CHƯƠNG 1. Tổng quan về tộc người và sử thi anh hùng của các tộc người Nam Đảo và Môn Khmer ở Việt Nam 1. Các tộc người Nam Đảo và Môn Khmer ở Việt Nam Khi nghiên cứu về vấn đề tộc người, có hai tiến trình gợi cho chúng tôi nhiều lưu ý: một là tiến trình thông qua các phát minh và phát kiến, hai là tiến trình thông qua các thiết chế đầu tiên. Với hướng tìm hiểu về sử thi tộc người, mang tư cách là thể loại văn học lâu đời có sự bám sát quá trình tiến triển của các dân tộc theo nhiều ngữ hệ, chúng tôi tập trung làm rõ những vấn đề về thiết chế, bao gồm: địa bàn sinh sống, tổ chức xã hội, mô hình gia đình, nhà ở và kiến trúc, văn hóa tộc người.
Các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam Những tộc người thuộc ngữ hệ Nam Đảo bao gồm: Chăm, Ê Đê, Gia Rai, Chu Ru, Ra Glai. sinh sống chủ yếu ở vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Riêng người Chăm còn có nhiều nhóm ở vùng ven biển. Để làm rõ mối liên quan giữa đời sống thực tế và vấn đề phản ảnh qua tác phẩm sử thi, chúng tôi tập trung tìm hiểu về các tộc người có sử thi được khảo sát.
Dân tộc Ê Đê Đồng bào tự gọi mình là Anak Ê Đê, tức là “người Ê Đê”. Tộc danh này được là dùng để chỉ những người sống trong rừng tre (Eie hay Eđê) hoặc là tên gọi một vị thần tối cao trong tín ngưỡng dân gian là Ae, Die hay tên gọi chỉ “những người mới đến” từ hang đất Ađrênh ở nam Buôn Ma Thuột – theo truyền thuyết. Cho đến nay, Ê Đê là tên gọi chính thức của đồng bào, bên cạnh đó còn có những tên khác như Rađê, Rhađê, Êđê, Đê, Êđê Êgar, Mọi, Thượng hay Rơđê, nhưng ít người sử dụng. Trong lịch sử tộc người, chắc chắn dân tộc Ê Đê có sự dịch chuyển nơi cư trú.
Tuy nhiên, vùng sinh tồn chủ yếu của tộc người này xa xưa tới này vẫn là cao nguyên Đăk Lăk. Đây là một vùng rộng lớn có diện tích 19.800 km2, độ cao trung bình 500m, bề mặt bằng phẳng hoặc lượn sóng, không có đường dốc rõ rệt như các vùng miền núi khác; phía bắc giáp Gia Lai, phía đông giáp tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, phía nam giáp tỉnh Lâm Đồng, Bình Dương, phía tây giáp cộng hòa nhân dân 14 Campuchia với khoảng 240km đường biên giới. Dân số Ê Đê tăng dần qua các thời kỳ. Chỉ tính từ năm 1979 đến năm 1999 dân số tộc người này từ 140.884 người tăng lên 270.384 người, trong đó ở Đăk Lăk có 249.
Đến năm 2009, theo tổng cục điều tra dân số và nhà ở, dân số Ê Đê đã lên tới 331.194 người, tập trung tại 3 tỉnh Đăk Lăk (298.354 người), Phú Yên (20.905 người) và Đăk Nông (5. Hiện nay, người Ê Đê đứng thứ 11 về dân số trong 54 dân tộc ở Việt Nam, đông thứ hai trong năm dân tộc nói ngôn ngữ Nam Đảo ở Việt Nam, và đông thứ hai trong 12 dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên. Đăk Lăk vẫn là nơi người Ê Đê tập trung đông nhất, với 304.794 người (chiếm 92%), tiếp đó là vùng Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung, với 24. Buôn làng truyền thống của dân tộc Ê Đê cũng giống như nhiều tộc người tại chỗ ở Tây Nguyên, có một số đặc điểm như sau: 1- Mỗi làng là một đơn vị cộng cư thống nhất; 2- Mỗi làng là một cộng đồng sở hữu về lãnh thổ xác định; 3- Mỗi làng là một đơn vị tổ chức xã hội hoàn chỉnh; 4- Mỗi làng là một cộng đồng tuy không biệt lập nhưng tương đối riêng.
Bốn đặc điểm này hầu như còn nguyên vẹn cho đến tận giữa thế kỉ trước, phù hợp với điều kiện kinh tế, hoàn cảnh lịch sử, truyền thống, tâm lý, môi trường, cảnh quan. Trong xã hội truyền thống, người Ê Đê cư trú thành các buôn. Cấu trúc buôn bao gồm một nhà cộng đồng là nơi tổ chức các hoạt động sinh hoạt chung của buôn và các nhà dài là nơi cư trú của các đại gia đình mẫu hệ. Một số gia đình giàu có trước kia, ngoài những thành viên tính theo huyết thống dòng mẹ, còn có những tôi tớ.
Đó là biểu hiện sự giàu có và thế lực của gia đình. Tôi tớ gia đình thường là tù binh trong chiến tranh giữa các làng, người góa bụa, nghèo khó không nơi nương tựa, người mắc tội không có của nộp phạt, hoặc những người nợ nần không thanh toán được. Họ cùng những thành viên khác trong gia đình làm nương rẫy, các công việc trong nhà, ít khi bị đánh đập hay phân biệt đối xử. Những tôi tớ này cũng thường có vợ có chồng, con cái, và bếp riêng dưới mái nhà dài.
Nếu họ làm việc chăm chỉ, sau một thời gian, có thể trở thành những cư dân tự do. 1 Dẫn theo Vương Xuân Tình (chủ biên) (2018). Các dân tộc ở Việt Nam, tập 4 quyển 2. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sự thật.
15 Mối quan hệ giữa người Ê Đê và các dân tộc quanh vùng là mối quan hệ láng giềng, nhưng cũng còn là mối quan hệ gần gũi về văn hóa, ngôn ngữ. Ở phía Bắc, người Ê Đê có quan hệ chặt chẽ với người Gia Rai – cư dân sống tập trung ở tỉnh Gia Lai. Giống như người Ê Đê, người Gia Rai cũng thường làm nương rẫy trên những khu đất bằng ở sườn đồi hoặc ven sông suối. Hai dân tộc này có tổ chức xã hội gần như nhau, nhất là trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.
Về phía Nam địa vực cư trú của mình, người Ê Đê có nhiều mối quan hệ xã hội với các nhóm Mơ Nông. Rất nhiều yếu tố văn hóa người Ê Đê đã xâm nhập vào người Mơ Nông rất sâu sắc. Một số nhóm Mơ Nông sống trong vùng người Ê Đê đã hòa vào người Ê Đê. Ngược lại, nhiều yếu tố văn hóa của người Mơ Nông cũng đã có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống người Ê Đê, nhất là những nhóm người Ê Đê sống xen kẻ với người Mơ Nông.
Người Ê Đê có nền văn nghệ dân gian vô cùng phong phú, giàu bản sắc dân tộc. Trước hết, phải kể đến kho tàng sử thi (khan) khắc họa lịch sử của người Ê Đê nói riêng và Tây Nguyên nói chung trong quá trình đấu tranh chinh phục thiên nhiên và đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Bên cạnh sử thi, người Ê Đê còn có một kho tang truyện cổ khá phong phú gồm nhiều thể loại như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, câu đố, ngụ ngôn,… gắn với sự hình thành trời, đất và vạn vật, phản ánh về một vùng Tây Nguyên hùng vĩ, giàu chất huyền thoại. Nhắc đến văn nghệ dân gian của dân tộc Ê Đê, không thể không nhắc đến nghệ thuật cồng chiêng – một nét văn hóa nổi bậc nhất của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nói chung và người Ê Đê nói riêng.
Theo quan niệm của các già làng, cồng chiêng có thể giúp con người thông tin trực tiếp tới thần linh, với các Yang và thường được sử dụng trong các lễ hội của các buôn làng Ê Đê. Ngoài cồng, chiêng, trống, trong xã hội truyền thống của người Ê Đê còn sử dụng các loại nhạc cụ khác: đinh năm, đinh buốt klút, đinh buốt tút, brô, kni, goong… Nghệ thuật tạo hình dân gian cũng là nét đặc sắc trong văn nghệ dân gian Ê Đê. Nói đến nghệ thuật tạo hình dân gian Ê Đê truyền thống thực chất là nói đến nghệ thuật trang trí trên vải, nghệ thuật điêu khắc gỗ trang trí nhà ở và nhà mồ. Người Ê Đê quan niệm mọi sự vật, hiện tượng trong 16 cuộc sống đều có các thần linh và phần lớn họ theo tín ngưỡng đa thần.
Từ dòng sông, con suối, bầu trời, đất đai… đều có thần. Dân tộc Chăm Người Chăm ở Việt Nam thuộc chủng tộc Oceanien nhánh Indonesiens và là di duệ của giống người Mã Lai, có nguồn gốc xa xưa từ Samantra hoặc từ Java, di trú tới bán đảo Đông Dương vào giai đoạn trước thế kỉ thứ I. Ở giai đoạn gần đây hơn, một số nghiên cứu cho thấy rằng người Chăm hiện nay là sự hợp thành của hai nhóm người Lâm Ấp và người Panran, được gọi là người tiền Chăm, sự hợp nhất muộn mằn về chính trị giữa hai thị tộc Cau và Dừa. Có thể xác định sự biến thiên về dân số của dân tộc Chăm ở Việt Nam từ giữa thế kỉ thứ XX tới nay như sau: năm 2040 (thời thuộc Pháp) có 15.
Trong khoảng 70 năm, dân số người Chăm tăng hơn 10 lần, hiện nay, họ là dân tộc có số dân đông thứ 14 trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam. Ở các quốc gia láng giềng, số lượng người Chăm cũng chiếm tỉ lệ khá cao: ở Campuchia có 217.000 người, ở Malaixia có khoảng 10.000 người, ở Thái Lan có khoảng 4.000 người và khoảng 3.000 người Chăm sinh sống ở Mỹ. Người Chăm có lẽ là một trong những chủ nhân của nền văn minh lúa nước khu vực Đông Nam Á, lập quốc ở khu vực ven biển Nam Trung Bộ bao gồm đồng bằng Phan Rang, Phan Rí và Phan Thiết.2 Đời sống người Chăm chịu ảnh hưởng sâu sắc của tôn giáo. Tôn giáo chi phối hầu khắp mọi mặt của cuộc sống.
Cơ cấu tổ chức xã hội chịu sự áp chế của tôn giáo tạo nên cơ chế quản lí thần quyền. Chức sắc tôn giáo là đại diện tiêu biểu cho cộng đồng, chi phối sâu sắc cả việc đạo và đời đối với thành viên trong làng. Khoảng cuối thế kỉ thứ XIII, vương quốc Chăm bước vào thời kì khủng hoảng và dần tiến tới suy vong nên cơ cấu tổ chức xã hội Chăm có những biến động lớn. Bên cạnh đó còn nhiều nguyên nhân lịch sử khác tác động lên cộng đồng dân tộc Chăm như chiến tranh triền miên, ảnh hưởng của tôn giáo hay những dân tộc láng giềng.
Do bảo lưu chế độ xã hội mẫu hệ nên trong quan hệ thân tộc, người Chăm coi trọng 2 Dẫn theo Vương Xuân Tình (chủ biên) (2018). Các dân tộc ở Việt Nam, tập 4 quyển 2. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sự thật. 17 dòng họ bên mẹ hơn dòng họ bên cha.
Dòng họ là một đơn vị tổ chức xã hội chặt chẽ bởi nó được gìn giữ bằng mối quan hệ huyết thống và hệ thống thân tộc. Làng truyền thống của người Chăm là một cộng đồng về xã hội, có địa vực cư trú được xác định rõ rệt. Tên làng thường được gắn với tên một ngọn núi, thửa ruộng hay di tích lịch sử.