nhân chủ yếu là do mức hưởng dự kiến với lao động khu vực này là rất thấp và mức độ bền vững tài chính của hệ thống không cao do quy định đầu tư ngặt nghèo và rủi ro lựa chọn đối tượng tham gia đồng đóng góp với chính phủ cho hệ thống. Trung Quốc có tỷ lệ lao động phi chính thức vào khoảng gần 70%.
Trong 5 năm gần đây, chính phủ nước này mở rộng diện bao phủ BHXH (trong đó có bảo hiểm hưu tri) cho các đối tượng này. Phân tích của McKellar (2009) va Guo (2016) cho thấy tỷ lệ bao phủ BHXH trước năm 2009 đạt mức rất thấp và tăng chậm mà nguyên nhân chủ yếu là do khả năng đóng góp của lao động phi chính thức thấp cũng như quy định ngặt nghèo liên quan tới việc có thể chuyên đóng góp BHXH từ tinh/thanh phố này sang tỉnh/thành phố khác. Tuy nhiên, việc áp dụng cách thức đồng đóng góp giữa chính phủ và người lao động đã làm tỷ lệ bao phủ của hệ thống BHXH nông thôn tăng lên nhanh chóng và đạt mức hơn 70%. Dù vậy, phân tích của Guo (2016) chỉ ra rằng tỷ lệ bao phủ hiện nay lại có xu hướng tăng chậm là do mức đồng đóng góp từ chính phủ quá thấp, trong khi mức hưởng kỳ vọng cũng rất thấp và người lao động chỉ được thụ hưởng sau một thời gian đóng góp ít nhất 20 năm.
Các nghiên cứu về Việt Nam Cũng giống như nhiều nước có mức thu nhập trung bình ở trên, Việt Nam đang chứng kiến sự thay đổi nhanh chóng của lực lượng lao động (tăng trung 6 bình 1-1,2 triệu lao động mới/năm), sự dịch chuyên lao động theo quy mô lớn từ nông thôn tới thành thị, sự biến đổi của nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp sang công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Lao động phi chính thức ở Việt Nam chiếm khoảng 60% lực lượng lao động và phần lớn chưa/không tham gia BHXH (UNFPA-ILO, 2014). Do đó, việc mở rộng hệ thống BHXH tới nhóm lao động này cũng hết sức cần thiết. Tuy thế, cho tới nay cũng chưa có nhiều nghiên cứu sâu sắc về vấn đề này.
Phân tích của McKellar (2009) cho thấy hệ thông BHXH mới chi bao phủ khoảng 16% lực lượng lao động (và gần đây thì báo cáo của Bộ LD-TB&XH cho thấy, tỷ lệ mới đạt khoảng 26% vào năm 2016) và phần lớn là lao động chính thức tham gia theo cơ chế bắt buộc. Nhiều lao động có thu nhập thấp không thé đóng góp trừ khi họ được hé trợ (toàn bộ hoặc một phan); người lao động chỉ được hưởng sau 20 năm đóng góp và nếu số năm ít hơn thì buộc phải đóng mức cao nên người có thu nhập thấp lại không thể tham gia; không có sự liên thông cụ thể giữa hệ thống bắt buộc với hệ thống tự nguyện nên việc lao động dịch chuyên khi xét về quyền BHXH là khó khăn; và hệ thống tự nguyện chỉ có hai chế độ (hưu trí và tử tuất), trong khi hệ thong bắt buộc có sáu chế độ mà để tham gia thì người lao động ở hai chế độ này cần có mức đóng góp như nhau. Nghiên cứu của Trần Văn Luận (2013) cũng chi ra những yếu tố tương tự như trên. Tuy nhiên, tác giả nhân mạnh vào van đề hiệu quả thực thi chính sách và công tác tuyên truyền còn rất yếu là những lý do chính khiến lao động phi chính thức không thực sự quan tâm tới việc tham gia bảo hiểm hưu trí tự nguyện.
UNFPA-ILO (2014) phân tích về việc xây dựng hệ thống hưu trí — một trụ cột quan trọng nhất của hệ thống BHXH - cho lao động KVPCT. Theo nghiên cứu này, lao động phi chính thức đang tham gia hệ thống BHXH một cách hạn chế là do các quy định ngặt nghèo về mức đóng góp, thời gian đóng góp, quy 7 định về việc rút lui khỏi hệ thống. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để tăng cường và khuyến khích lao động KVPCT tham gia như xây dựng một sàn an sinh xã hội có sự lồng ghép giữa hệ thống trợ giúp xã hội với bảo hiểm xã hội dé đảm bảo thu nhập tối thiêu cho mọi tầng lớp lao động. Việc tổng quan các tài liệu trên cũng cho thấy còn một số vấn đề cần được tiếp tục được nghiên cứu.
Các nghiên cứu nói trên, đặc biệt là các nghiên cứu cho Việt Nam, thường phân tích chung cho toàn bộ hệ thống với đề xuất mang tính khung lý luận hơn là phân tích chi tiết những tác động có thé có trong việc mở rộng bao phủ chương trình bảo hiểm hưu trí tự nguyện đến lao động phi chính thức (như các yếu tố tác động: chi phí tài chính cần thiết nếu chính phủ thực hiện hỗ trợ qua đồng đóng góp. Đây chính là khoảng trống nghiên cứu cả về mặt khoa học và thực tiễn chính sách đòi hỏi cần có một nghiên cứu về chương trình bảo hiểm hưu trí tự nguyện đến lao động phi chính thức và trên cơ sở đó đề xuất các chính sách nhằm đảm bảo an sinh xã hội cho nhóm dân số này ở Việt Nam. Như phan tổng quan nghiên cứu cho thấy, cho đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào được công bố nghiên cứu một cách tổng thé ở Việt Nam dé đưa ra câu tra lời cho những van dé còn dé ngỏ ở trên. Vì vậy, đề tai này sẽ nghiên cứu những tác động có thể có trong việc mở rộng bao phủ chương trình bảo hiểm hưu trí tự nguyện đến lao động phi chính thức, từ đó có những giải pháp hiệu quả nhằm hoàn thiện chính sách liên quan tới bảo hiểm hưu trí tự nguyện cho lao động phi chính thức ở Việt Nam.