CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về chi Launaea 1. Vị trí phân loại Vị trí phân loại của chi Launaea trong giới thực vật [1] theo “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” như sau: Giới: Thực vật (Plantea) Ngành: Ngọc Lan (Magnoliophyta) Lớp: Ngọc Lan (Magnoliopsida) Bộ: Cúc (Asterales) Họ: Cúc (Asteraceae) Chi: Launaea 1. Một số loài thuộc chi Launaea được tìm thấy trên thế giới Hiện nay người ta đã tìm thấy và định danh khoảng 50 loài thuộc chi Launaea.
Các loài thuộc chi thực vật này được liệt kê theo Bảng 1.1: Một số loài thuộc chi Launaea trên thế giới STT Tên khoa học STT Tên khoa học Launaea acaulis (Roxb. Launaea mucronata (Forssk. ex Kerr Muschl. Launaea amal-aminiae N.
Launaea nana (Baker) Chiov. Launaea angustifolia (Desf. Launaea arborescens (Batt.Kilian Launaea benadirensis Chiov. Launaea bornmuelleri (Hausskn.
Launaea piestocarpa (Boiss. Launaea brunneri (Webb) Amin Launaea popovii Krasch. ex Boulos 2 Launaea cabrae (De Wild.) Launaea procumbens (Roxb.Kilian Ramayya & Rajagopal Launaea capitata (Spreng.Kilian Launaea cervicornis (Boiss.) Launaea pumila (Cav. Font Quer & Rothm Launaea cornuta (Hochst.
ex Launaea quercifolia (Desf. Launaea crassifolia (Balf.) Launaea rarifolia (Oliv.Jeffrey Hiern) Boulos Launaea fragilis (Asso) Pau Launaea rogersii (Humbert) 13. Humbert & Boulos Launaea gorgadensis (Bolle) Launaea rueppellii (Sch. & Hiern) Amin ex Boulos Launaea hafunensis Chiov.
Launaea sarmentosa (Willd. et Chun* Launaea intybacea (Jacq.Kilian Launaea spinosa (Forssk. Kuntze Launaea lanifera Pau Launaea taraxacifolia (Willd. Launaea microcephala Hook.
Launaea viminea (Batt. Phân bố Launaea là một chi nhỏ của họ Cúc (Asteraceae) gồm khoảng 50 loài, hầu hết đều thích nghi với môi trường sống khô, mặn và cát [36]. Chi Launaea phân bố chủ yếu ở Nam Địa Trung Hải, Châu Phi và Tây Nam Á và đặc biệt, rất phổ biến ở các khu vực Bắc Phi [20]. Ở Việt Nam có một số loài thuộc chi này, phân bố ở vùng ven biển và các đảo lớn, từ Quảng Ninh, Hải Phòng vào đến Đồng Nai, Bến Tre.
Tổng quan về loài Launaea sarmentosa (Willd. Danh pháp Danh pháp của Sa sâm nam theo “Cây thuốc và Động vật làm thuốc ở Việt Nam” [1] như sau: • Tên tiếng Việt: Sa sâm nam, Cỏ chân vịt, Hải cúc • Tên khoa học: Launaea sarmentosa (Willd. et Chun • Họ thực vật: Cúc (Asteraceae) • Tên đồng nghĩa: Launaea sarmentosa (Willd. Ex Kuntze, Launaea pinnatifida Cass 1.
Đặc điểm thực vật Launaea sarmentosa (L. sarmentosa) hay còn được biết đến với cái tên Sa sâm nam là cây thảo, sống lâu năm. Cây thân leo có rễ bên mang chồi kéo dài, mỗi rễ có từ 2-3 thân. Thân mọc bò, cao khoảng 20-90 cm, phân nhánh [1, 32].
Lá mọc thành chùm, kích thước 3-8 × 0,6-1 cm, hình răng cưa thành thùy hình chùy, nhỏ dần về phía gốc, có răng cưa rõ rệt, đỉnh nhọn, tù hoặc tròn. Tận cùng lá thứ cấp xếp hình hoa thị dọc theo thân, thường có 14-18 bông hoa; với cánh hoa dài khoảng 1-3 cm. Quả sa sâm nam có rìa vảy màu trắng rõ rệt, đỉnh nhọn đến tù; bên ngoài hình con thoi hoặc hình trứng đến hình mũi mác [1, 32].2: Bản vẽ thực vật Launaea sarmentosa Hình 1.1: Hình ảnh thực tế của vào thế kỷ XIX Launaea sarmentosa 4 Rễ của L. sarmentosa có màu vàng nhạt, khi trưởng thành có màu nâu nhạt.
Rễ có mùi thơm, hơi tròn, hình trụ, xốp, ít rễ con, không có mấu và được nghiên cứu rằng có chứa alkaloid, acid amin, glycosid, tanin, cacbohydrat và steroid [32, 48]. Phân bố và sinh thái Ở Việt Nam, L. sarmentosa tìm thấy ở vùng ven biển và các đảo lớn từ Quảng Ninh, Hải Phòng vào đến Bến Tre. Cây cũng phân bố ở vùng ven biển phía nam Trung Quốc, Ấn Độ, Ai Cập và một số nơi ở châu Phi [1].
sarmentosa có phần trên mặt đất thường lụi vào mùa đông. Toàn bộ phần rễ và phần gốc sẽ mọc lên chồi mới vào mùa xuân hoặc đầu mùa hè năm sau. Cây ưa sáng, chịu được mặn; thường mọc trên bãi cát ven biển, thành từng đám hoặc rải rác thành khóm riêng rẽ. Cây ra hoa quả hàng năm; quả có túm lông thuận lợi cho việc phát tán nhờ gió [1].
Thành phần hóa học Các nghiên cứu về thành phần hóa học của L. sarmentosa được thực hiện chủ yếu trên lá và rễ của loài thực vật này [12]. Kiểm tra sơ bộ hóa thực vật cho thấy rễ cây L. sarmentosa có mặt các hợp chất thuộc nhóm alkaloid, flavonoid, triterpenoid, saponin [14]; lá có chứa steroid, alkaloid, terpenoid, đường khử, flavonoid, saponin và tannin [51] … Trong báo cáo bước đầu về thành phần hóa học của Sa sâm nam trồng tại trang trại của công ty Sa sâm việt, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre, nhóm tác giả Lê Tiến Dũng và cộng sự đã tiến hành định lượng các thành phần hóa học từ lá cây L.
Kết quả định lượng cho thấy, polyphenol chiếm 290,90 mg/g cao chiết, flavonoid 85,47 mg/g cao chiết và saponin 10,8%/trên dược liệu lá khô [12]. Hàm lượng các chất này trong Sa sâm nam ở Ấn Độ tương ứng là 179,46 mg/g và 87,46 mg/g [33]. Đến nay, chưa có nhiều nghiên cứu sâu về mặt hóa học của cây Sa sâm nam, mới chỉ có một số hợp chất được phân lập từ dược liệu này, gồm: α-amyrin acetat (1), β-amyrin acetat (2), lupeol acetat (3), Ψ-taraksasterol acetat (4), luteolin (5), 4-allyl-2,6-dimethoxyphenol glucopyranosid (6), scorzosid (7), ixerisosid D (8), 9α-hydroxypinoresinol (9) từ rễ; taraxasterol (10) được phân lập từ lá, glutenol (11), 3-O-L-rhamnopyranosyl-(13)-O-L-arabinopyranosyl(13)-O-D-galactopyranosyl spergulatriol (12) và hopenol-b (13) từ hạt [56]. 4-Allyl-2,6- dimethoxyphenol glucopyranosid 7.3: Cấu trúc của một số hợp chất phân lập từ rễ L.
Chống oxy hóa Hoạt tính chống oxy hóa của L. sarmentosa đã được nghiên cứu bằng cách đánh giá tác dụng của nó với các gốc tự do DPPH, OH•, Fe3+. Khả năng ức chế gốc DPPH của cao chiết ethanol (liều 200 μg) là 71,22%, của mẫu chứng dương BHA là 89,1%. Khả năng ức chế gốc OH• của cao chiết ethanol và nước (liều 200 μg) là 72,46% và 71,23%, cao hơn nhiều so với BHA (% ức chế là 24,26%) [33].
Trong một nghiên cứu khác, giá trị SC50 trong việc dọn gốc DPPH của cao chiết methanol của L. Những kết quả này đã chứng minh rằng Ls-ME thể hiện khả năng chống oxy hóa một cách hiệu quả [35]. Tan huyết khối, ổn định màng Ảnh hưởng của L. sarmentosa đối với quá trình ly giải cục máu đông trên lâm sàng được chứng minh trong một nghiên cứu vào năm 2016.
Người ta quan sát thấy tỷ lệ ly giải cục máu đông là 45,49% khi sử dụng 100 µl Streptokinase (30.) làm đối chứng dương tính. Mặt khác, nếu sử dụng nước là đối chứng âm, tỷ lệ ly giải 6 cục máu đông là không đáng kể (6,03%). Vì vậy, phần trăm ly giải cục máu đông phụ thuộc vào liều lượng và nồng độ. Trong đó, tại nồng độ 10mg/ml cho thấy mức ý nghĩa (p <0,001) ly giải cục máu đông cao nhất (22,57%).
[31] Hoạt động ổn định màng của dịch chiết methanol của L. sarmentosa (Ls-ME) cũng được thực hiện trong nghiên cứu này. Nồng độ cao hơn (10 mg/ml) của dịch chiết methanol của L. sarmentosa tạo ra % ức chế đáng kể quá trình tan máu tương ứng bằng dung dịch nhược trương (12,11 ± 0,037) và nhiệt (20,55 ± 0,87).
Chống viêm, giảm đau, hạ sốt Cao chiết methanol của L. sarmentosa ở các mức liều 100 - 400 mg/kg đều thể hiện tác dụng hạ sốt, giảm đau và chống viêm, tác dụng mạnh nhất ở liều 400 mg/kg. Nhiệt độ cơ thể chuột từ 38,4℃ giảm còn 36,38℃ sau 5h khi dùng Sa sâm nam ở liều 400 mg/kg, còn 35,89℃ khi dùng aspirin liều 30 mg/kg. Thời gian phản ứng đau của chuột trong thử nghiệm ngâm đuôi trong nước nóng tăng khi dùng Sa sâm nam, thời gian phản ứng khi dùng liều 400 mg/kg là 6,93 giây (khi dùng pentazocine 30 mg/kg là 7,62 giây).
Trong thử nghiệm gây đau quặn bằng acid acetic, Sa sâm nam (400 mg/kg) làm giảm số cơn đau quặn, tỉ lệ ức chế đau là 63,10% (tỉ lệ ức chế của aspirin (30 mg/kg) là 69,23%). Sa sâm nam (400 mg/kg) ức chế 32,48% độ phù chân chuột và ức chế 34,7% sự hình thành u hạt, tỉ lệ ức chế tương ứng của indomethacin là 40,13% và 63,22%. Các kết quả này cho thấy, Sa sâm nam có tác dụng hạ sốt, giảm đau, chống viêm cấp hiệu quả, gần như tương đương với các thuốc chứng dương [46]. Kháng khuẩn Một số thí nghiệm cho thấy rằng các cao chiết methanol của L.
sarmentosa thể hiện hoạt tính kháng khuẩn, chống lại cả vi khuẩn gram âm (Salmonella typhi ở nồng độ 100 µg/ml) và vi khuẩn gram dương (Escherichia coli ở nồng độ 50-100 µL, và Pseudomonas aeruginosa ở nồng độ 100 µL). Cao chiết ethanol của cây Sa sâm nam kháng trực khuẩn lao ở nồng độ 50 µg/ml [30] Nhiều bộ phận của L. sarmentosa, đặc biệt là lá, có đặc tính kháng khuẩn do sự hiện diện của tannin và flavonoid [9, 49]. Có thể đó là lý do tại sao các cao chiết 7 thô của L.
sarmentosa có hoạt động kháng khuẩn đáng kể, chống lại cả vi khuẩn gram âm và gram dương một cách đáng ngạc nhiên [45]. Các tác dụng khác Ngoài các tác dụng chính đã liệt kê ở trên, L. sarmentosa còn được nghiên cứu có tác dụng bảo vệ gan. Cao chiết ethanol 70% lá Sa sâm nam (i., 0,66 g/kg/ngày) khi sử dụng trong 7 ngày, các chỉ số chức năng gan bao gồm GOT, GPT, alkalin phosphat, glucose máu, cholesterol máu và protein tổng số của chuột bị nhiễm độc CCl4 được duy trì ở mức gần như bình thường.
Khả năng hạ men GOT, GPT, alkalin phosphat, glucose máu và protein tổng số của cao chiết này hiệu quả hơn so với thuốc chứng dương Silymarin [40]. Sa sâm nam thể hiện tác dụng ức chế enzym α-glucosidase với IC50 = 67,09 μg/ml, tốt hơn so với thuốc chứng dương acarbose (IC50 = 138,2 μg/ml). Cùng với khả năng bảo vệ gan, L. sarmentosa được cho là cây thuốc hiệu quả trong điều trị tiểu đường type 2 và các biến chứng liên quan đến bệnh tiểu đường, hạn chế tác dụng phụ của các thuốc ức chế α-glucosidase [12].
Ngoài ra, hợp chất saponin triterpen phân lập từ hạt của cây Sa sâm nam thể hiện tác dụng ức chế với nhiều chủng nấm khác nhau, bao gồm Penicillium notatum, Aspergillus fumigatus, Fusarium oxysporum và Trichoderma viride [56]. Công dụng Theo y học cổ truyền, Sa sâm nam có vị ngọt, nhạt, hơi đắng, tính mát, vào kinh phế, có tác dụng bổ, mát phổi, giảm ho, long đờm, lợi sữa, nhuận tràng, lợi tiểu. Do thuộc tính galactagogue, Sa sâm nam thường được sử dụng như một thức uống giúp lợi sữa sau khi sinh cho cả người và động vật [57]. Loại cây này chủ yếu được biết đến nhiều trong điều trị về rối loạn tiêu hóa và nhiễm trùng đường tiết niệu.
Toàn cây có hiệu quả trong bệnh viêm khớp dạng thấp, các vấn đề về khớp và bệnh gút [48]. Các chế phẩm từ lá được dân gian sử dụng để làm dịu các vết thương ngoài da.