CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Khái quát về rau diếp cá 1. Giới thiệu Houttuynia cordata thường được gọi là giấp cá hay dấp cá, diếp cá, lá giấp, rau giấp. Dùng trong y học truyền thống Trung quốc và y học Ayurvédique khoảng 2500 năm, với nhiều hiệu quả và rất nhiều thí nghiệm khoa học hiện đại, dược tính của diếp cá cũng đã được hỗ trợ bởi những thữ nghiệm lâm sàng khác nhau, được công bố trong những năm gần đây.
Phân loại khoa học của cây diếp cá: Bảng 1.1: Phân loại khoa học của Houttuynia cordata Giới Plantae Ngành Magnoliophyta Lớp Magnoliopsida Tên khoa học: Phân lớp Magnolioliidae Houttuynia cordata Thunb Bộ Piperales Họ Saururaceae Chi Houttuynia Thunb Theo Cương mục bản thảo của Lý Thời Trân, cây giấp cá có tên Hán tự là ngư tinh thảo nghĩa là cỏ tanh mùi cá. Ngoài ra trong các sách Trung Quốc còn liệt kê một số tên khác như trấp thái, tử trấp, trấp thảo. Từ chữ trấp, người Việt đã đọc trại đi thành giấp như luật biến âm tr thành gi (ví dụ như trời = giời, tro = gio). Sách Việt Nam sưu tầm những tên sau về giấp cá: Mạnh nương thái (rau của nàng họ Mạnh), bút quản thái (rau cán bút), long tu thái (rau râu rồng), khâm thái (rau cổ áo).
Ngoài ra chúng còn có những tên đồng nghĩa sau: xú mẫu đơn (mẫu đơn hôi), xú linh 1 đan (liều thuốc hay nhưng thối), lạt tử thoả (cỏ cay), nãi đầu thảo (rau núm vú), xú thảo (cỏ hôi), kê nhĩ căn (rễ cỏ con gà). Tên tiếng Anh của rau diếp cá là heartleaf (lá hình tim), fish mint, fish herb, hay lizardtail (đuôi thằn lằn). Đặc điểm hình thái và phát triển Diếp cá là loài rau của lục địa châu Á, phân bố từ Ấn Độ qua Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, các nước Đông Nam Á. Ở Việt Nam, diếp cá mọc hoang ở chỗ ẩm ướt.
Thường được trồng làm rau ăn. Thu hái cành lá quanh năm, thường dùng tươi. Có thể phơi hay sấy khô để dùng dần. Rau diếp cá được du nhập vào Âu Châu vào khoảng 1920 trong bộ thảo tập Vườn Thực Vật Quốc Gia Anh Quốc - Kew garden.
Là một loại cỏ nhỏ, mọc quanh năm (evergreen), ưa chỗ ẩm ướt, có thân rễ mọc ngầm dưới đất. Rễ nhỏ mọc ở các đốt. Lá mọc cách (so le), hình tim, có bẹ, đầu lá hơi nhọn hay nhọn hẳn, khi vò ra có mùi tanh như mùi cá. Cây thảo cao 15–50 cm; thân màu lục hoặc tím đỏ, mọc đứng cao 40 cm, có lông hoặc ít lông.
Cụm hoa nhỏ hình bông bao bởi 4 lá bắc màu trắng, trong chứa nhiều hoa nhỏ màu vàng nhạt, trông toàn bộ bề ngoài của cụm hoa và lá bắc giống như một cây hoa đơn độc. Sự phát tán nhờ hạt và bằng cách phân chia vô phái bởi những rể ngầm dưới đất. Quả nang mở ở đỉnh, hạt hình trái xoan, nhẵn. Mùa hoa tháng 5-8, quả tháng 7-10.1: Các bộ phận của cây diếp cá A.
Hoa và quả C. Dược lý của rau diếp cá Diếp cá có tác dụng lợi tiểu, thanh nhiệt, giải độc, tiêu thũng, sát trùng. Tính chất lợi tiểu này do chất quecitrin và các chất vô cơ chưa trong diếp cá. Dung dịch có 1/100,000 phân tử lượng quecitrin vẫn còn có tác dụng lợi tiểu rất mạnh.
Chất isoquecitrin cũng có tác dụng lợi tiểu (Nhật dược chí 1936). Một ý kiến khác cho rằng những dẫn xuất của dioxyflavonol (3-4 dioxyflavonol) đều có tính chất của rutin nghĩa là tăng sức chịu đựng của huyết quản làm cho huyết quản khó đứt vỡ (Nhật chí dược 1951). Chất cocdalin có tác dụng kích thích da, gây phồng. [3] Tác dụng kháng virus Thành phần tạo nên tác dụng này là methyl nonylceton, laurylaldehyd và caprylaldehyd.
Theo Kyoko Hayashi và cộng sự, diếp cá ức chế trực tiếp các virus: Virus gây bệnh herpes chủng 1, chủng 2 (HSV-1, HSV2); Virus gây bệnh cúm và HIV chủng 1 ở người (HIV-1) mà không biểu hiện độc tính. Nhưng không thấy có tác dụng chống virus gây bệnh bại liệt polio virus và coxsackie virus. Mức độ giảm virus liên quan đến thời gian điều trị. Ba thành phần chính có tác dụng là xeton methyl n-nonyl, aldehyde capryl.
Diếp cá có tác dụng chống chủng virus HSV-2 tốt hơn chủng HSV-1. Tác dụng chống SARS Thí nghiệm trên chuột cho thấy dịch chiết nước của diếp cá kích thích sự phát triển của tế bào lympho ở lách chuột. Tác dụng của diếp cá có thể chia thành 2 giai đoạn. Khi có sự xâm nhập của virus SARS, các thành phần trong dịch chiết diếp cá có thể kích hoạt khả năng miễn dịch qua trung gian tế bào để ngăn chặn lây nhiễm virus.
Trường hợp đã nhiễm bệnh, thành phần trong dịch chiết diếp cá có thể làm chậm quá trình nhân lên của virus bằng cách ức chế enzym quan trọng tổng hợp ARN của virus SARS. Tác dụng chống ung thư máu Công trình nghiên cứu của Chang Jung-San và cộng sự, mục đích để đánh giá tác dụng chống ung thư máu của H. Cordata và Bidens pilosa. Năm dòng tế bào ung thư máu, 3 theo thứ tự là L1210, U937, K562, Raji và P3HR1 được nuôi cấy với chất chiết xuất của H.Cordata và Bidens pilosa.
Kết quả cho thấy chiết xuất từ các dược liệu trên có tác dụng ngăn chặn 5 dòng tế bào này. Công dụng và liều dùng Theo đông y, diếp cá vị cay, chua, mùi tanh, tính mát (hơi lạnh), hơi độc, tán khí, tán ứ (Kariyone & Kimure), cay vào phế kinh. Diếp cá được dùng trị bệnh trĩ, mụn nhọt, trẻ con lên sởi, viêm phổi hoặc phổi có mủ, đau mắt đỏ hoặc đau mắt do trực khuẩn mủ xanh, viêm ruột, bí tiểu tiện, kinh nguyệt không đều. Liều dùng trung bình 6 - 12 g một ngày, dùng dạng sắc hoặc bột viên.
Người dân dùng rau diếp cá trong những trường hợp tụ máu như đau mắt bằng cách giã nhỏ lá ép vào hai miếng giấy bản đắp lên mắt khi ngủ, làm như vật hai ba lần. Hoặc trong bệnh trĩ lòi dom, sắc uống nước với liều 6-12g đồng thời sắc nước lấy hơi xông rồi rửa, nhiều người dùng thấy hiệu nghiệm. Loại rau này còn dùng để trị sốt rét, co giật ở trẻ em, đau răng. Kinh nghiệm dùng rau diếp cá: rau diếp cá khô 20g, táo đỏ 10 quả, nước 600ml, sắc còn 200ml, chia làm 3 lần uống trong ngày, chữa bệnh viêm sưng tai giữa, sưng tắc tia sữa.
Ở Trung Quốc, diếp cá được dùng trong trường hợp viêm mủ màng phổi, trong thử nghiệm điều trị ung thư phổi; đắp ngoài chữa dị ứng, mẩn ngứa, mề đay, làm thuốc chữa khó tiêu và thuốc bó những chỗ bị tổn thương để kích thích sự phát triển của xương. Một hợp chất có hoạt tính kháng khuẩn đã được phân lập từ rau diếp cá và bào chế thành thuốc viên và thuốc tiêm để trị bệnh nhiễm khuẩn. Ở Nhật Bản, diếp cá được dùng trong một số chế phẩm chữa bệnh cho phụ nữ. Cả cây được coi như thuốc làm mát, tiêu độc, chữa khó tiêu và điều kinh.
Lá được dùng trị bệnh lỵ, bệnh lậu, bệnh về da, về mắt. Cao chiết từ rễ có tác dụng lợi tiểu do tác dụng của quercitrin và các muối vô cơ. Lưu ý: Những người nguyên khí hư, có chứng đau chân không nên dùng. Những người không phải thấp nhiệt và sang độc cũng không nên dùng.
Thành phần hóa học sơ bộ của cây diếp cá Toàn cây Diếp cá có chứa tinh dầu. Thành phần chủ yếu là aldehyd và dẫn xuất nhóm ceton như methyl-n-nonyl ceton, l-decanal, l- dodecanal là những chất không có tác dụng kháng khuẩn; 3oxododecanal là chất có tác dụng kháng khuẩn. Nhóm terpen: bao gồm camphen, myrcen, α-pinen, limonen, linalol,…Ngoài ra còn chứa acid caprinic, laurinaldehyd, benzamid, acidhexadecanoid, acid decanoic, acid palmetic, lipid và vitamin K. Lá Diếp cá có chứa β-sitosterol, alcaloid: cordalin và các flavonoid: afzelin, hyperin, rutin, isoquercitrin và quercitrin.
Tính theo g % như sau: Nước 91,5; protid 2,9; glucid 2,7; lipit 0,5; cellulose 1,8; dẫn xuất không protein 2,2; khoáng toàn phần 1,1. Tính theo mg %: calcium 0,3; kali 0,1; caroten 1,26; vitamin C 68.2: Công thức cấu tạo của Sesamin 5 (2) β-Sitosterol Công thức phân tử: C29H50O Nhiệt độ nóng chảy: 136 - 140 oC Tên IUPAC: 17-(5-Ethyl-6-methylhep 11,12,14,15,16,17-dodecahydro-1H-cyclopenta [a] phenanthren-3-ol. Tên khác: 22,23-Dihydrostigmasterol, Stigmast-5-en-3-ol, β-Sitosterin. β-Sitosterol là một trong số phytosterols (sterol thực vật) với cấu trúc hóa học tương tự như cholesterol.
Sitosterol có màu trắng, bột sáp với một mùi đặc trưng. Chúng kỵ nước và hòa tan trong rượu.3: Công thức cấu tạo của β-Sitosterol (3) Afzelin Công thức phân tử: C21H20O10 Tên IUPAC: 4H-1-Benzopyran-4-one, 3-((6deoxy-alpha-L-mannopyranosyl)oxy)-5,7- dihydroxy-2-(4-hydroxyphenyl). Tên khác: Kaempferol 3-rhamnoside.4: Công thức cấu tạo của Afzelin (4) Hyperin Công thức phân tử: C21H20O12 Hyperin còn gọi là Hyperoside Quercetin 3-D-galactoside; Hyperin; 2-(3,4- Dihydroxyphenyl)-3-(beta-D-galactopyranosyloxy)-5,7-dihydroxy-4H-1-benzopyran- 4-on.5: Công thức cấu tạo của Hyperin (5) Rutin Công thức phân tử: C27H30O16. Tên IUPAC: 2 - (3,4-dihydroxypheny S, 6R) -5,7-trihydroxy-3-({[ (2S, 3R, 4S, 5S, 6R)- 3,4,5-trihydroxy-6({-({[ (2R, 3R, 4R, 5R, 6S)-3,4,5-trihydroxy-6-methyloxan-2-yl] oxy} methyl) oxan-2-yl] oxy}-4H-chromen-4-on.
7 Tên khác: Rutoside, Phytomelin, … Rutin được tìm thấy trong các trái cây và quả mọng như dâu tằm, việt quất.6: Công thức cấu tạo của Rutin 6) Isoquercitrin Công thức phân tử: C21H20O12 Tên IUPAC: 2 - (3,4-dihydroxyphenyl)-5,7-dihydroxy-3-[(2S, 3R, 4S, 5R, 6R) -3,4,5- trihydroxy-6-(hydroxymethyl)oxan-2-yl]oxy-chromen-4-on. Isoquercitrin (Bioquercetin) là dạng tự nhiên của quercetin. Chúng có thể được tìm thấy thường trong táo, hành củ, trái cây và rau quả khác.7: Công thức cấu tạo của Isoquercitrin 8 (7) Quercitrin Công thức phân tử: C21H20O11 Tên IUPAC: 2 - (3,4-Dihydroxyphenyl)-5,7-3-[[dihydroxy(2S, 3R, 4R, 5R, 6S) - 3,4,5- trihydroxy-6-methyl-2- tetrahydropyranyl]oxy]-4-chromen-one. Quercitrin là một glycoside hình thành từ các flavonid quercetin và các đường deoxy rhamnose.8: Công thức cấu tạo của Quercitrin (8) Quercetin Công thức phân tử: C15H10O7 Tên IUPAC: 2-(3,4-dihydroxyphenyl)-3,5,7-trihydroxy-4H-chromen-4-one.
Nhiệt độ sôi : 316 oC Hình 1.9: Công thức cấu tạo của Quercetin 9 1. Hoạt tính sinh học đã nghiên cứu 1. Hoạt tính kháng oxy hóa Một nghiên cứu tại Viện đại học Y dược Toyama, Nhật Bản, đã cho thấy tác dụng chống oxy hóa của 12 loại dược thảo và hợp chất được chiết xuất từ chúng. Diếp cá là một trong 4 chất có tác dụng chống oxy hóa mạnh nhất.
Hợp chất quercetin của diếp cá loại trừ được các gốc tự do "cứng đầu" nhất. Hoạt tính kháng khuẩn Theo nghiên cứu của y khoa hiện đại, trong cây diếp cá có chất decanoyl-acetaldehyd mang tính kháng sinh. Loại rau này có tác dụng kháng khuẩn như ức chế tụ cầu vàng, liên cầu, phế cầu, trực khuẩn bạch hầu, e.coli, trực khuẩn lỵ, xoắn khuẩn leptospira. Chúng cũng có tác dụng đối với virus sởi, herpes, cúm và cả HIV, do tác động vào vỏ bọc protein của virus.
Diếp cá còn diệt ký sinh trùng và nấm. Theo một nghiên cứu của Đại học Y khoa Koahsiung, Đài Loan, diếp cá có tác dụng ức chế đáng kể đối với sự sinh sản của virus herpes simplex. Chúng được xem là dược thảo chữa trị bệnh này.