phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài bao gồm 3 chƣơng sau: Chƣơng 1: Một số cơ sở lý luận về chiến lƣợc xuất khẩu theo định hƣớng thân thiện với môi trƣờng; Chƣơng 2: Thực trạng chiến lƣợc xuất khẩu theo định hƣớng thân thiện với môi trƣờng của Tập đoàn thủy sản Minh Phú; Chƣơng 3: Kết luận rút ra và đề xuất hoàn thiện chiến lƣợc xuất khẩu theo định hƣớng thân thiện với môi trƣờng của Tập đoàn thủy sản Minh Phú. 8 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƢỢC XUẤT KHẨU THEO ĐỊNH HƢỚNG THÂN THIỆN VỚI MÔI TRƢỜNG 1. Một số khái niệm và lý thuyết có liên quan 1. Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm chiến lƣợc Chiến lƣợc là thuật ngữ bắt nguồn từ lĩnh vực quân sự, theo tiếng Hy Lạp nó có nghĩa là “Strategos”, là một thuật ngữ quân sự đƣợc dùng để chỉ kế hoạch dàn trận và phân bố lực lƣợng với mục tiêu đánh thắng kẻ thù.
Theo nhà lý luận quân sự C. Clausewitz - nhà binh pháp của thế kỷ XIX, chiến lƣợc là lập kế hoạch chiến tranh và hoạch định các chiến dịch tác chiến. Trong từ điển tiếng Việt, chiến lƣợc là các kế hoạch đặt ra để giành thắng lợi trên một hay nhiều mặt trận. Nói chung chiến lƣợc là những sách lƣợc, chiến lƣợc đƣợc ngƣời chỉ huy quân sự đề ra để giành chiến thắng trong trận đấu với kẻ thù.
Năm 1962, Chandler định nghĩa về chiến lƣợc là việc xác định các mục tiêu, mục đích cơ bản dài hạn của doanh nghiệp và việc áp dụng một chuỗi các hành động cũng nhƣ việc phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu này. Strategy and Structure. Đến những năm 1980, Quinn đã đƣa ra định nghĩa có tính khái quát hơn "Chiến lƣợc là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách, và chuỗi hành động vào một tổng thể đƣợc cố kết một cách chặt chẽ" (Quinn, J. Strategies for Change: Logical Incrementalism.
Homewood, Illinois, Irwin). Sau đó, Johnson và Scholes định nghĩa lại chiến lƣợc trong điều kiện môi trƣờng có rất nhiều những thay đổi nhanh chóng: "Chiến lƣợc là định hƣớng và phạm vi của một tổ chức về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh 9 cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trƣờng thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trƣờng và thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan" (Johnson, G. Exploring Corporate Strategy, 5th Ed. Prentice Hall Europe).
Theo cách tiếp cận kiểu mới về chiến lƣợc là phải gắn chiến lƣợc vào với những gì mà doanh nghiệp có vào trong môi trƣờng kinh doanh. Kenneth Andrew là ngƣời đầu tiên đƣa ra ý tƣởng nổi bật trong cuốn “The Concept of Corporate Strategy”, Chiến lƣợc là những gì mà một tổ chức phải làm dựa trên những điểm mạnh và điểm yếu của mình trong bối cảnh có những cơ hội và cả những mối đe dọa. The Concept of Corporate Strategy, Richard D Irwin). Bruce Henderson, chiến lƣợc gia đồng thời là nhà sáng lập Tập đoàn tƣ vấn Boston (BCG) viết rằng: Chiến lƣợc là sự tìm kiếm thận trọng một kế hoạch hành động để phát triển và kết hợp lợi thế cạnh tranh của tổ chức.
Michael Porter cũng tán đồng với nhận định của Henderson: Chiến lƣợc cạnh tranh liên quan đến sự khác biệt. Đó là việc lựa chọn cẩn thận một chuỗi hành động khác biệt tạo ra một tập hợp giá trị độc đáo so với đối thủ. Nhìn chung, dù tiếp cận theo cách nào thì bản chất của chiến lƣợc cũng là sự định hƣớng kinh doanh cho tƣơng lai của doanh nghiệp, doanh nghiệp cần phải sử dụng những gì mình có nhƣ thế nào để có đƣợc những thứ mà mình muốn. Chiến lƣợc kinh doanh cần có 3 yêu cầu cơ bản: Xác định mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp; Đƣa ra các chƣơng trình hành động tổng quát để đạt mục tiêu; Phân bổ nguồn lực thực hiện các chƣơng trình để thực hiện mục tiêu đó.2 Khái niệm chiến lƣợc xuất khẩu Theo Luật thƣơng mại 2005, điều 28 khoản 1 thì khái niệm xuất khẩu nhƣ sau: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá đƣợc đƣa ra khỏi lãnh thổ 10 Việt Nam hoặc đƣa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam đƣợc coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” Từ khái niệm xuất khẩu và khái niệm chiến lƣợc, ta có thể hiểu: Chiến lƣợc xuất khẩu là một loại chiến lƣợc kinh doanh mang tính định hƣớng của doanh nghiệp về xuất khẩu trong đó các doanh nghiệp dựa trên những ƣu thế của mình, những lợi thế so sánh của nƣớc mình so với các nƣớc khác trên thị trƣờng nƣớc ngoài để tổ chức sản xuất trong nƣớc và tiêu thụ một phần hoặc toàn bộ hàng hoá tại thị trƣờng nƣớc ngoài nhằm mục tiêu mở rộng thị trƣờng, tăng kim ngạch xuất khẩu và cuối cùng là tăng lợi nhuận.
Chiến lƣợc xuất khẩu của doanh nghiệp thực chất là một loại chiến lƣợc cấp kinh doanh mà doanh nghiệp thực hiện nhằm đạt mục tiêu mở rộng thị trƣờng, tăng khả năng tiêu thụ hàng hoá. Chiến lƣợc kinh doanh xuất khẩu có thể đƣợc hiểu nhƣ sau: Chiến lƣợc kinh doanh xuất khẩu là định hƣớng và kế hoạch tổng thể nhằm huy động các nguồn lực của doanh nghiệp để sản xuất và/hoặc huy động hàng xuất khẩu, bán và tiêu thụ hàng tại thị trƣờng nƣớc ngoài nhằm đạt mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra là tăng kim ngạch xuất khẩu, mở rộng thị trƣờng nƣớc ngoài, tăng tỷ suất lợi nhuận.3 Khái niệm chiến lƣợc xuất khẩu theo định hƣớng thân thiện với môi trƣờng Sự xuất hiện liên tục của các quy định và tiêu chuẩn mới về môi trƣờng, áp lực của các bên liên quan và sự đổi mới của công nghệ… tạo nên nhiều kịch bản cạnh tranh khác nhau xoay quanh các vấn đề môi trƣờng. Đối phó với các áp lực đó, theo đuổi chiến lƣợc kinh doanh thân thiện với môi trƣờng là lựa chọn của nhiều doanh nghiệp hiện nay. Chiến lƣợc kinh doanh thân thiện với môi trƣờng (CLKDTTMT) còn đƣợc gọi với nhiều tên khác nhau nhƣ chiến lƣợc kinh doanh xanh, chiến lƣợc 11 sinh thái, chiến lƣợc môi trƣờng (Leonidou, Fotiadis, Christodoulides, Spyropoulou, & Katsikeas, 2015).
Theo Das và các cộng sự, “CLKDTTMT đại diện cho một chiến lƣợc của doanh nghiệp hƣớng tới cả kết quả kinh doanh và môi trƣờng tự nhiên bền vững” (Das, Biswas, Abdul Kader Jilani, & Uddin, 2019). Theo đó, một công ty theo đuổi chiến lƣợc này sẽ đặt nỗ lực hạn chế ảnh hƣởng tiêu cực đến môi trƣờng từ việc sản xuất và sử dụng sản phẩm hoặc các dịch vụ của họ để đáp ứng các yêu cầu từ các bên liên quan khác nhau nhƣ chính phủ, ngƣời tiêu dùng, cộng đồng và nhiều cá nhân và nhóm liên quan khác (Banerjee, 2001; Das et al. Bên cạnh mục tiêu trách nhiệm xã hội này, việc sử dụng CLKDTTMT phần nào cũng đƣợc chứng minh là mang lại một số lợi ích để cải thiện lợi thế cạnh tranh và hiệu suất doanh nghiệp. Vì thế, tăng cƣờng áp dụng CLKDTTMT không chỉ là một phản ứng đối với yêu cầu từ các bên liên quan mà còn là động lực của công ty trong việc tăng cƣờng lợi thế cạnh tranh và hiệu suất của họ.
(Đỗ Thị Bình (2019), “Nghiên cứu mức độ chủ động trong chiến lược kinh doanh thân thiện với môi trường của các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Thƣơng Mại, Số 137+138/2020, tr. 61-62) Từ khái niệm xuất khẩu ta có thể hiểu: Chiến lƣợc kinh doanh xuất khẩu theo định hƣớng thân thiện với môi trƣờng là định hƣớng và kế hoạch tổng thể nhằm huy động các nguồn lực của doanh nghiệp để sản xuất và/hoặc huy động hàng xuất khẩu, bán và tiêu thụ hàng thân thiện với môi trƣờng tại thị trƣờng nƣớc ngoài nhằm đạt mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra là tăng kim ngạch xuất khẩu, mở rộng thị trƣờng nƣớc ngoài, tăng tỷ suất lợi nhuận và hƣớng tới môi trƣờng tự nhiên bền vững. Lý thuyết có liên quan 1. Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh 12 Michael E., Competitive Advantage, Free Press đƣa ra khái niệm lợi thế cạnh tranh là “bất cứ thứ gì một công ty có thể làm thực sự tốt so với các công ty đối thủ”.
Tức là khi một doanh nghiệp có thể làm điều mà đối thủ cạnh tranh không thể làm hoặc sở hữu điều gì mà đối thủ mong muốn, đó có thể đƣợc coi là lợi thế cạnh tranh. Lợi thế cạnh tranh có thể đƣợc chia thành nhiều loại khác nhau nhƣ: Thứ nhất, khách hàng mua hàng vì thƣơng hiệu, giá cả và chất lƣợng sản phẩm của doanh nghiệp nổi trội hơn so với đối thủ; Thứ hai, thông tin về sản phẩm của doanh nghiệp tới khách hàng có phạm vi rộng và mật độ xuất hiện nhiều hơn đối thủ; Thứ ba, sản phẩm của doanh nghiệp có sự khác biệt mà khách hàng đánh giá cao; Thứ tƣ, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ giao nhận, dịch vụ thanh toán và thái độ của nhân viên tốt hơn đối thủ; Thứ năm, năng lực quản trị tốt tạo ra các sản phẩm ngày càng tốt, rẻ và ổn định hơn. Doanh nghiệp sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm hơn đối thủ để có những bƣớc đột phá. Tuy nhiên, theo Michael Porter có hai loại lợi thế cạnh tranh cơ bản là Lợi thế chi phí và Lợi thế khác biệt Lợi thế chi phí: Lợi thế cạnh tranh tồn tại khi một công ty có thể mang lại những lợi ích tƣơng tự nhƣ các đối thủ của mình nhƣng ở mức chi phí thấp hơn.
Hay nói cách khác: Khách hàng mua hàng vì giá sản phẩm của doanh nghiệp thấp hơn đối thủ. Lợi thế khác biệt: Doanh nghiệp có thể mang lại những lợi ích vƣợt xa các sản phẩm cạnh tranh. Nói theo cách khác: Sản phẩm của doanh nghiệp có sự khác biệt mà khách hàng đánh giá cao. Lý thuyết về thể chế 13 Lí thuyết thể chế trong tiếng Anh đƣợc gọi là Institutional theory.
Lí thuyết thể chế là một trong những lí thuyết phân tích về yếu tố ảnh hƣởng đến năng suất các yếu tố tổng hợp (Total-Factor Productivity - TFP). Dựa trên quan điểm của Coelli và cộng sự (2005) về bốn thành tố ảnh hƣởng đến tăng trƣởng TFP thì có rất nhiều các lí thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm đƣợc tiến hành để phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến tăng trƣởng TFP. Các yếu tố đƣợc cho rằng ảnh hƣởng đến tiến bộ công nghệ, hiệu quả trong sản xuất, tính kinh tế theo quy mô và phân bổ hiệu quả thì sẽ làm thay đổi tổng năng suất các yếu tố của doanh nghiệp.