CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến phát triển doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân 1. Nghiên cứu về phát triển doanh nghiệp và vai trò của doanh nghiệp Nghiên cứu về lý thuyết phát triển doanh nghiệp và đặc trưng doanh nghiệp Có nhiều dòng lý thuyết khác nhau luận giải sự ra đời và phát triển của các doanh nghiệp. Nghiên cứu phổ biến giải thích sự ra đời, phát triển doanh nghiệp bao gồm tiếp cận từ góc độ hành vi và quản lý (Baumol, W., 1967), từ góc độ tổ chức ngành hiện đại (Tirole, J., 1988), từ góc độ quyền tài sản (Williamson, O., 2002; 2009), và gần đây nhất, nghiên cứu của Barney, J.
Lý thuyết doanh nghiệp dựa trên nguồn lực RBF nghiên cứu sự phát triển của doanh nghiệp dựa trên cách thức doanh nghiệp xây dựng các nguồn lực và cách thức doanh nghiệp tạo ra nguồn lực. Nghiên cứu của Barney, J. và cộng sự (2007), Barney, J. và cộng sự (2011) luận giải “tại sao duy trì kết quả hoạt động kinh doanh của một số doanh nghiệp có thể tốt hơn những doanh nghiệp khác trong một thời gian dài, đó chính là sản phẩm của hoạt động xây dựng và duy trì lợi thế cạnh tranh - sáng tạo ra nhiều giá trị kinh tế hơn so với đối thủ cạnh tranh cận biên trên thị trường”.
Dựa trên giả thiết rằng các nguồn lực mang tính chiến lược phân bổ không đồng đều giữa các doanh nghiệp và sự khác biệt đó được duy trì theo thời gian, Barney, J. (1991) đã luận giải mối quan hệ giữa các nguồn lực của doanh nghiệp và sự duy trì lợi thế cạnh tranh. Các nguồn lực đó có thể chia thành ba nhóm là: (i) Các nguồn vốn vật chất (kế thừa Williamson, O. Nguồn vốn vật chất bao gồm máy móc thiết bị, nhà xưởng, vị trí sản xuất và quyền tiếp cận đối với các nguyên liệu đầu vào của sản xuất, gia tăng nguồn vốn vật chất giúp doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất.
Nguồn vốn con người bao gồm lực lượng lao động trong doanh nghiệp. Sự thay đổi về quy mô lao động của doanh nghiệp phản ánh sự phát triển mở rộng và hoặc/thu hẹp về quy mô của doanh nghiệp. Nguồn vốn vật chất và nguồn vốn con người có mối quan hệ tỷ lệ thuận, theo đó sự gia tăng của nguồn vốn vật chất đòi hỏi có sự gia tăng của nguồn vốn con người. Mối quan hệ đó phản ánh sự kế thừa của các lý thuyết kinh tế học, cụ thể là 14 các mô hình tăng trưởng Harrod-Domar và mô hình tăng trưởng Solow.
Nguồn vốn tổ chức nhấn mạnh nhiều hơn vào cấu trúc doanh nghiệp, bao gồm cả cấu trúc quản lý doanh nghiệp và mối quan hệ giữa các bộ phận trong doanh nghiệp và mối quan hệ giữa doanh nghiệp đó với các doanh nghiệp khác (theo ngành kinh tế, theo khu vực địa lý. Khác với nghiên cứu doanh nghiệp theo hình thức chuỗi giá trị của Porter (1985), J. Barney (1991) và các nghiên cứu theo dòng lý thuyết này luận giải lợi thế so sánh của doanh nghiệp có được trên thị trường sản phẩm bắt nguồn từ lợi thế của doanh nghiệp có được trên thị trường các yếu tố sản xuất. Tuy nhiên, không phải mọi nguồn lực này đều mang tính chiến lược và có ảnh hưởng đến việc xây dựng và duy trì lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Các nguồn lực mang tính chiến lược là những nguồn lực giúp doanh nghiệp thu được lợi nhuận siêu ngạch (rent). Trong số các nguồn lực đó, phải kể đến nguồn vốn vật chất là máy móc thiết bị công nghệ., (2008), dựa trên lý thuyết nguồn lực doanh nghiệp, các doanh nghiệp thường thực hiện 2 chiến lược căn bản là: “(i) trong ngắn hạn, khai thác tối đa hiệu quả của các nguồn lực hiện có; (ii) trong dài hạn, khám phá và thâu tóm những nguồn lực chiến lược mới nhằm duy trì vị thế tạo ra lợi nhuận siêu ngạch. Nâng cấp nguồn vốn vật chất (máy móc thiết bị công nghệ, năng lực R&D, năng lực công nghệ.) là một trong những phương thức giúp doanh nghiệp duy trì khác biệt về nguồn vốn vật chất, giúp doanh nghiệp tạo ra những lợi thế so sánh mới, duy trì lợi nhuận siêu ngạch và lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp trong ngành”. Theo lý thuyết này, trong đa số các ngành kinh tế, các nguồn lực có tính không đồng nhất và có tính cố định.
Nếu các nguồn lực mang tính đồng nhất và tính di động, có nghĩa là nhiều doanh nghiệp (trong cùng một ngành) cùng có các nguồn lực giống nhau và vì thế sẽ có chung cùng một cách thức xây dựng và triển khai chiến lược cạnh tranh. Khi đó, không doanh nghiệp nào có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh để phát triển. Liên quan đến đặc trưng của doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân, nhiều nghiên cứu lý thuyết đã xác định doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân được sở hữu, kiểm soát bởi các cá nhân và không có sự tham gia của Chính phủ vào hoạt động của họ. Động lực chính của các hoạt động của doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân là tìm kiếm lợi nhuận (Soumya Singh, 2012).
Đặc điểm chính bao gồm: (i) Quyền sở hữu và kiểm soát bởi tư nhân: Một doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân là hoàn toàn thuộc sở hữu và kiểm soát bởi các cá nhân. Nó có thể được sở hữu bởi một cá nhân hoặc bởi một nhóm các cá nhân cùng nhau. Khi sở hữu bởi một người, nó được gọi là công ty tư nhân. Một nhóm người có thể cùng sở hữu công ty dưới hình thức công ty liên doanh, công ty hợp danh, công ty cổ phần.
15 (ii) Hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận: Mục tiêu chính của các hoạt động của doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân là tạo ra lợi nhuận. Lợi nhuận để để bù đắp cho rủi ro trong quá trình sản xuất kinh doanh và lợi tức bắt buộc đối với vốn đầu tư của doanh nghiệp. (iii) Không có sự tham gia của Nhà nước: Không có sự tham gia của Chính phủ hoặc Nhà nước trong việc sở hữu và kiểm soát các hoạt động của doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân. (iv) Tài chính của doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân: Vốn của một doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân được bố trí bởi chủ sở hữu của nó.
Trong trường hợp hợp tác kinh doanh, vốn được góp bởi các đối tác đầu tư. Công ty cổ phần tăng vốn bằng phát hành cổ phiếu và trái phiếu. Một doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân cũng có thể tăng vốn vay để đáp ứng các nhu cầu dài hạn và ngắn hạn cho các quỹ. (v) Độc lập trong quản lý và điều hành: Một doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân do chủ sở hữu độc lập quản lý.
Trong trường hợp công ty có một chủ sở hữu và hợp danh thì chủ sở hữu trực tiếp quản lý công ty. Việc quản lý công ty cổ phần nằm trong tay các giám đốc là đại diện và được bầu bởi các cổ đông của công ty Nghiên cứu về vai trò của doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân Các nghiên cứu về vai trò của doanh nghiệp khu vực KTTN đối với nền kinh tế cho rằng KTTN có vai trò và ảnh hưởng quan trọng đối với xã hội và kinh tế, là một phần quan trọng trong quá trình phát triển, đóng góp và giữ vai trò quan trọng trong lĩnh vực như: tăng trưởng, xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm và cải thiện điều kiện sống, an ninh lương thực, cung cấp dịch vụ một cách hiệu quả, môi trường bền vững và đóng góp thuế vào ngân sách. Khu vực KTTN được đánh giá là một bộ phận không thể thiếu trong cuộc chiến với đói nghèo và hứa hẹn đóng góp mạnh mẽ cho phát triển bền vững kinh tế - xã hội (Mac Sweeney, 2008; Hameed & Mixon, 2013; Haider, 2014). Vai trò trong tăng trưởng kinh tế: Theo Australia Government, 2014, khu vực KTTN là động lực để tăng trưởng ở bất kỳ quốc gia nào, vai trò thể hiện: “(i) Tạo ra 90% việc làm; (ii) Tài trợ hơn 60% đầu tư vào các nước đang phát triển; (iii) Đóng góp hơn 80% ngân sách của chính phủ ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình thông qua thuế thu nhập doanh nghiệp, tiền thuê tài nguyên và thuế thu nhập cho nhân viên; (iv) Cung cấp một bộ phận ngày càng tăng các dịch vụ thiết yếu như ngân hàng, viễn thông, y tế và giáo dục; (v) Phát minh, thiết kế và sản xuất hầu hết các hàng hoá và dịch vụ mà người nghèo sử dụng và thúc đẩy nền kinh tế; (iv) Là nhà sản xuất xuất khẩu chiếm ưu thế trong hầu hết mọi nền kinh tế”.
Theo Ủy ban châu Âu, 2017, khu vực kinh tế tư nhân là động lực thúc đẩy tăng trưởng và tạo việc làm, đóng góp tới 84% GDP và 90% việc làm ở các quốc gia đang phát triển. 16 Nghiên cứu Willibold Frehner (2005) cho rằng “các DNVVN là chủ thể thích hợp và đáng tin cậy cho sự phát triển kinh tế Việt Nam. DNVVN chính là một nhân tố năng động trong tạo việc làm, tạo thu nhập, tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và giảm đói nghèo”. Nguyễn Đình Luận (2015), với “Vai trò kinh tế tư nhân với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam” đã phân tích vai trò của kinh tế tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trên bốn góc độ chính là: (i) góp phần khơi dậy một bộ phận quan trọng tiềm năng của đất nước, tăng nguồn nội lực, tham gia phát triển kinh tế quốc dân; (ii) đóng góp quan trọng vào việc thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế; (iii) góp phần thu hút một bộ phận lớn lực lượng lao động và đào tạo nguồn nhân lực mới cho thị trường lao động; và (iv) góp phần thúc đẩy đất nước hội nhập kinh tế quốc tế.
Vũ Hùng Cường và cộng sự (2016) cho rằng “nhận thức về vai trò của khu vực kinh tế tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế và phát triển của Việt Nam đã có những cải thiện. Tuy nhiên, vẫn tồn tại những rào cản đối với việc tiếp cận nguồn lực sản xuất đối với các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân đã hạn chế sự phát triển của doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân thời gian qua”. Elango Rengasamy (2016) trong “Doanh nghiệp nhỏ và vừa!