Chương 1: Tầm quan trọng của KCX-KCN trên địa bàn Tp. HCM và vai trò của tín dụng ngân hàng. Chương 2: Ngân hàng Liên doanh ShinhanVina và việc cung ting tin dụng cho các KCX-KCN Tp. Chương 3: Chiến lược phát triển hoạt động tín dụng của ngân hàng Liên doanh ShinhanVina trong các KCX-KCN Tp.
HCM giai đoạn 2007 - 2015. Tác giả đã nỗ lực rất nhiễu trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn một cách tốt nhất, nhưng do còn hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm và khối lượng thông tin thu thập được nên nội dung nghiên cứu của luận văn này chắc chắn không tránh khỏi một số thiếu sót nhất định. Vì vậy, rất mong nhận được sự góp ý chân thành của các thầy, cô và bạn đọc để tác giả có thể tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, chỉnh sửa nhằm làm cho luận văn được hoàn thiện hơn, có tính thực tiễn cao hơn và đặc biệt là làm cho luận văn có đủ khả năng thuyết phục được Ban lãnh đạo ngân hàng Liên đoanh ShinhanVina áp dụng vào hoạt động của ngân hàng trong thời gian sắp tới. CHUONG 1 TAM QUAN TRONG CUA CAC KCX-KCN TREN DIA BAN TP.
HCM VA VAITRO CUA TIN DUNG NGAN HANG 11 SY RA ĐỜI VÀ PHAT TRIEN CUA CAC KCN-KCX TREN DJA BAN TP.1 Lich sử ra đời và sự phát triển của KCX - KCN trên thé giới a. Lịch sử ra đời của KCX ~ KCN trên thế giới KCX-KCN thực chất là những khu vực được các nước thành lập riêng trong lãnh thổ của mình để thu hút những nhà đầu tư, kinh doanh trong và ngoài nước thông qua một số chính sách ưu đãi nhất định. Trên thế giới, mặc đù KCX-KCN bất đầu chính thức được ra đời vào năm 1956 tai Ai Len, tuy nhiên, những hình thức sơ khai của nó đã xuất hiện từ lâu, vào khoảng thế kỷ thứ 10 sau công nguyên mà khởi đầu là việc các nước La Mã cổ đại xóa bố một số rào cẩn đối với những người buôn bán tự do tại một số địa bàn tập trung mua bán đông đúc như khu cảng biển, biên giới. Sau đó lan dẫn sang các nước châu Âu (Pháp, Đức, Ý.), nó được chuyển sang một hình thức mới thông qua việc hình thành các khu vực miễn thuế, khu vực cảng biển tự do.
và đến nay, đã được phát triển ở hầu hết các nước phát triển và đang phát triển trên thế giới, đặc biệt là khu vực Châu Á. Sau một thời gian dài ra đời và phát triển, mô hình KCX-KCN đã tiến thêm một bước nữa đó là hình thành những khái niệm mới: khu công nghệ cao, đặc khu kinh tế. mà Trung Quốc là một trong những nước đã triển khai rất thành công mô hình này. [2] Sự phát triển của mô hình KCX-KCN trên thế giới có thể được chia ra làm các giai đoạn chính như sau: © Giai đoạn 1 (đầu thế kỷ thứ 10 đến thập niên 50): Giai đoạn manh nha hình thành.
Khởi đâu là việc xóa bố một số rào cần đối với những người buôn bán tự do ở La Mã, Hy lạp. Sau đồ là tại các nước châu Âu như Ý, Pháp, Đức. thể hiện thông qua hình thức hình thành khu vực miễn thuế tại các bến cảng, nơi giao thương quốc tế của các nước. ® - Gia đoạn 2(Từ thập niên 50 đến thập niên 60): Giai đoạn hình thành Hình thành khu chế xuất đẫu tiên tại Ai Len (1956), sau đó lan rộng ra một số nước Châu Mỹ và châu A, trong đó Đài Loan là nước có nhiều KCX- KCN nhất trong giai đoạn này.
« - Giai đoạn 3(:ữ thập niên 70 đến thập niên 90): Giai đoạn phát triển Sự thành công của mô hình KCX-KCN, điển hình là KCN Cao Hùng, Đài Loan đã thúc đẩy các nước trên thế giới đông loạt triển khai mô hình kinh tế này mà trong đỏ Châu Á là khu vực phát triển mạnh mẽ nhất như Hàn Quốc, Ấn Độ, Indonexia, Malaysia, Philippin. ø Giai doan 4 (từ thập niên 90 đến nay): Giai đoạn cực thịnh Những đóng góp to lớn cửa các KCX-KCN cho sự phát triển của nên kinh tế các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, đã khẳng định tính tất yếu của mô hình kinh tế này. Liên tiếp những thành công của các nước như Đài Loan, Hàn Quốc, Ấn Độ và Trung Quốc. đã dấy lên làn sóng xây dựng các KCX-KCN.
Tính đến nay đã có hơn 80 nước trên thế giới có KCX-KCN (với những tên gọi, thuật ngữ khác nhau) với hàng ngàn KCX-KCN. Tại Việt Nam, khu chế xuất đầu tiên được hình thành vào năm 1991 và đến nay đã có tổng số trên 120 KCX-KCN, khu công nghệ cao trong cả nước. Các loại hình KCX-KCN trên thế giới Từ những năm của thập niên 80, các mô hình KCX-KCN phát triển mạnh mẽ đặc biệt là ở các nước khu vực châu Á như Đài Loan, Hồng Kông, Trung Quốc và sau này là Việt Nam. Ngoài các Khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao đã từng hình thành và phát triển, sự thành công của Đặc khu kinh tế ở Thẩm Quyến, Trung Quốc là một mô hình điển hình cho các nước học tập theo.
Hiện nay, trên thế giới có các loại hình KCX-KCN cơ bản như sau: © Khu chế xuấf Là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sắn xuất hàng xuất khẩu và các hoạt động xuất khẩu. Khu chế xuất có ranh giới địa lý xác định (được ngăn cách với vùng lãnh thổ bên ngoài bằng hệ thống tường rào, có cổng và cửa ra vào) và không có dân cư sinh sống. Hàng hóa, hành lý và ngoại hối từ nước ngoài nhập khẩu vào khu chế xuất hoặc doanh nghiệp chế xuất (trực tiếp hoặc qua các cửa khẩu của nước sở tại) và từ khu chế xuất hoặc doanh nghiệp chế xuất xuất khẩu ra nước ngoài (trực tiếp hoặc qua các cửa khẩu của nước sở tại) được miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; phải chịu sự kiểm tra, giám sát về hải quan theo các quy định của pháp luật hải quan của nước sở tại. «© Khu công nghiện Là khu tập trung các doanh nghiệp KCN chuyên sẵn xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sẵn xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định (được ngăn cách với vùng lãnh thổ bên ngoài bằng hệ thống tường rào, có cổng và cửa ra vào) và không có dân cư sinh sống.
Trong khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất. « Khu công nghệ cao Là khu tập trung các doanh nghiệp công nghệ kỹ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao gồm nghiên cứu - triển khai khoa học - công nghệ, đào tạo và các dịch vụ liên quan, có ranh giới địa lý xác định. Trong khu công nghệ cao có thể có doanh nghiệp chế xuất. Mặc dù mê hình khu công nghệ cao phát triển sau các mô hình KCX-KCN nhưng nó đóng vai trò rất quan trọng giúp cho các nước đang phát triển có cơ hội tiếp cận với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật của nhân loại, tiếp nhận các quy trình công nghệ, các kỹ thuật tiên tiến để phát triển nền công nghiệp của mình.
© _ Đặc khu kính tế Hay còn gọi là khu kinh tế mở, được xây dựng trên những khu vực có quy mô rộng lớn, hoạt động mang tính tổng hợp. Các doanh nghiệp nầm trong đặc khu kinh tế được phép sản xuất, kinh doanh hâu hết các ngành nghề, dịch vụ và được phép vừa xuất khẩu, vừa tiêu thụ nội địa. Điểm khác biệt cơ bản của đặc khu kinh tế so với các KCX-KCN và khu công nghệ cao là ngoài việc các doanh nghiệp được hưởng những quy chế tự do, linh hoạt hơn thì quy chế quần lý của loại hình này cũng mang tính độc lập hơn so với chính sách quản 1ý chung của chính phủ. Thẩm Quyến của Trung Quốc là một trong những mô hình đặc khu kinh tế điển hình trên thế giới.12 Sự ra đời của KCN-KCX Tp.
Tổng quan về Tp.HCM e - Vỹ trí địa lý, văn hóa Thành phố Hề Chí Minh có diện tích 2.095 km2 —~ chiếm khoảng 0,6% điện tích của cả nước, được chia làm 24 đơn vị hành chính. Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đẳng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiển Giang. Đây là một vị trí địa lý hết sức thuận lợi để phát triển kinh tế và thực tế trong thời gian qua cũng đã cho thấy Tp. Hồ Chí Minh luôn là vùng kinh tế chiến lược và trọng điểm phía Nam.
Hỗ Chí Minh còn là nơi hội tụ của nhiễu dân tộc anh em với nhiễu sắc thái văn hóa, tín ngưỡng khác nhau góp phần tạo nên một nên văn hóa đa dạng. Chính vì vậy, từ trước đến nay, đây luôn là một thành phố đông dân nhất cả nước - chiếm khoảng 6,6 % dân số cả nước), là một thành phố phổn vinh và là một địa điểm du lịch và giao lưu văn hóa của du khách nước ngoài. [7], [16] °_ Kinh tế Về thu hút vốn đầu tử nước ngoài, Thành phố Hỗ Chí Minh là nơi thu hút vốn đâu tư nước ngoài mạnh nhất cả nước kể từ khi Luật đầu tư được ban hành. Số dự án đầu tư vào thành phố chiếm trên 30% tổng số dự án đâu tư nước ngoài trên cả nước.
Chỉ riêng năm 2005, có 258 dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép với tổng số vốn là 577 triệu USD. So với năm 2004, số dự án tăng 4,5% và vốn đầu tư tăng 43,7%. Ngoài ra còn có 145 dự án điểu chỉnh tăng vốn với tổng số vốn tăng thêm là 330 triệu USD. Tính chung cá phần vốn tăng thêm của các nhà đầu tư hiện hữu, năm 2005 tổng vốn đầu tư tăng thêm là 907 triệu USD, tăng 7,7% so với năm 2004.
[7], [16] Về kim ngạch xuất khẩu, Thành phố là trung tâm xuất nhập khẩu lớn nhất nước, kim ngạch xuất nhập khẩu của thành phố ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước. Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn đạt 12,4 tỷ USD, tăng 26,1% so với năm 2004. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước tăng 28,5%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 23,5%. [7] Về tốc độ tăng trưởng GDP, Mức tăng trưởng GDP của thành phố ngày càng tăng.
Nếu năm 2001, mức độ tăng trưởng mới chỉ ở mức 7,4% thì đến năm 2006 đã tăng lên 12,5%. Chính nhờ tốc độ tăng trưởng cao như vậy, thành phố đã đóng góp GDP lớn cho cả nước. Tỷ trọng GDP của thành phố chiếm khoảng 1/3 GDP của cả nước.