Đặt vấn đề Trên thế giới hiện nay đang có xu hướng nghiên cứu và sử dụng các hợp chất thiên nhiên nguồn gốc từ thực vật, có hoạt tính kháng khuẩn và đặc biệt là có độ an toàn cao để thay thế cho các loại kháng sinh thông dụng đang bị đề kháng. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Việt Nam được xếp vào danh sách các nước có tỉ lệ kháng thuốc kháng sinh cao nhất thế giới (WHO, 2013). Trước tình hình lạm dụng kháng sinh nhất là trong hoạt động nuôi trồng thủy sản đã gây nên hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh, do đó việc nghiên cứu chiết xuất các hoạt chất sinh học từ thực vật đã trở thành một trong những cách tiếp cận mới thay thế cho việc sử dụng kháng sinh như hiện nay, không những hạn chế dịch bệnh cho vật nuôi, góp phần phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững mà còn an toàn cho người tiêu dùng cũng như thân thiện với môi trường sinh thái. Do vậy, hiện nay hướng nghiên cứu các chất có hoạt tính kháng khuẩn nguồn gốc thảo dược được tập trung nghiên cứu nhằm tạo ra các sản phẩm sử dụng trong phòng trị bệnh mà thân thiện với môi trường và đảm bảo an toàn thực phẩm (Cos et al., 2006; Mahesh et al.
Kháng sinh có nguồn gốc thảo dược đã và đang được nghiên cứu ứng dụng trong phòng trị bệnh (Citarasu, 2010; Nguyễn Thị Vân Thái và cs., 2003; Nguyễn Văn Thanh và Nguyễn Thanh Hải, 2014). Dịch chiết cây hoàng kỳ (Astragalus membranaceus), diệp hạ châu đỏ, diệp hạ châu xanh, bạch hoa xà có tác dụng kháng vi khuẩn Edwardsiella ictaluri gây bệnh gan thận mủ trên cá tra; dịch chiết tỏi và húng đã được thử nghiệm (Nguyễn Hồng Loan, 2010; Nguyễn Thanh Tâm và cs., 2012) trong kháng vi khuẩn Streptococus spp. gây bệnh lở loét. Dịch chiết cây chó đẻ có tác dụng kháng các chủng vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus KC12.020; Vibrio parahaemolyticus KC13.2 và Vibiro harveyi KC13.15 gây bệnh hoại tử gan tụy cấp trên tôm.
Cây sim (Rhodomyrtus tomentosa) từ lâu đã được xem là cây thảo dược có lợi ích từ gốc đến ngọn. Lá sim chứa chất rhdomyrtone có vai trò như một chất 1 kháng sinh giúp chống lại sựxâm nhập của vi khuẩn, thường được dùng để chữa đau bụng, tiêu chảy, kiết lỵ. Một số nghiên cứu ngoài nước đã khẳng định, hoạt chất chiết xuất từ sim có khả năng tiêu diệt nhiều loại vi khuẩn gây bệnh trong đó đã có những chủng vi khuẩn kháng lại nhiều loại kháng sinh (Dachriyanus et al., 2002; Deok et al., 2013; Jongkon et al., 2011; Surasak et al. Ổi là cây ăn quả phổ biến, được trồng hầu như khắp các địa phương, cả vùng đồng bằng lẫn ở miền núi, trừ vùng cao trên 1500m.
Ổi (Psidium guajava L.) chứa nhiều hợp chất phenolic ức chế phản ứng peroxid hóa trong cơ thể, do đó nó có thể ngăn chặn các bệnh mãn tính khác nhau như bệnh tiểu đường, bệnh tim mạch và ung thư. Ngoài ra, ổi rất giàu các chất chống oxy hóa, vitamin C, kali và chất xơ. Trong một số nghiên cứu, cây ổi cho thấy hoạt tính kháng khuẩn đối với vi khuẩn gây bệnh đáng kể như Staphylococcus spp., Escherichia coli, Clostridium spp. Ngải cứu cũng là một vị thuốc quen thuộc được ứng dụng rất lâu đời trong cuộc sống của người dân.
Nghiên cứu từ các tài liệu nước ngoài cho thấy lá Ngải cứu có chứa một số hợp chất có hoạt tính sinh học cao. Các chất này có khả năng kháng virus sốt vàng da, vi khuẩn Streptococcus mutans, giảm đau ngoại biên, chống sinh đột biến. Hiện nay ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu được công bố về việc sử dụng các hợp chất từ lá ổi, lá sim, ngải cứu, đặc biệt là việc sử dụng các chủng lợi khuẩn có khả năng sinh tổng hợp bateriocin để lên men với dịch chiết các loại lá giúp tăng, không làm thay đổi hoặc làm giảm khả năng kháng lại các vi khuẩn gây bệnh. Do đó, nghiên cứu này giúp khảo sát khả năng kháng khuẩn của một số dịch chiết từ lá cây ổi, cây sim, ngải cứu, từ đó tạo tiền đề để nghiên cứu sản xuất các hợp chất kháng vi khuẩn gây bệnh trên người, trên thủy sản đặc biệt là vi khuẩn đề kháng kháng sinh.
Mục tiêu chung Đánh giá được khả năng ức chế vi khuẩn gây bệnh kiểm định của một số loại dịch chiết từ lá cây sim, ổi, ngải cứu và một số chủng lợi khuẩn phân lập nhằm định hướng ứng dụng trong sản xuất các hợp chất kháng vi khuẩn gây bệnh, đặc biệt là vi khuẩn đề kháng kháng sinh. Mục tiêu cụ thể • Tách chiết được cao chiết từ một số cây thuốc có khả năng kháng khuẩn. • Chọn được ít nhất 3 chủng lợi khuẩn có khả năng sinh bacteriocin ức chế vi khuẩn kiểm định phục vụ cho lên men dịch chiết. 3 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Tổng quan về dịch chiết cây thuốc 2. Nguồn gốc và phân bố Sim còn gọi là đương lê, sơn nhậm, nhậm tử, đào kim nương. Tên khoa học Rhodomyrtus tomentosa Wight (Myrtus Tomentosa Ait., Myrtus canescens Lour. Thuộc họ Sim Myrtaceae.
Cây Sim được phân bố ở các nước thuộc Đông Nam Á, miền Nam Trung Quốc, Đài Loan, Philippines (Csurhes S. Ở Việt Nam, Rhodomyrtus tomentosa được gọi là cây Sim, là một loài cây quen thuộc ở khắp các tỉnh trung du và núi thấp. Đặc điểm thực vật Sim là một cây nhỏ cao 1-2m có khi tới 3m, cành 4 cạnh, vỏ than róc thành từng mảng. Lá mọc dối hình thuôn, hơi hẹp ở phía cuống, phía đầu tù, hơi rộng, dài 4-7cm, rộng 2-4cm, khi già thì nhẵn ở mặt trên, có long mịn ở mặt dưới, phiến là dày, mép hơi cong xuống, có 3 gân chính, cuống có lông mịn dài 4-7mm.
Hoa màu hồng tím, mọc đơn độc hoặc từng 3 cái một kẽ lá. Quả mọng màu tím sẫm. hạt nhiều hình móng ngựa (Đỗ Tất Lợi, 2006). Công dụng và các nghiên cứu trong và ngoài nước Trong lịch sử, R.
tomentosa đã được sử dụng trong y học cổ truyền Việt Nam, Trung Quốc và Malaysia để điều trị tiêu chảy hoặc kiết lỵ, cũng như kích thích hệ miễn dịch (T. Một số ghi nhận từ các nhà khoa học khi nghiên cứu cách sử dụng các dược liệu thiên nhiên của các thầy lang bản địa cho thấy, tất cả các bộ phận của cây Sim (lá, rễ, chồi, và quả) đều có công dụng chữa bệnh rất hiệu quả. Lá được sử dụng để điều trị đau bụng, kiết lỵ, áp-xe và nhiễm trùng huyết. Nó đã được ghi nhận để sử dụng để điều trị bệnh lao (Arya V., 2011), tiêu chảy colic (Ong H., 1999), xuất huyết, và bệnh phụ khoa (Wei F.
Trong y học cổ truyền Thái Lan, các bộ phận của cây được dùng làm thuốc hạ sốt, thuốc chống tiêu chảy và là thành phần trong bài 4 thuốc chống lão hóa (Chuakul W., 2005); Rhodomyrtus tomentosa được dùng để điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu trong bài thuốc của các thầy lang Trung Quốc (Wei F. Lá vò nát sắc lấy nước được dùng làm thuốc giảm đau, rễ dùng để điều trị chứng ợ nóng, hạt dùng làm thuốc hỗ trợ tiêu hóa và điều trị các vết rắn cắn; ở Indonesia, lá được sử dụng để điều trị vết thương ngoài da (Lim T. Dịch chiết etanol từ cây sim thể hiện hoạt tính kháng vi khuẩn Gram dương khá mạnh; acylphloroglucinol – một chất kháng sinh tự nhiên chống lại bệnh nhiễm khuẩn tụ cầu da được tìm thấy trong dịch chiết này (Limsuwan S. Nguồn gốc và phân bố Cây ổi còn gọi là ủi, phan thạch lựu, guajava.
Tên khoa học: Psidium guajava L. Thuộc họ: Sim Myrtaceae. Cây ổi có nguồn gốc miền nhiệt đới châu Mỹ sau được phổ biến và trồng khắp miền nhiệt đới Châu Á, Châu Phi. Đặc biệt ở nước ta, cây ổi mọc hoang tại nhiều vùng núi phía Bắc, nhưng phần nhiều người ta trồng lấy quả ăn.
Đặc điểm thực vật Ổi là một cây nhỡ cao chừng 3-5m cành nhỏ, lá mọc đối có cuống ngắn, hình bầu dục hơi có lông ở mặt trên, mặt dưới có lông mịn, phiến nguyên, khi soi lên có túi tinh dầu trong. Hoa màu trắng, mọc đơn độc ở kẽ lá. Quả mọng có vỏ quả giữa dày, hình dáng thay đổi tuỳ theo loài, ở đầu quả có sẹo của đài tồn tại. Rất nhiều hạt, hình thận, không đều màu hơi hung (Đỗ Tất Lợi, 2006).
Công dụng và nghiên cứu trong và ngoài nước Cây ổi là một trong những cây nhiệt đới được trồng khá phổ biến ở Việt Nam, từ vùng đồng bằng đến vùng núi trung du. Từ trước đến nay, người ta trồng ổi chủ yếu để lấy quả. Tuy nhiên, ngoài sản phẩm chính là quả, lá ổi cũng là một nguồn khá dồi dào và có nhiều tiềm năng sử dụng nhưng chưa được khai thác đúng mức. 5 Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng trong lá ổi chứa nhiều hợp chất quý có hoạt tính sinh học như: Hoạt tính chống oxi hóa, hoạt tính ức chế enzyme glucosidase, hoạt tính ức chế tyrosinase (Hui-Yin and Gow-Chin, 2007; Suganya et al., 2007; Rosa et al., 2008; Witayapan et al., 2010; Dong-Hyun et al., 2011; Nguyễn Xuân Duy và Hồ Bá Vương, 2013).
Ngoài ra, ổi rất giàu các chất chống oxy hóa, vitamin C, kali và chất xơ. Trong một số nghiên cứu, cây ổi cho thấy hoạt tính kháng khuẩn đối với vi khuẩn gây bệnh đáng kể như Staphylococcus spp., Escherichia coli, Clostridium spp. (Abdeirahirn và cs. Năm 2005, Mecks và cộng sự đã nghiên cứu ra được có hơn 20 hợp chất hoạt tính sinh học đã được chiết từ lá, thân, vỏ và rễ của cây ổi.
Lá ổi được sử dụng để điều trị tiêu chảy và đau bụng. Lá ổi đã được sử dụng ở Mỹ như là kháng sinh ở dạng thuốc bôi hoặc thuốc sắc cho vết thương, loét và đau răng (Meckes và cs. Hiện nay ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu được công bố về việc sử dụng các hợp chất từ lá ổi để kháng lại các vi khuẩn gây bệnh. Nguồn gốc và phân bố Ngải cứu còn gọi là cây thuốc cứu, cây thuốc cao, ngải điệp.
Tên khoa học Artemisia vulgar L. Thuộc họ Cúc Asteraceae (Compositae). Ngải cứu mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta mà còn thấy mọc nhiều ở nhiều nước khác ở Châu á và cả Châu Âu. Đăc điểm thực vật Ngải cứu là một loại cỏ sống lâu năm, cao 50-60cm, thân to có rãnh dọc.
Lá mọc so le, rộng, không có cuống (nhưng lá phía cuối thường có cuống), xe thuỳ long chim, màu lá ở hai mặt rất khác nhau: Mặt trên nhẵn màu lục sẫm, mặt dưới màu trắng tro do có nhiều lông nhỏ, trắng. Hoa mọc thành truỳ kép gồm rất nhiều cum hoa hình đầu) (Đỗ Tất Lợi & cs.