Chương 1. Chính quyền Đại Việt trong các thế kỷ XI-XVIII Ì. Các chỉnh sách chính trị - quân sự- ngoại giao 1. Thời Lý - Trần- Hồ (thể kỹ XI-XIV) Thời Lê sơ (thé ky XV) 1.3 Thời kỳ Nam— Bắc phân tranh (thể kỷ XVI-XVIH), 2.
Các chính sách kinhtế - văn hóa - xã hội 3. ThờiLý - Trần - Hồ (thế kỹ XI-XIV) 2. Thời kỳ Nam - Bắc phân tranh (thể kỷ XVI-XVIII) Chương2. Quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế ký XI-XV: 1.
Vùng đất phía nam của Đại Việt 1.2, Thủy Chân Lạp. Hoạt động quân sự- ngoại giao của Đại Việt 2. Thời Lý- Trần- Hồ (thể kỹ XI-XTV) 2. Công cuộc di dân, khai khân đắt đai và vai trò của nhà nước 'Chương 3.
Quá trình mở rộng lãnh thé về phía nam trong các thể kỹ XVI-XVIIL 1. Nguyễn Hàng và con đườngvề phương Nam 2. Hoạt động quân sự, ngoại giao của chính quyền Đảng Trong 3. Việc di dân, khai khân đất dai va vai trỏ của nhà nước 3.
Chúa Nguyễn và vùng đất Thuận Quáng 3. Hôn nhân giữa vua Chân Lạp, vua Chăm Pa và công nương Đại Việt 3. Lương Văn Chánh và vùng đất Phú Yên Khô luận tốt nghiệp Trang? Chính quyên Đã Việt và quá Š phía nam trong các thể kỳ XI-XVIII 3. Chúa Nguyễn và trần Thuận Thành 3.
Nguyễn Hữu Cảnh và vùng đắt Đồng Nai - Gia Dịnh 3. Di dân người Hoa trên đất Nam Bộ 3. Mạc Cứu và ving đất Hà Tiên 3.2, Trần Thượng Xuyên và vingdit Cũ Lao Pho 3.3, Dương Ngạn Dịch vả vùng đắt Mỹ Tho. Qué trình đâu tranh giữ gin và bảo vệ vũng đất mới Khóa luậnốt nghiệp Trang 8 “Chính quyền Dại Việ vã quả trình mớ tông lãnh thổ về phía nam trong các thể kỳ XI-XVHI ChươngÏ CHÍNH QUYỀN ĐẠI VIỆT TRONG CAC THE KY XI-XVIIL 1.
Các chính sách chính trị - quân sự - ngoại giao 1. Thời Lý - Trần - Hồ (thể kỷ XI-XIV). Vẻ chính trị ‘Thé ky X đánh dấu một mốc son trong lịch sử dântộc ta. Năm 938, Ngô Quyền đánh thẳng giặc Nam Han trên sông Bạch Đăng, cham đứt gần một ngân năm bị phong kiến phương Bắc đô hộ, khôi phục nền tự chú.
Dân tộc ta bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ xây dựng, phát triển và bảo vệ quốc gia quân chủ độc lập thống nhất "Trong các thể kỹ X-XV, nước Đại Việt phát tin và hưng thịnh, trở thành một nước hùng mạnh trong khu vực. Bộ máy hành chính tử trung ương tới địa phương ngày càng được hoàn thiện và củng cố, Bộ máy nhà nước trung ương tập quyền ngày càng được hoàn thiện qua các. triéu dai phong kiến Lý, Trần, Hồ và đạt tới mức hoàn chỉnh dưới thời Lê sơ. Trong, giai đoạn từ thời Lý (1009-1225) đến thời Hỗ (1400-1407), trong bộ máy nhà nước, Vai trò của tầng lớp quỷ tộc ngày càng quan trọng.
Thời Lý, vua là người nắm mọi quyền hành. đứng sau các đại thần là đội ngữ quan lại gồm hai ban văn và võ. Ban Van có thượng Thư, Tả Hữu Tham Tri, Phủ Sĩ Sư.Ban Võ có Đô Thống, Nguyên Soái, "Tổng Quản. cả nước được chia là 24 lộ, dưới lộ là các phủ, châu, huyện, xã.
Tại các lộ, phủ, huyện xã đều có đặt các chức quan cai quản. Các vùng miễn núi đều nhận. được sự quan tâm và chú trọng của triều đình vì đây là nơi có vị trí chiến lược trong việc đuy trì, én định biên cương của đắt nước. Tại những nơi này, các chức quan cai quản được giao cho các tù trưởng địa phương nắm giữ, theo chế độ cha truyền con nồi.
Dưới triều Trần (1225-1400), hệ thống hành chính của nước ta đã tương đối hoàn chỉnh, tình hình trong nước ổn định, nhân dân có cuộc sống đầy đủ, ắm no. Khối đại đoàn kết dân tộc được củng cô vững chắc. Thời kỳ này, nha Trin da cho hợp các lộ. nhỏ lại, chỉa cả nước thành 12 lộ.
Bộ máy nhà nước được tổ chức giống Nhà Lý nhưng. quy củ và chặt chẽ hơn, hoàn thiện hơn với cơ cấu các cơ quan chức năng như Bộ, Các, Sanh, C trong đó quý tộc họ Trần nắm những chức vụ quan 1225, vua Lỷ Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, (1009-1225) đến đây chắm dứt, một triều đại mới được thành lập- triều đại Nhà Trin (1225 — 1400). Nhà Trần vừa được thành lập đã gặp phải rắt nhiều khó khăn. nhất là tỉnh hình loạn lạc thời cuối Lý.
Với tải năng của Trân Thủ Độ cùng các tướng lĩnh. vua ‘quan nhà Trần đã dân dep yên được các cuộc nỗi loạn. Đắt nước bước vào giai đoạn thái bình, phát triển thịnh vượng Sức mạnh của quốc gia và khối đoàn kết toàn dân đã làm nên những chiến thắng oanh liệt trước quân xâm lược Mông Nguyên, cũng cổ được chính quyền vững, mạnh. Nhưng vào cuối triều Trằn, thời các vua từ Trần Dụ Tông trở đi.
đời sống nhân. dân không được chăm lo cải thiện, nạn đói do thiên tai mắt mùa thường xuyên xảy ra Các cuộc nỗi đậy đấu tranh của nông dân nỗ ra nhiều nơi trong cả nước. Tiêu biểu là Khóa luận tốt nghiệp, Trang 9 Chính quyén Dai Viet và quá tình mở rồng tinh thả về phía nam trong các thể ký XI-XVIII các cuộc khởi nghĩa của Ngô Bê ở vùng Hải Dương (1344-1360). cuộc nội diy do Te phát động ở vùng Lạng Sơn năm 1354.
cuộc nổi dậy do Ngô Bỏ chỉ huy ở ving Bac Giang năm 138. cuộc nỗi day của Hỗ VỆ ở vùng Nghệ An năm 1381.v Cuối thế kì XIV, triều đại nhà Trần bắt đầu suy yếu, các vị vua lúc nảy không côn được anh minh như thuở đầu, đời sông nhân dân khỏ cực vì quan lại tham những, lộng hành. Thang 3 năm 1400, Hé Quy Ly sau một quá trình chuẩn bị lực lượng, nhữ vào quan hệ ngoại thích với vua Trần. đã giảnh ngôi vua, tự lập hoảng dé.
Triều Hỗ được dựng lên. Hỗ Quý Ly đổi gọi nước ta là Đại Neu. Tôn tại chưa đây 7 năm, cuộc khang chiên của nhà Hỗ chống quân xâm lược bị thất bại, nước ta lại rơi vào ách đô hộ của chế độ phong kiến nhà Minh. Trong thời Lý-Trắn-Hồ, các bộ luật được biên soạn và ban hành, thể hiện vai trỏ cái trị, quản lý của nhà nước phong kiến Dại Việt.
Bộ luật /finh Thư thời nhà Lý, bộ Quốc tiễu thông chế và Hình luật thời nhà Trần, bộ Đại Nạu hình luật và Đại New .guan chế thời Hồ ra đời phản ánh sự phát triển của các triều đại phong kiến ở nước ta bấy giờ. Luật pháp là cơ sở, công cụ để các triểu đại duy trì và bảo vệ quyền lực của „Sự ôn định của đất nước là điều kiện quan trong để phát triễn nền kinh tế, xã hội của đất nước, Cuộc sống của nhân dân ngày cảng được no đủ, dit nước ngày một hưng thịnh, lớn mạnh. là giai đoạn các triểu đại Lý, Trần, Hỗ rắt quan tâm và chú trọng đến việc bình Ổn các vùng đắt sinh sống của người dân tộc thiểu sổ, nhất là ở những vùng biên cương phía Bắc, nhằm ổn định tình hình đất nước, bảo vệ biển giới lãnh thd. Tại những vùng xa xôi này, bộ máy chính quyền của nhà nước vẫn chưa ảnh hưởng sâu đậm và chưa chỉ phối được bộ máy hành chính địa phương.
Chính quyền ở các châu, " rện miễn núi thực tể vẫn nằm trong tay ting lop thông trị người địa phương. Các triéu vua phong kiến Đại Việt đã dùng những chính sách đôi lúc "mềm đẻo” qua các. cuộc hôn nhân, nhượng bộ quyền lợi tại địa phương cho họ. Tiêu biểu như.
Lý Công Uần gả con gai cho tù trưởng động Giáp ở Lạng Châu là Giáp Thừa Quý. Thừa Quý đã đổi ra họ Thân và được làm châu mục Lạng Châu. Con Thừa Quý là Thân ‘Thigu Thai nổi cha tiếp tục làm châu mục Lạng Châu và năm 1029 lấy công. ae Binh Duong.
con Ly Thái Tông”. Nhưng cũng cương quyết trong việc rằng bude ting lop thống tị miễn núi và lúc cẳn thiết cũng phải dùng biện pháp trấn áp bảng lực lượng quân sự để bảo vệ sự thống nhất, bình yên cho đất nước. Trong mỗi triều. đại, đã xảy ra nhiều cuộc nổi dây đấu tranh của các tù trưởng dân tộc ít người.
Tiêu biểu là cuộc nỗi diy ciia Ning Tri Cao, Ning Tén Phúc thời Lý. Nhờ đỏ mà vùng đất biên cương của đất nước được duy trì ôn định, góp công lớn vào các cuộc đầu tranh chồng ngoại xâm của dân tộc ta Về quản “Quân sự là một lĩnh vực quan trọng đối với mỗi triều đại phong kién, là công cụ để duy trì ôn định trong nước, bảo vệ đắt nước khi giặc ngoại xâm. Các triều đại phong. kiến ở nước ta trong giai doạn này chú trọng quan tâm và xây dựng cho mình một lực Trường Hũu Quỳnh, Phan Dai Doàn, Nguyễn Cánh Minh, Đại ương ch sự iệr Xem (ập 1.
Nhà xuất bản Giáo dục, 200%, tr 132 Khóa luận tốt nghiệp. ‘Trang 10 Chính quyền Đại Việt và quả trình mở rồng lãnh thô về phia nam trong các thể kỳ XI-XVHHL lượng quân đội mạnh. để có thẻ bảo vệ bin cương. lãnh thỏ của đất nước.
Quin đội côn là công cụ để nhà nước duy trì và bảo vệ quyền lợi của mình, đàn áp lại những cuộc nổi loạn trong dân chúng. Trải qua các triều đại, lực lượng quản đội của các triểu đại ngây cảng được tỏ chức có quy mồ, hoàn chỉnh trong công tác huẳn luyện va trang bị vũ khi. Cùng với việc chăm lo phát triển kinh tế đắt nước, các triễu đại Lý — Trắn - Hỗ cũng rất quan tim đến việc xây dựng và phát triển lực lượng quân đội. nhằm mục đích để duy trì hỏa bình, an ninh trong đắt nước và chống lại những cuộc chiễn tranh.
xâm lược từ bẻn ngoải. Đó cũng là công cu dé tran áp những cuộc nổi diy trong nhân dân, Các hoàng dé đã biết kế thừa từ kinh nghiệm xây dựng lực lượng quân sự trong các triều đại trước. đồng thời cũng nghiên cứu và học tập binh chế của Trung Quốc, nhằm xây dựng cho mình một lực lượng quản sự hùng mạnh. quản đội được chia làm 4 bộ phận, bao gồm: Thiên tử quân, quân các Lộ.
quản vương hầu và dân binh. Để xây dựng quân đội nhà Lỷ thực hiện chế độ nhân. đình trong khắp cả nước, thực hiện chính sách “Agụ Bini tự nởng”. Quân đội gồm đủ cả bổn binh chủng: bộ binh, thủy binh.
tượng bình va ki bỉnh. trong đó bộ binh và thủy bình có số lượng đông nhất “Thời Nhà Trin, quân đội gồm hai bộ phận: cắm quân và quân các lộ.