PHẦN MỞ ĐẦU _________ 1. Lý do chọn đề tài : Đồng Nai là tỉnh có tài nguyên du lịch sinh thái đa dạng, phong phú nhưng du lịch Đồng Nai vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng sẵn có mặc dù cơ cấu kinh tế của Đồng Nai đang dịch chuyển theo hướng nâng cao tỷ trọng dịch vụ và Tỉnh cũng đang quyết tâm đẩy mạnh sự chuyển dịch này theo hướng PTBV. Song song đó, ngành du lịch thế giới nói chung và ngành du lịch Việt Nam nói riêng đang ngày càng phát triển, góp phần đáng kể vào việc xóa đói giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường, trong đó nổi lên việc phát triển DLST như một công cụ hữu hiệu giúp PTBV. Trong bối cảnh như thế, tác giả nhận thấy sự cần thiết, cũng như sự thuận lợi và phù hợp khi chọn lựa đề xuất chiến lược phát triển DLST Đồng Nai theo hướng PTBV với mong mỏi kết quả nghiên cứu đề tài sẽ phần nào đóng góp được các ý tưởng, các giải pháp giúp cho việc phát triển ngành du lịch của tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới.
Mục tiêu nghiên cứu : Thu thập các dữ liệu, phân tích đánh giá các số liệu, thông tin liên quan nhằm mục đích xây dựng chiến lược phát triển DLST tại Đồng Nai giai đoạn 2008 -2015, tầm nhìn đến 2020. Nội dung nghiên cứu - Tìm hiểu DLST như một quan điểm PTBV, một sự lựa chọn hợp lý mà hiện nay nhiều quốc gia trên thế giới đang triển khai áp dụng. - Đánh giá hệ thống tài nguyên du lịch của Đồng Nai để thấy được tiềm năng phát triển DLST. - Đánh giá thực trạng phát triển du lịch Đồng Nai, phân tích xu thế phát triển du lịch nói chung và DLST nói riêng.
- Hình thành định hướng chiến lược phát triển DLST của Đồng Nai (chiến lược sản phẩm, chiến lược thị trường, chiến lược đào tạo nguồn nhân lực.) - Đề xuất, kiến nghị một số giải pháp thực hiện. Phƣơng pháp nghiên cứu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Phƣơng pháp tiếp cận và phân tích hệ thống : Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp mang tính liên ngành liên vùng. Do đó hệ thống lãnh thổ du lịch cũng bao hàm nhiều phân hệ câu tạo thành mối liên hệ đa dạng và phức tạp. Vì thế, khi tiến hành phân tích các hoạt động du lịch, tài nguyên du lịch cần có sự tiếp cận mang tính tổng thể, toàn diện, đa chiều dựa trên quan điểm hệ thống để hạn chế việc nhìn nhận vấn đề một cách phiến diện, đơn lẻ, thiếu tính kết nối, giúp nhận thức được quy luật vận động của từng phân hệ và các mối liên hệ nội tại giữa chúng để đưa ra phương hướng phát triển tối ưu.
Phƣơng pháp khảo sát thực địa : giúp cung cấp các thông tin, dữ liệu cơ bản mang tính thực tiễn qua việc khảo sát thực tế các khu điểm để từ đó hạn chế được tính chủ quan trong việc phân tích, đánh giá các nội dung cụ thể có liên quan. Để khảo sát thực địa có thể sử dụng một số hình thức như sau: quan sát trực tiếp, đếm số lượng, khảo sát. Phƣơng pháp bản đồ : ghi nhận, mô tả, phân tích, tổng hợp và nhận thức các đối tượng địa lý thông qua việc thiết lập và sử dụng bản đồ, biểu đồ. Nghiên cứu bằng bản đồ giúp phản ánh những đặc điểm không gian phân bố các nguồn tài nguyên du lịch, kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch; đồng thời tạo ra cơ sở để phân tích và phát hiện các quy luật hoạt động của hệ thống lãnh thổ du lịch, từ đó xác định phương hướng phát triển và tổ chức quy hoạch không gian du lịch.
Phƣơng pháp cân đối kinh tế : tính toán lập kế hoạch phát triển, dự báo hệ thống các chỉ tiêu và thiết lập sự cân đối cung cầu về các mặt : cân đối giữa tiềm năng du lịch và nhu cầu tham quam quan của du khách; cân đối giữa nhu cầu của du khách với khả năng cung ứng dịch vụ về kết cấu hạng tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch; cân đối ngân sách đầu tư cho phát triển du lịch; cân đối nguồn nhân lực du lịch. Phƣơng pháp phân tích xu thế : dựa vào quy luật vận động của sự vật trong quá khứ và hiện tại để suy ra xu hướng phát triển trong tương lai. Phương LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 pháp này được sử dụng để đưa ra dự báo về các chỉ tiêu phát triển và có thể được mô hình hóa bằng các phương pháp toán học. Phƣơng pháp phân tích SWOT : là một công cụ rất hữu dụng cho việc nắm bắt và ra quyết định thông qua việc phân tích điểm mạnh (Strengths), điểm yếu (Weaknesses) bên trong và cơ hội (Opportunities), thách thức (Threats) bên ngoài đối tượng nghiên cứu.
SWOT cung cấp một công cụ phân tích chiến lược, rà soát và đánh giá vị trí, định hướng của một ngành, một tổ chức, một công ty hay của một đề án kinh doanh một cách có hệ thống nhằm giúp phân loại lựa chọn các chiến lược, chiến thuật phát triển phù hợp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN ___________ 1. Một số khái niệm cơ bản về du lịch 1.1 Tài nguyên du lịch sinh thái 1. Khái niệm Tài nguyên là tất cả các dạng vật chất, tri thức được sử dụng để tạo ra của cải vật chất hoặc tạo ra giá trị sử dụng mới phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của con người.
Hiểu theo nghĩa này, tài nguyên là khái niệm rất rộng bao gồm đất, nước, rừng, biển, khoáng sản, năng lượng, khí hậu, cảnh quan, di sản văn hóa kiến trúc, thông tin. Tài nguyên là đối tượng sản xuất của con người. Xã hội loài người càng phát triển, số loại hình tài nguyên và số lượng mỗi loại tài nguyên được con người khai thác hoặc tạo ra ngày càng tăng. Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung.
Có thể hiểu đơn giản tài nguyên du lịch đề cập tới các loại tài nguyên có tiềm năng, giá trị khai thác du lịch. Đó chính là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, DTLS - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch. Có hai loại tài nguyên du lịch : - Tài nguyên du lịch thiên nhiên bao gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, HST, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. - Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, DTLS, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.
Tài nguyên DLST là bộ phận quan trọng của tài nguyên du lịch bao gồm các giá trị tự nhiên thể hiện trong một HST cụ thể và các giá trị văn hóa bản địa tồn tại và phát triển không tách rời HST tự nhiên đó. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Tuy nhiên, không phải mọi giá trị tự nhiên và văn hóa bản địa đều là tài nguyên DLST mà chỉ các thành phần và các thể tổng hợp tự nhiên, các giá trị văn hóa bản địa gắn với một HST cụ thể được khai thác, sử dụng để tạo ra các sản phẩm DLST, phục vụ cho mục đích phát triển DLST mới được xem là tài nguyên DLST. Văn hóa bản địa là các giá trị về vật chất và tinh thần được hình thành trong quá trình phát triển của một cộng đồng dân cư, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa thế giới tự nhiên và con người trong không gian của một HST tự nhiên cụ thể. Văn hóa bản địa là một bộ phận cấu thành của đa dạng sinh học (ĐDSH).
Tài nguyên DLST mang một số đặc trưng như sau : - Tính phong phú, đa dạng : là một bộ phận của tài nguyên du lịch chủ yếu được hình thành từ tự nhiên mà bản thân tự nhiên lại rất đa dạng phong phú nên tài nguyên DLST cũng có đặc điểm này. - Tính nhạy cảm : tài nguyên DLST được hình thành trên cở sở các HST tự nhiên, sự ĐDSH mà các hợp phần này lại rất nhạy cảm với các tác động của con người nên việc sử dụng, khai thác tài nguyên DLST phải rất chú trọng đến công tác bảo tồn, gìn giữ môi trường tự nhiên. - Thời gian khai thác khác nhau : trong các loại tài nguyên DLST, có loại có thể khai thác quanh năm nhưng cũng có loại mà việc khai thác phụ thuộc ít nhiều vào thời vụ. Sự phụ thuộc này chủ yếu dựa vào quy luật diễn biến của khí hậu, mùa di trú, sinh sản của các loài sinh vật.
- Xa khu dân cư và được khai thác tại chỗ để tạo ra sản phẩm du lịch (SPDL): tài nguyên DLST thường xa khu dân cư, chúng có nguy cơ bị suy giảm, biến mất do tác động trực tiếp của con người. Chẳng hạn, người dân chặt cây rừng, săn bắn bừa bãi để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống. Việc thưởng thức SPDL sinh phải cũng tương tự SPDL nói chung, phải được diễn ra tại chỗ. Ví dụ, du khách phải đến tận nơi mới có thể quan sát được một hệ thực vật đặc trưng.
- Khả năng tái tạo và sử dụng lâu dài : phần lớn các tài nguyên DLST đều có khả năng phụ hồi tái tạo. Điều này có được là do bản chất tự nhiên của các tài nguyên DLST vốn dựa trên nền tảng là các tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 thực tế cho thấy, nhiều loài quý hiếm có thể bị hủy diệt, dẫn đến tuyệt chủng do những tai biến tự nhiên hoặc do các tác động của con người. Hệ sinh thái "HST là hệ thống các quần thể sinh vật sống chung và phát triển trong một môi trường nhất định, quan hệ tương tác với nhau và với môi trường đó".
Theo độ lớn, HST có thể chia thành HST nhỏ (bể nuôi cá), HST vừa (một thảm rừng, một hồ chứa nước), HST lớn (đại dương). Tập hợp tất cả các HST trên bề mặt trái đất thành một HST khổng lồ sinh thái quyển (sinh quyển). HST bao gồm hai thành phần: vô sinh (nước, không khí,.) và sinh vật.